Bản án về tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, tiền lương số 885/2023/LĐ-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 885/2023/LĐ-PT NGÀY 25/08/2023 VỀ TRANH CHẤP ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG, TIỀN LƯƠNG

Trong ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai Vụ án thụ lý số 38/2023/TLPT-LĐ ngày 20 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, tiền lương”.

Do Bản án lao động sơ thẩm số 11920/2023/LĐ-ST ngày 21 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2841/2023/QĐPT-LĐ ngày 13 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10496/2023/QĐPT-LĐ ngày 8 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

Ông Nguyễn Hữu P; sinh năm: 1985; Địa chỉ: B Chung cư T, Số B đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Phạm Thị Quế T; sinh năm: 1995; địa chỉ: Tầng C, số B K, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền lập ngày 11/11/2019); Có mặt.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Kiều Anh V; là Luật sư của Công ty L, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; Vắng mặt.

Bị đơn:

Công ty TNHH C; Địa chỉ: C Đường C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông Lê Bảo T1 - Chức danh: Giám đốc; sinh năm: 1986; địa chỉ: B đường C, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Có mặt;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Hoàng Văn S; sinh năm: 1970; là luật sư của Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; địa chỉ: B đường C, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Có mặt.

3. Người kháng cáo: Nguyên đơn là ông Nguyễn Hữu P và bị đơn là Công ty TNHH C.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Đơn khởi kiện; bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Hữu P có người đại diện theo ủy quyền là bà Phạm Thị Quế T trình bày:

Ngày 20/7/2014, ông Nguyễn Hữu P và Công ty TNHH C (từ đây gọi tắt là Công ty C) ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn, với chức danh chuyên môn là giám đốc kỹ thuật, tổng mức lương là 28.000.000 đồng. Từ ngày 01/01/2018, ông P được Công ty tăng lương (không ra Quyết định) lên 40.000.000 đồng/tháng, việc trả lương thông qua hình thức chuyển khoản ngân hàng.

Ngày 19/11/2018, các thành viên của Công ty C là ông Lê Bảo T1 - Giám đốc, ông Lê H - Chủ tịch Hội đồng thành viên, ông Phạm Thái B - Giám đốc điều hành đã mời ông P tham dự cuộc họp. Trong cuộc họp ông T1, ông H và ông B đã đưa ra cho ông P 02 lựa chọn: (1) ông P phải tự xin nghỉ việc; (2) ông P vẫn ở lại làm việc nhưng không còn giữ chức vụ giám đốc kỹ thuật theo Hợp đồng lao động, không còn nằm trong ban giám đốc, giảm lương từ 40.000.000 đồng xuống 30.000.000 đồng và chỉ được giữ 10% vốn góp trong Công ty C, ông P sẽ tiếp tục làm việc với vai trò nhân viên kỹ thuật, thời gian thử thách là 01 năm, nếu sau 01 năm ông T1, ông H, ông B xem xét thấy công việc hiệu quả thì ông P sẽ được phục hồi chức danh, mức lương, phần vốn góp như cũ. Sau cuộc họp, các tài khoản làm việc của ông P tại Công ty đã bị ngăn chặn, không cho ông P đăng nhập vào.

Việc lãnh đạo Công ty ép ông P phải lựa chọn 01 trong 02 phương án nêu trên là hoàn toàn trái pháp luật, không đúng quy định về điều chuyển người lao động làm công việc khác nên ông P không chấp nhận.

Ngày 28/11/2018, ông Lê Bảo T1 - Giám đốc đã chính thức gửi email cho ông P nghỉ việc với nội dung:

“1. P nhận được tiền lương tháng 11 (tương ứng số ngày làm việc) là đến ngày 19/11/2018. H sẽ chuyển khoản vào cuối tháng này.

2. Phước bàn giao tất cả các dự án, thông tin liên hệ với khách hàng cũng như tất cả tài sản liên quan đến Công ty sớm nhất có thể. Thành/Báo sẽ liên hệ 01 ngày làm việc thuận tiện và sớm nhất có thể.

