TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 815/2023/LĐ-PT NGÀY 02/08/2023 VỀ TRANH CHẤP ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
Trong ngày 02 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 33/2023/TLPT-LĐ ngày 25 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”.
Do Bản án lao động sơ thẩm Số 03/2023/LĐ-ST ngày 30 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2494/2023/QĐPT-LĐ ngày 07 tháng 6 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 9012/2023/QĐPT-LĐ ngày 06 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Sí Đ, sinh năm: 1988 Địa chỉ: Ấp A, xã A, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp; Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1990; địa chỉ: 1 Đường số A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền lập ngày 25/7/2023); Có mặt.
2. Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn K (Việt Nam) Địa chỉ: D Quốc lộ A, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông WEI WEIEN; sinh năm: 1983 - Tổng giám đốc Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Trương Minh H; sinh năm: 1966; địa chỉ: 2 đường T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền lập ngày 08/6/2023); Có mặt.
3. Người kháng cáo: Bị đơn - Công ty TNHH K (Việt Nam).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Đơn khởi kiện; bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Sí Đ và người đại diện theo ủy quyền - ông Nguyễn Văn T trình bày:
Vào tháng 04/2010 ông Nguyễn Sí Đ vào làm việc tại Công ty TNHH K (Việt Nam), hai bên có ký hợp đồng lao động xác định thời hạn 24 tháng, đến ngày 01/04/2012 hai bên ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn, mức lương 2.411.600 đồng/tháng, sau đó cứ mỗi năm ký một phụ lục hợp đồng để tăng lương (trong đó có năm 2017 và năm 2018 không ký phụ lục hợp đồng), mức lương cơ bản theo phụ lục hợp đồng năm 2020 là 7.756.300 đồng/tháng, nhưng lương thực lãnh là 10.000.000 đồng/tháng. Ngày 27/04/2020 Công ty TNHH K (Việt Nam) cho ông Đ nghỉ việc. Hiện tại ông Đ đã nhận đầy đủ tiền lương đến hết tháng 05/2020. Tuy nhiên, do Công ty TNHH K (Việt Nam) đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật nên ông Đ khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH K phải bồi thường các khoản sau:
- Tiền thưởng lễ 30/4 và 01/05 của năm 2021.
- Tiền bồi thường 03 tháng tiền lương do vi phạm thời hạn báo trước, mỗi tháng 10.000.000 đồng.
- Tiền lương do người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật từ tháng 06/2020 đến ngày Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
- Tiền đền bù 03 tháng lương do tổn thất tinh thần, tương đương với số tiền 30.000.000 đồng.
- Tiền phụ cấp môi trường 500.000 đồng/tháng tính từ tháng 06/2020 đến ngày Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
- Tiền trợ cấp sinh hoạt 300.000 đồng/tháng tính từ tháng 06/2020 đến ngày Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
- Yêu cầu tiền lãi chậm trả trên tổng số tiền 298.100.000 đồng với lãi suất 10%/năm tính từ tháng 06/2020 đến ngày Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
- Nhận ông Đ trở lại làm việc.
Tại biên bản lập ngày 15/08/2022 (bút lục số 105, 106) đại diện nguyên đơn thay đổi yêu cầu bồi thường 03 tháng tiền lương do vi phạm thời hạn báo trước thành yêu cầu bồi thường 45 ngày, đồng thời rút yêu cầu thanh toán tiền lãi chậm trả và rút yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần, còn các yêu cầu khác vẫn giữ nguyên.
Tại biên bản hòa giải ngày 17/02/2023 (bút lục 116, 117 và 118) đại diện nguyên đơn thay đổi và rút một số yêu cầu khởi kiện, còn lại các yêu cầu cụ thể như sau:
- Bồi thường 45 ngày tiền lương do vi phạm thời hạn báo trước là 15.000.000 đồng.
- Bồi thường 02 tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật: 10.000.000 đồng x 02 tháng = 20.000.000 đồng.
- Thanh toán tiền lương những ngày ông Đ không có việc làm và không được trả lương, tính từ tháng 07/2020 đến hết tháng 08/2021 là 14 tháng x 10.000.000 đồng = 140.000.000 đồng.
Tổng cộng là 175.000.000 đồng, đồng thời yêu cầu Công ty K đóng bảo hiểm xã hội cho ông Đ từ tháng 07/2020 đến hết tháng 08/2021 và nhận ông Đ trở lại làm việc.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Đ rút yêu cầu buộc công ty K1 nhận ông Đ trở lại làm việc.
Trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn - Công ty TNHH K (Việt Nam) có ông Trương Minh H trình bày:
Ông Nguyễn Sí Đ vào làm việc tại Công ty TNHH K1 (Việt Nam) từ ngày 17/04/2010 theo hợp đồng lao động số 065A-00013077 với thời hạn 24 tháng (từ ngày 17/04/2010 đến hết ngày 17/04/2012), mức lương thỏa thuận là 1.434.000 đồng/tháng (không bao gồm các khoản thuế, phí bảo hiểm và các khoản phí khác theo quy định của pháp luật tại thời điểm trả lương). Ngày 01/04/2012 Công ty TNHH K1 (Việt Nam) tiếp tục ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với ông Nguyễn Sí Đ với mức lương thỏa thuận là 2.411.600 đồng/tháng. Tháng 01/2013 Công ty TNHH K1 (Việt Nam) ký phụ lục hợp đồng lao động với ông Nguyễn Sí Đ với mức lương cơ bản được tăng lên là 2.722.500 đồng/tháng cùng với phụ cấp môi trường là 190.700 đồng/tháng. Tháng 01/2014 Công ty TNHH K1 (Việt Nam) ký phụ lục hợp đồng lao động với ông Nguyễn Sí Đ với mức lương cơ bản tăng lên là 3.344.500 đồng/tháng cùng với phụ cấp môi trường tăng lên là 219.300 đồng/tháng. Tháng 01/2015 Công ty TNHH K1 (Việt Nam) ký phụ lục hợp đồng lao động với ông Nguyễn Sí Đ với mức lương cơ bản được tăng lên là 4.032.000 đồng/tháng cùng với phụ cấp môi trường tăng lên là: 253.600 đồng/tháng. Tháng 01/2016 Công ty TNHH K1 (Việt Nam) ký phụ lục hợp đồng lao động với ông Nguyễn Sí Đ với mức lương cơ bản được tăng lên là 4.780.000 đồng/tháng cùng với phụ cấp môi trường tăng lên là 291.000 đồng/tháng. Tháng 01/2019 Công ty TNHH K1 (Việt Nam) ký phụ lục hợp đồng lao động với ông Nguyễn Sí Đ với mức lương cơ bản được tăng lên là 6.991.000 đồng/tháng. Tháng 01/2020 Công ty TNHH K1 (Việt Nam) tiếp tục ký một bản phụ lục hợp đồng lao động với ông Nguyễn Sí Đ với mức lương cơ bản được tăng lên là 7.756.300 đồng/tháng.
Vào tháng 02/2020 do tình hình dịch bệnh covid-19 đang bùng phát và ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình kinh tế của toàn thế giới và cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH K1 (Việt Nam). Đây là trường hợp bất khả kháng, mặc dù đã tìm mọi biện pháp để khắc phục và cố gắng để duy trì sản xuất nhưng tình hình hoạt động sản xuất của Công ty vẫn không thể duy trì hoạt động bình thường như trước đó. Do đó sau khi bàn bạc và thảo luận với ban chấp hành công đoàn cơ sở, ban giám đốc công ty N thực hiện việc thu hẹp sản xuất đồng thời cắt giảm một số lao động hiện đang làm việc tại Công ty và giải quyết đầy đủ các quyền lợi và chính sách đối với những người lao động bị cắt giảm theo quy định của pháp luật và chính sách của Công ty (biên bản cuộc họp ngày 26/03/2020).
Ngày 27/04/2020 Ban giám đốc Công ty có mời ông Nguyễn Sí Đ đến làm việc và gửi thông báo về việc sẽ chấm dứt hợp đồng lao động lao động đối với ông Đ vào ngày 15/06/2020 (47 ngày). Từ ngày 29/04/2020 đến ngày 15/05/2020 ông Đ được Công ty cho nghỉ hưởng 70% lương (do dịch bệnh). Từ ngày 16/05/2020 đến ngày 15/06/2020 ông Đ được Công ty cho nghỉ hưởng 100% lương (do chờ đơn hàng để sản xuất). Ngày 15/06/2020 Công ty C vào thông báo đã gửi cho ông Đ vào ngày 27/04/2020 Công ty thực hiện việc chấm dứt hợp đồng lao động với ông Đ vào ngày 15/06/2020, đồng thời tiến hành trả sổ bảo hiểm xã hội, trả các khoản tiền lương và các khoản tiền khác theo quy định của Bộ luật Lao động cũng như chính sách của Công ty.
Thời gian làm việc của ông Đ tại Công ty theo hợp đồng từ ngày 17/04/2010 cho đến khi nghỉ việc vào ngày 15/06/2020 là 10 năm 01 tháng 29 ngày. Công ty đã thực hiện việc đóng các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế theo quy định cho người lao động. Do đó, căn cứ khoản 1, 2 Điều 48 Bộ luật lao động năm 2012 thì ông Đ sẽ không còn được nhận các khoản trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc từ Công ty TNHH K1 (Việt Nam).
Việc Công ty TNHH K (Việt Nam) chấm dứt hợp đồng lao động với ông Đ là đúng trình tự, thời hạn báo trước đúng quy định của pháp luật, vì thời điểm Công ty chấm dứt hợp đồng lao động do dịch bệnh covid-19 lúc đó diễn biến phức tạp, sau khi bàn bạc và thảo luận với Ban chấp hành công đoàn cơ sở và Ban giám đốc công ty đã nhất trí thực hiện việc thu hẹp sản xuất đồng thời cắt giảm một số lao động đang làm việc, trong đó có ông Nguyễn Sí Đ. Nay Công ty không đồng ý bất cứ các yêu cầu nào của nguyên đơn.
