Bản án về tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn, nuôi con số 269/2022/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 269/2022/HNGĐ-ST NGÀY 28/09/2022 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH, LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 28 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 553/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2022 về tranh chấp hôn nhân gia đình “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 473/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 478/2022/QĐST- HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Đinh Văn B, sinh năm 1988; Nơi cư trú: 258 tổ 25 ấp LH, thị trấn CM, huyện, tỉnh An Giang. Có mặt.

2. Bị đơn: Bà Mai Thị V, sinh năm 1984; Nơi cư trú: 122 ấp PT 1, xã KA, huyện, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn anh Đinh Văn B trình bày: anh và chị V quen biết tìm hiểu và đi đến hôn nhân năm 2004, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, khi vợ chồng cưới xong thì sinh sống ở nhà bên cha mẹ vợ. Sau đó vợ chồng đi Bình Dương làm khoảng 7 năm thì phát sinh mâu thuân do tính tình vợ chồng không phù hợp hay cự cải, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mỗi lần cự cải là chị V đuổi anh đi, vợ chồng không còn chung sống với nhau từ đầu năm 2022 cho đến nay, gia đinh hai bên không có hàn gắn cho vợ chồng. Nhận thấy tình cảm không còn yêu cầu được ly hôn với chị Mai Thị V.

Về quan hệ con chung có 01 con chung tên Đinh Thành T, sinh ngày 16/9/2006. Hiện con chung anh B đang nuôi dưỡng, khi ly hôn yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Bị đơn chị Mai Thị V đã được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gởi đến Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định. Về ý kiến giải quyết vụ án: Về hôn nhân: anh B và chị V kết hôn năm 2004, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vợ chồng sống chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và không còn chung sống với nhau khoảng 4 tháng, nhận thấy tình cảm không còn, anh B yêu cầu ly hôn; về con chung vợ chồng có 01 con chung tên Đinh Thành T, sinh ngày 16/9/2006 hiện đang sống với anh B; khi ly hôn anh B yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, anh B không yêu cầu chị V phải cấp dưỡng nuôi con chung; chị V không có ý kiến phản hồi và không tạo điều kiện cho nhau để hàn gắn hạnh phúc vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc anh B xin ly hôn với chị V và cháu Tân có ý kiến là nguyện vọng muốn sống với anh B nghĩ nên anh B được tiếp tục nuôi con chung là phù hợp Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn có nơi cư trú tại xã KA, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham gia phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2].Về nội dung tranh chấp: Anh B và chị V kết hôn năm 2004 có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Theo anh B trình bày, trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không hợp tính nhau, thường xuyên cải nhau, mỗi lần cự cãi là chị V đuổi anh B nên không còn chung sống với nhau. Nhận thấy, tình cảm không còn, anh B yêu cầu ly hôn với chị V. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc anh B yêu 2 cầu ly hôn và triệu tập chị V tham gia các phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa, nhưng chị V vẫn vắng mặt và không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của của anh B. Xét thấy, mâu thuẫn giữa anh B, chị V nguyên nhân do bất đồng quan điểm dẫn đến tình cảm vợ chồng mâu thuẫn hay cự cãi và không còn chung sống với nhau. Trong thời gian này, hai bên cũng không tạo điều kiện cho nhau hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh B xin ly hôn chị V.

[3] Về quan hệ con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Đinh Thành T, sinh ngày 16/9/2006, hiện đang sống với anh B. Khi ly hôn anh B yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nguyện vonbgj cháu Tân cũng mong muốn được tiếp tục chung với với anh B. Xét thấy, từ khi vợ chồng không còn sống chung với nhau, cháu Tân do anh B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cuộc sống đã ổn định, trong quá trình giải quyết chị V cũng không có ý kiến phản đối việc anh B yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung. Do đó, để anh B tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là phù hợp với pháp luật, chị V không phải cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về quan hệ tài sản chung: không có.

[5] Về quan hệ nợ chung: không có.

[6] Án phí hôn nhân sơ thẩm: Anh B phải chịu là 300.000đ.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đinh Văn B xin ly hôn với chị Mai Thị V.

Giấy chứng nhận kết hôn số 21, ngày 25 tháng 02 năm 2010 do Ủy ban nhân dân thị trấn Chợ Mới, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp không còn giá trị pháp lý.

- Về quan hệ con chung: anh Đinh Văn B được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Đinh Thành T, sinh ngày 16/9/2006, chị Mai Thị V không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Đinh Văn B cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

- Về quan hệ tài sản chung: các bên không yêu cầu giải quyết.

- Về quan hệ nợ chung: Không có. Ghi nhận việc anh B xác định không có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có người khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì anh B, chị V phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, anh Đinh Văn B phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu số 0004750 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 15/6/2022.

Báo cho các bên đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng chị V được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

40
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn, nuôi con số 269/2022/HNGĐ-ST

Số hiệu:269/2022/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chợ Mới - An Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 28/09/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về