3. P sẽ hỗ trợ trong việc thay đổi trong Giấy phép kinh doanh (nếu có) và từ hôm nay (28/11/2018) P sẽ không còn là thành viên góp vốn trong công ty cũng như chính thức nghỉ việc tại J.

4. P sẽ nhận được tiền bồi thường 2 tháng (80.000.000 đ - Tám mươi triệu đồng) sau khi đã thực hiện đầy đủ các việc ở Điều 2 và Điều 3 bên trên.

5. P sẽ có nhiệm vụ bảo mật tất cả thông tin liên quan đến công ty và chịu trách nhiệm nếu tiết lộ cho các bên thứ 3 các điều gây ảnh hưởng đến Janeto.

Đây là 5 điều mà chúng ta đã thống nhất, P xem qua và trả lời email này càng sớm càng tốt.” Ông P đã phản hồi không đồng ý với nội dung email mà ông Lê Bảo T1 đã gửi cho ông P.

Công ty C chưa hoàn thành thủ tục xác nhận bảo hiểm xã hội và hoàn trả số bảo hiểm xã hội cho ông P.

Nguyên đơn yêu cầu, Công ty C phải thực hiện các nghĩa vụ khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật đối với ông Nguyễn Hữu P:

- Hoàn thành thủ tục xác nhận bảo hiểm xã hội và hoàn trả số bảo hiểm xã hội cho ông P.

- Bồi thường cho ông P tổng số tiền là 2.283.784.727 đồng, trong đó:

+ Tiền lương những ngày ông P đã làm việc nhưng chưa thanh toán từ ngày 01/11/2018 đến ngày 19/11/2018 (13 ngày làm việc) là 40.000.000 đồng/22 x 13 = 23.636.364 đồng;

+ Tiền lương những ngày ông P không được làm việc từ ngày 28/11/2018 đến ngày 30/11/2018 (03 ngày) là 40.000.000 đồng/22 x 13 = 5.454.545 đồng;

+ Tiền lương những ngày ông P không được làm việc từ ngày 01/12/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm (52 tháng 10 ngày) là (40.000.000 đồng x 52) + (40.000.000 đồng/22 x 10) = 2.098.181.818 đồng;

+ 02 tháng tiền lương là 80.000.000 đồng;

+ Tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày ông P không được làm việc mà Công ty C chưa đóng cho ông P tính từ ngày 01/12/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm (16 tháng) là 21,5% x 4.800.000 đồng x 16 = 16.512.000 đồng;

+ Khoản tiền tương ứng với tiền lương những ngày ông P không được Công ty C thông báo trước về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là 60.000.000 đồng.

Trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn - Công ty TNHH C có ông Lê Bảo T1 là người đại diện theo pháp luật trình bày:

Công ty C được thành lập trên cơ sở 04 thành viên góp vốn, gồm: Lê Bảo T1, Lê H, Phạm Thái B và Nguyễn Hữu P; vốn góp chia làm 04 phần bằng nhau. Ngày 05/5/2015, Công ty có ký hợp đồng lao động với ông P, thời hạn 36 tháng, từ ngày 05/5/2015 đến ngày 05/5/2018, với mức lương là 3.500.000 đồng, mức lương này được tăng hàng năm theo quy định của pháp luật. Thực chất hợp đồng này chỉ để làm căn cứ đóng bảo hiểm. Công ty C không ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông P, mà ông P tự nghỉ việc không thông báo cho Công ty C, Công ty C vẫn đóng bảo hiểm cho ông P đến tháng 11/2021 là do hợp đồng lao động chỉ để làm căn cứ đóng bảo hiểm cho các thành viên sáng lập. Ông P là 01 trong những thành viên sáng lập Công ty, theo điều lệ Công ty thì các thành viên Công ty chỉ được chia lợi nhuận chứ không hưởng lương, làm việc vì sự tồn tại và phát triển của Công ty để hưởng lợi nhuận, phân công mỗi thành viên làm 01 chức vụ. Công ty không trả lương cho ông P qua tài khoản ngân hàng.

Về nội dung thư (mail) ngày 28/11/2018, ông Lê Bảo T1 gửi cho ông P là việc trao đổi giữa các thành viên Công ty với ông P, với nội dung ông P chấm dứt tư cách thành viên Công ty và chuyển tên cho thành viên khác, ông P sẽ nhận được một khoản tiền, tiền này là tiền vốn góp của ông P và tiền sáng lập Công ty, nhưng các bên vẫn chưa thỏa thuận xong.

Đối với hợp đồng lao động ký ngày 20/7/2014 nguyên đơn cung cấp là hợp đồng lao động giả, Công ty làm cho ông P để ông P xin visa sang N. Công ty không giữ sổ bảo hiểm của ông P và Công ty đã chốt sổ bảo hiểm xã hội cho ông P. Quan hệ tranh chấp trong vụ án này không phải là tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà phải là tranh chấp giữa các thành viên Công ty.

Do đó, bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại Bản án lao động sơ thẩm số 11920/2023/LĐ-ST ngày 21 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu P, về việc Công ty TNHH C phải thực hiện các nghĩa vụ khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật đối với ông Nguyễn Hữu P:

- Hoàn thành thủ tục xác nhận bảo hiểm xã hội và hoàn trả sổ bảo hiểm xã hội cho ông P.

- Bồi thường cho ông P tổng số tiền là 2.283.784.727 đồng, trong đó:

+ Tiền lương những ngày ông P đã làm việc nhưng chưa thanh toán từ ngày 01/11/2018 đến ngày 19/11/2018 (13 ngày làm việc) là 40.000.000 đồng/22 x 13 = 23.636.364 đồng;

+ Tiền lương những ngày ông P không được làm việc từ ngày 28/11/2018 đến ngày 30/11/2018 (03 ngày) là 40.000.000 đồng/22 x 03 = 5.454.545 đồng;

+ Tiền lương những ngày ông P không được làm việc từ ngày 01/12/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm (52 tháng 10 ngày) là (40.000.000 đồng x 52) + (40.000.000 đồng/22 x 10) = 2.098.181.818 đồng;

+ 02 tháng tiền lương là 80.000.000 đồng;

+ Tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày ông P không được làm việc mà Công ty TNHH C chưa đóng cho ông P tính từ ngày 01/12/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm (16 tháng) là 21,5% x 4.800.000 đồng x 16 = 16.512.000 đồng;

+ Khoản tiền tương ứng với tiền lương những ngày ông P không được Công ty TNHH C thông báo trước về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là 60.000.000 đồng.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu P về việc yêu cầu Công ty TNHH C phải trả tiền lương những ngày ông P đã làm việc nhưng chưa được thanh toán từ ngày 01/11/2018 đến ngày 19/11/2018 (13 ngày làm việc).

Buộc Công ty TNHH C phải trả tiền lương cho ông Nguyễn Hữu P những ngày ông P đã làm việc nhưng chưa được thanh toán từ ngày 01/11/2018 đến ngày 19/11/2018 (13 ngày làm việc) là 2.659.090 (hai triệu sáu trăm năm mươi chín ngàn không trăm chín mươi) đồng.

Ngoài ra Bản án lao động sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự.

Ngày 04/5/2023, nguyên đơn là ông Nguyễn Hữu P nộp đơn kháng cáo toàn bộ Bản án lao động sơ thẩm số 1190/2023/LĐ-ST ngày 21/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức. Nguyên đơn đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 05/5/2023, bị đơn- Công ty TNHH C Janeto nộp đơn kháng cáo một phần Bản án lao động sơ thẩm số 1190/2023/LĐ-ST ngày 21/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức về việc buộc bị đơn trả tiền 13 ngày lương cho nguyên đơn tính từ ngày 01/11/2018 đến ngày 19/11/2018 là 2.659.090 đồng. Đề nghị Tòa cấp phúc thẩm sửa phần này của bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả tiền 13 ngày lương cho nguyên đơn tính từ ngày 01/11/2018 đến ngày 19/11/2018.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn là ông Nguyễn Hữu P không rút đơn kháng cáo, không rút đơn khởi kiện. Bị đơn là Công ty TNHH C không rút đơn kháng cáo. Nguyên đơn và bị đơn không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào khác so với các tài liệu chứng cứ đã cung cấp tại Tòa cấp sơ thẩm. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

*Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn là bà Phạm Thị Quế T trình bày:

Căn cứ vào nội dung Email ông T1 (là đại diện theo pháp luật của Công ty C) gửi cho ông P ngày 28/11/2018 thể hiện rõ nội dung: Từ ngày hôm nay 28/11/2018, ông P sẽ không còn thành viên góp vốn trong công ty cũng như chính thức nghỉ việc tại J. Đây không phải là email mang tính chất trao đổi như Tòa cấp sơ thẩm nhận định mà đây là email mang tính chất quyết định và thông báo chính thức đến ông P rằng ông P phải nghỉ việc tại Công ty từ ngày 28/11/2018. Như vậy, Việc ông P phải nghỉ việc tại Công ty là do nhận được quyết định và thông báo chính thức về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với ông P từ ngày 28/11/2018 chứ không phải ông P tự ý nghỉ việc như nhận định của Tòa cấp sơ thẩm. Ngoài ra, không có pháp luật nào quy định phải có quyết định cho nghỉ việc mới xác định được rằng Công ty chấm dứt hợp đồng lao động với ông P. Công ty C đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với ông P.

Đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả tiền 13 ngày lương cho nguyên đơn tính từ ngày 01/11/2018 đến ngày 19/11/2018, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng theo mức lương 40.000.000 đồng/tháng căn cứ vào hợp đồng lao động ngày 20/7/2014 giữa Công ty C và ông Nguyễn Hữu P và căn cứ vào các chứng từ giao dịch tài khoản do V1 cung cấp.

Từ những lý do trên, nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa toàn bộ bản án lao động sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngoài ra, Nguyên đơn có yêu cầu bổ sung đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị đơn bồi thường do nguyên đơn bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật tính đến thời điểm xét xử phúc thẩm với tổng số tiền là 2.465.308.364 đồng.

* Bị đơn là Công ty TNHH C có người đại diện theo pháp luật là ông Lê Bảo T1 và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn - luật sư Hoàng Văn S trình bày:

Ông P là 01 trong 04 thành viên góp vốn của Công ty C. Ngày 28/11/2018, ông Lê Bảo T1 gửi mail cho ông P là để trao đổi về việc chấm dứt tư cách thành viên của ông P trong Công ty và chuyển tên cho thành viên khác, sau khi sang tên cho thành viên khác thì ông P sẽ được nhận một khoản tiền, tiền này là tiền vốn góp và tiền sáng lập Công ty của ông P. Ngày 29/11/2018, Ông P gửi email trả lời không đồng ý. Tuy nhiên, ông P cũng không đến Công ty làm việc và Công ty cũng không liên lạc được với ông P. Công ty không ra Quyết định nghỉ việc và cũng không ra quyết định điều chuyển ông P sang làm công việc khác, mà ông P tự ý nghỉ việc từ ngày 28/11/2018. Công ty đóng bảo hiểm cho ông P đến tháng 11/2021, Công ty không giữ sổ bảo hiểm xã hội của ông P. Do đó Công ty không đồng ý kháng cáo của ông P.

Bị đơn kháng cáo một phần bản án lao động sơ thẩm về việc Tòa sơ thẩm buộc bị đơn trả tiền 13 ngày lương cho nguyên đơn tính từ ngày 01/11/2018 đến ngày 19/11/2018 là 2.659.090 đồng vì Hợp đồng lao động ngày 20/7/2014 là hợp đồng lao động giả, Công ty ký để cho ông P xin visa sang N. Hợp đồng lao động ngày 05/5/2015 là để đóng tiền bảo hiểm xã hội. Thực tế, Công ty không trả lương cho ông P, các thành viên Công ty chỉ được chia lợi nhuận chứ không hưởng lương, bị đơn không đồng ý trả cho nguyên đơn 13 ngày lương cho nguyên đơn tính từ ngày 01/11/2018 đến ngày 19/11/2018. Bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở phúc thẩm như sau:

Về Đơn kháng cáo của các đương sự: Đơn kháng cáo của nguyên đơn và Đơn kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định nên được chấp nhận.

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong giai đoạn phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Căn cứ Điều 223 Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu bổ sung của nguyên đơn về việc buộc bị đơn bồi thường do bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật tính đến thời điểm xét xử phúc thẩm với tổng số tiền là 2.465.308.364 đồng không có căn cứ để xem xét.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn, Giữ nguyên Bản án lao động sơ thẩm số 11920/2023/LĐ-ST ngày 21 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu P và bị đơn - Công ty TNHH C trong hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận.

[2] Về Tố tụng: Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Kiều Anh V đã được tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt. Do đó, Tòa án căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.

[3] Về nội dung:

[3.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải thực hiện các nghĩa vụ bồi thường do bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, mã số doanh nghiệp 0312637154 do Phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cấp thì Công ty C có 04 thành viên góp vốn, gồm: Lê Bảo T1, Lê H, Phạm Thái B và Nguyễn Hữu P; tỷ lệ vốn góp của mỗi thành viên là 25%.

Ngày 20/7/2014, Công ty C và ông Nguyễn Hữu P ký Hợp đồng lao động không xác định thời hạn, chức vụ Giám đốc kỹ thuật, lương cơ bản là 5.000.000 đồng/tháng, phụ cấp 23.000.000 đồng/tháng, tổng lương là 28.000.000 đồng.

Ngày 05/5/2015, Công ty C và ông Nguyễn Hữu P ký Hợp đồng lao động xác định thời hạn (Hợp đồng lao động số 0005-HĐLĐ), thời hạn 36 tháng, kể từ ngày 05/5/2015 đến ngày 05/5/2018, chức danh chuyên môn kỹ sư phần mềm, thực hiện công việc theo đúng chức năng chuyên môn của mình; địa điểm làm việc tại C Đường C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, tiền lương là 3.500.000 đồng/tháng, phụ cấp theo hiệu suất công việc, theo đánh giá của quản lý.

Căn cứ Công văn số 1249/BHXH-THU ngày 13/7/2021 của Cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố T và Bản quá trình đóng bảo hiểm xã hội của ông P do bị đơn cung cấp, có nội dung: Công ty C đóng bảo hiểm xã hội cho ông P với chức danh là nhân viên lập trình, thời gian đóng từ tháng 9/2015 đến tháng 11/2021 (mức đóng: từ tháng 9/2015 đến tháng 12/2015 là 3.317.000 đồng; từ tháng 01/2016 đến tháng 12/2017 là 4.245.000 đồng; từ tháng 01/2018 đến tháng 12/2019 là 4.500.000 đồng; từ tháng 01/2020 đến tháng 11/2021 là 4.800.000 đồng); Công ty TNHH Một thành viên E1 đóng bảo hiểm xã hội cho ông P từ tháng 8/2020 đến nay.

Như vậy, Công ty C đóng bảo hiểm xã hội cho ông P theo Hợp đồng lao động số 0005-HĐLĐ ngày 05/5/2015, Hợp đồng này có thời hạn 36 tháng, sau khi hết hạn hợp đồng, ông P tiếp tục làm việc tại Công ty C cho ông P. Do đó, Hợp đồng lao động giữa nguyên đơn và bị đơn được xác định là hợp đồng lao động không xác định thời hạn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 22 Bộ luật lao động năm 2012.

Ngày 28/11/2018, ông Lê Bảo T1 - Giám đốc (là người đại diện theo pháp luật) Công ty C gửi email cho ông P phương án chuyển giao của P với Công ty C, có nội dung:

"1. P nhận được tiền lương tháng 11 (tương ứng số ngày làm việc) là đến ngày 19/11/2018. H sẽ chuyển khoản vào cuối tháng này.

2. Phước bàn giao tất cả các dự án, thông tin liên hệ với khách hàng cũng như tất cả tài sản liên quan đến Công ty sớm nhất có thể. Thành/Bảo sẽ liên hệ 01 ngày làm việc thuận tiện và sớm nhất có thể.

3. P sẽ hỗ trợ trong việc thay đổi trong Giấy phép kinh doanh (nếu có) và từ hôm nay (28/11/2018) P sẽ không còn là thành viên góp vốn trong công ty cũng như chính thức nghỉ việc tại J.

4. P sẽ nhận được tiền bồi thường 2 tháng (80.000.000 đ - Tám mươi triệu đồng) sau khi đã thực hiện đầy đủ các việc ở Điều 2 và Điều 3 bên trên.

5. P sẽ có nhiệm vụ bảo mật tất cả thông tin liên quan đến công ty và chịu trách nhiệm nếu tiết lộ cho các bên thứ 3 các điều gây ảnh hưởng đến Janeto.

Đây là 5 điều mà chúng ta đã thống nhất, P xem qua và trả lời email này càng sớm càng tốt." Ngày 29/11/2018, ông P có trả lời qua email đến các thành viên góp vốn của Công ty C với nội dung là không đồng ý với đề xuất của Lê Bảo T1 - Giám đốc Công ty C tại Email ngày 28/11/2018.

Ngày 09/01/2019, ông T1 tiếp tục gửi email cho ông P với nội dung: "Như đã nhắn tin cho mi. Thì tao thay mặt Công ty đồng ý với vấn đề nghỉ việc của mi. Phương án thì cứ làm như mi nói, là anh em đồng ý bồi thường 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng cho mi và cùng nhau ký vào thỏa thuận về vấn đề kết thúc hợp đồng. Sau đó Công ty sẽ làm các thủ tục chấm dứt hợp đồng sớm cho mi. Mi xem qua bản thỏa thuận nếu ok thì gọi điện thoại cho tao để hẹn ký ở chỗ nào thuận tiện nhất. Dù gì thì đây là cách tốt nhất cho cả hai bên và anh em thì cũng đã đồng ý với cách của mi. Hãy xem qua bản thỏa thuận và cho tao ý kiến. Trong thỏa thuận có điều khoản chuyển tiền 2 ngày thì cái này bên tao sẽ chuyển liền cho mi sau khi ký xong." Từ ngày 29/11/2018, ông P không đến Công ty làm việc.

Xét nội dung email ngày 28/11/2018 nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy: tựa đề email là phương án chuyển giao của P với Công ty C, nội dung email liên quan đến việc trao đổi tiền lương của ông P, vốn góp, thay đổi thành viên của Công ty, về vấn đề nghỉ việc của ông P. Cuối email có nội dung đề nghị ông P xem qua và trả lời email càng sớm càng tốt. Điều này chứng tỏ đây chỉ là email trao đổi giữa công ty và ông P. Công ty C mới chỉ gửi email trao đổi cho ông P và chưa ban hành quyết định nghỉ việc cũng như điều chuyển ông P sang làm công việc khác. Ngày 29/11/2018, ông P có trả lời qua email là không đồng ý với nội dung email của Lê Bảo T1 - Giám đốc Công ty C gửi cho ông P. Sau đó, giữa ông P và các thành viên góp vốn của Công ty có trao đổi email qua lại liên quan đến việc góp vốn và việc chấm dứt hợp đồng lao động của ông P nhưng chưa đi đến thống nhất và chưa đưa ra quyết định cuối cùng. Từ ngày 29/11/2018 ông P không đến Công ty làm việc mặc dù ông P vẫn đang là thành viên góp vốn của Công ty. Công ty C không đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với ông P mà ông P tự ý nghỉ việc như nhận định của Tòa sơ thẩm là có căn cứ.

Từ những nhận định nêu trên, Tòa cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định pháp luật do đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật đối với ông Nguyễn Hữu P là có căn cứ. Tòa phúc thẩm giữ nguyên phần này của bản án sơ thẩm.

Căn cứ Công văn số 1249/BHXH-THU ngày 13/7/2021 của Cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố T, Văn bản về quá trình đóng bảo hiểm xã hội của ông P do bị đơn cung cấp và sự thừa nhận của các bên đương sự: Công ty C đã đóng bảo hiểm xã hội cho ông Nguyễn Hữu P từ tháng 9/2015 đến tháng 11/2021. Từ tháng 8/2020 đến nay, ông P làm việc cho Công ty TNHH Một thành viên E1 và được Công ty E1 đóng bảo hiểm cho đến nay. Nguyên đơn xác nhận không có biên bản giao nhận sổ bảo hiểm xã hội cho Công ty C, ông P cũng không nhớ đã giao sổ bảo hiểm xã hội cho ai, Công ty C không thừa nhận giữ sổ bảo hiểm xã hội của ông P. Tòa cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải hoàn thành thủ tục xác nhận bảo hiểm xã hội và hoàn trả sổ bảo hiểm xã hội cho ông P là có cơ sở. Hội đồng xét xử giữ nguyên phần này của bản án sơ thẩm.

[3.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn về tiền lương những ngày ông P đã làm việc nhưng chưa được thanh toán từ ngày 01/11/2018 đến ngày 19/11/2018 (13 ngày làm việc) là 40.000.000 đồng/22 x 13 = 23.636.364 đồng.

Ông P là thành viên sáng lập Công ty C, làm việc tại Công ty C và Công ty C và ông P cũng đã ký hợp đồng lao động. Công ty C cũng đã đóng các khoản bảo hiểm xã hội cho ông P dựa trên hợp đồng lao động giữa các bên theo quy định của pháp luật lao động. Do đó các bên phải tuân thủ pháp luật lao động và hợp đồng lao động đã ký kết.

Căn cứ Quyết định số 2018/QĐ-LT-01 ngày 01/01/2018 của Giám đốc Công ty C về việc chi trả lương, phụ cấp cho nhân viên thì kể từ ngày 01/01/2018, Công ty C áp dụng mức tiền lương, phụ cấp cho toàn thể nhân viên từ ngày 01/01/2018 là 4.500.000 đồng/tháng.

Căn cứ Công văn số 1249/BHXH-THU ngày 13/7/2021 của Cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố T và Bản quá trình đóng bảo hiểm xã hội của ông P do bị đơn cung cấp thì từ tháng 01/2018 đến tháng 12/2019, Công ty C đóng bảo hiểm xã hội cho ông P, với mức lương là 4.500.000 đồng.

Khoản 2 Điều 5 Luật bảo hiểm xã hội quy định: Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở tiền lương, tiền công của người lao động.

Do đó, Tòa cấp sơ thẩm buộc Công ty C phải thanh toán tiền lương cho ông P những ngày ông P đã làm việc từ ngày 01/11/2018 đến ngày 19/11/2018 (13 ngày làm việc) là 4.500.000 đồng/22 x 13 = 2.659.090 đồng là có căn cứ.

Tòa cấp sơ thẩm Buộc Công ty TNHH C phải trả tiền lương cho ông Nguyễn Hữu P những ngày ông P đã làm việc nhưng chưa được thanh toán từ ngày 01/11/2018 đến ngày 19/11/2018 (13 ngày làm việc) là 2.659.090 (hai triệu sáu trăm năm mươi chín nghìn không trăm chín mươi) đồng. Tuy nhiên, Tòa cấp sơ thẩm không tuyên trường hợp bên phải thi hành án chậm thi hành án thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 là thiếu sót. Tòa cấp phúc thẩm bổ sung phần này của bản án sơ thẩm.

Nguyên đơn căn cứ các chứng từ giao dịch tài khoản do V1 cung cấp đề nghị tính 13 ngày lương còn thiếu theo mức lương 40.000.000 đồng/tháng. Hội đồng xét xử xét thấy: người chuyển tiền cho nguyên đơn hàng tháng từ tháng 7/2014 đến tháng 10/2018 là từ tài khoản cá nhân ông Lê H, không phải tài khoản của Công ty C. Số tiền hàng tháng ông H chuyển cho nguyên đơn là những số tiền khác nhau, nội dung chuyển tiền cũng không giống nhau, không phù hợp với cả hai hợp đồng lao động mà các bên cung cấp nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét.

Đối với yêu cầu bổ sung của nguyên đơn về việc buộc bị đơn bồi thường do bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật tính đến thời điểm xét xử phúc thẩm với tổng số tiền là 2.465.308.364. Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị. Yêu cầu khởi kiện bổ sung của nguyên đơn vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu. Do đó, yêu cầu bổ sung của nguyên đơn không có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, Tòa cấp sơ thẩm không tuyên trường hợp bên phải thi hành án chậm thi hành án thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, là thiếu sót. Cấp phúc thẩm bổ sung thêm phần này của bản án sơ thẩm.

[4] Về án phí: [4.1] Về án phí lao động sơ thẩm:

- Ông Nguyễn Hữu P được miễn án phí lao động sơ thẩm.

- Công ty TNHH C phải chịu án phí lao động sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

[4.2] Về án phí lao động phúc thẩm:

- Ông Nguyễn Hữu P được miễn án phí lao động phúc thẩm.

- Công ty TNHH C không phải chịu án phí lao động phúc thẩm do sửa một phần của bản án sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

 Căn cứ vào khoản 1 Điều 32, khoản 2 Điều 148, Điều 293, khoản 2 Điều 296, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 5, Điều 22, Điều 43 Bộ luật lao động năm 2012; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn. Sửa một phần Bản án lao động sơ thẩm số 11920/2023/LĐ-ST ngày 21 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu P về yêu cầu buộc Công ty TNHH C phải thực hiện các nghĩa vụ do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật đối với ông Nguyễn Hữu P:

- Hoàn thành thủ tục xác nhận bảo hiểm xã hội và hoàn trả sổ bảo hiểm xã hội cho ông P.

- Bồi thường cho ông P tổng số tiền là 2.283.784.727 đồng, trong đó:

+ Tiền lương những ngày ông P đã làm việc nhưng chưa thanh toán từ ngày 01/11/2018 đến ngày 19/11/2018 (13 ngày làm việc) là 40.000.000 đồng/22 x 13 = 23.636.364 đồng;

+ Tiền lương những ngày ông P không được làm việc từ ngày 28/11/2018 đến ngày 30/11/2018 (03 ngày) là 40.000.000 đồng/22 x 13 = 5.454.545 đồng;

+ Tiền lương những ngày ông P không được làm việc từ ngày 01/12/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm (52 tháng 10 ngày) là (40.000.000 đồng x 52) + (40.000.000 đồng/22 x 10) = 2.098.181.818 đồng;

+ 02 tháng tiền lương là 80.000.000 đồng;

+ Tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày ông P không được làm việc mà Công ty TNHH C chưa đóng cho ông P tính từ ngày 01/12/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm (16 tháng) là 21,5% x 4.800.000 đồng x 16 = 16.512.000 đồng;

+ Khoản tiền tương ứng với tiền lương những ngày ông P không được Công ty TNHH C thông báo trước về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là 60.000.000 đồng.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu P, về việc yêu cầu Công ty TNHH C phải trả tiền lương những ngày ông P đã làm việc nhưng chưa được thanh toán từ ngày 01/11/2018 đến ngày 19/11/2018 (13 ngày làm việc).

Buộc Công ty TNHH C phải trả tiền lương cho ông Nguyễn Hữu P những ngày ông P đã làm việc nhưng chưa được thanh toán từ ngày 01/11/2018 đến ngày 19/11/2018 (13 ngày làm việc) là 2.659.090 (hai triệu sáu trăm năm mươi chín nghìn không trăm chín mươi) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về án phí 3.1. Án phí lao động sơ thẩm:

- Ông Nguyễn Hữu P được miễn nộp tiền án phí lao động sơ thẩm.

- Công ty TNHH C phải chịu án phí lao động sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

3.2 Án phí lao động phúc thẩm:

- Ông Nguyễn Hữu P được miễn án phí lao động phúc thẩm.

- Công ty TNHH C không phải chịu án phí lao động phúc thẩm. Trả lại cho Công ty TNHH C Janeto tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0003441 ngày 19/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Các đương sự thi hành án tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

153
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, tiền lương số 885/2023/LĐ-PT

Số hiệu:885/2023/LĐ-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Lao động
Ngày ban hành:25/08/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về