Tại Bản án lao động sơ thẩm số 03/2023/LĐ-ST ngày 30 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Sí Đ.
2. Xác định Quyết định nghỉ việc ngày 15/06/2020 của Công ty TNHH K (Việt Nam) về việc chấm dứt hợp đồng lao động với ông Nguyễn Sí Đ là trái luật.
3. Buộc Công ty TNHH K (Việt Nam) phải thực hiện nghĩa vụ do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật đối với ông Nguyễn Sí Đ, bao gồm:
3.1. Trả tiền lương trong thời gian ông Nguyễn Sí Đ không được làm việc và không được trả lương từ ngày 16/06/2020 đến hết tháng 08/2021 là 112.466.350 đồng (14,5 tháng x 7.756.300 đồng/tháng).
3.2. Bồi thường 02 tháng tiền lương là 15.512.600 đồng (02 tháng x 7.756.300 đồng/tháng).
3.3. Bồi thường tiền lương 45 ngày (1,5 tháng) vi phạm thời gian không báo trước do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật tương ứng với số tiền là 11.634.450 đồng (1,5 tháng x 7.756.300 đồng/tháng).
Tổng cộng số tiền Công ty TNHH K (Việt Nam) phải trả cho ông Nguyễn Sí Đ là 139.613.400 đồng (một trăm ba mươi chín triệu sáu trăm mười ba nghìn bốn trăm đồng). Trả một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.
3.4. Công ty TNHH K (Việt Nam) phải thực hiện việc đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho ông Nguyễn Sí Đ trong thời gian ông Nguyễn Sí Đ không được làm việc từ ngày 01/06/2020 đến hết tháng 08/2021 theo mức lương 7.756.300 đồng/tháng đã thỏa thuận trong Hợp đồng lao động (gia hạn) số GC-013077 ngày 01/04/2012 và Phụ lục hợp đồng lao động số: 065A-00013077 ngày 01/01/2020.
4. Chấm dứt Hợp đồng lao động (gia hạn) số GC-013077 ngày 01/04/2012 và Phụ lục hợp đồng lao động số: 065A-00013077 ngày 01/01/2020 kể từ ngày 01/09/2021.
5. Đình chỉ xét xử đối với các yêu cầu do nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện, gồm: Yêu cầu trả tiền thưởng lễ 30/4 và 01/05 của năm 2021; Yêu cầu bồi thường 03 tháng lương do tổn thất tinh thần và nhận ông Đ trở lại làm việc; Yêu cầu tiền phụ cấp môi trường, tiền trợ cấp sinh hoạt và yêu cầu tiền lãi chậm trả trên tổng số tiền 298.100.000 đồng với lãi suất 10%/năm.
6. Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà người phải thi hành án chưa thanh toán đủ số tiền nêu trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Ngoài ra Bản án dân sự sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự.
Ngày 11 tháng 4 năm 2023, bị đơn - Công ty TNHH K (Việt Nam) nộp đơn kháng cáo toàn bộ Bản án lao động sơ thẩm số 03/2023/LĐ-ST ngày 30 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị đơn yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hủy Bản án lao động sơ thẩm nêu trên để xét xử lại.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn là Công ty TNHH K (Việt Nam) rút yêu cầu kháng cáo về việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền thưởng lễ 30/4 và 01/05 của năm 2021; Yêu cầu bồi thường 03 tháng lương do tổn thất tinh thần và nhận ông Đ trở lại làm việc; Yêu cầu tiền phụ cấp môi trường, tiền trợ cấp sinh hoạt và yêu cầu tiền lãi chậm trả trên tổng số tiền 298.100.000 đồng với lãi suất 10%/năm. Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện. Bị đơn cung cấp tài liệu, chứng cứ là bản chính Phiếu thôi việc công nhân viên số 000718 ngày 25/4/2023. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
* Bị đơn là Công ty TNHH K (Việt Nam) có người đại diện theo ủy quyền là ông Trương Minh H trình bày: Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét đầy đủ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, không làm rõ sự thật khách quan trong suốt quá trình giải quyết vụ án, áp dụng không đúng các quy định của pháp luật, gây ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn. Do ảnh hưởng của dịch bệnh covid 19 nên ngày 26/3/2020, Công ty K mở cuộc họp giữa Ban giám đốc công ty V cơ sở về việc thu hẹp sản xuất và cắt giảm lao động tại công ty do ảnh hưởng của dịch bệnh covid đối với 137 nhân viên đang làm việc tại công ty (trong đó có ông Nguyễn Sí Đ). Ngày 25/4/2020, ông Đ nộp đơn xin được nghỉ việc (Phiếu thôi việc công nhân viên). Chiều ngày 27/4/2020, Lãnh đạo công ty phê duyệt cho ông Đ nghỉ việc theo nguyện vọng. Do ông Đ có tên trong danh sách người lao động thôi việc do ảnh hưởng dịch bệnh covid 19 nên Công ty không làm thủ tục cho ông Đ nghỉ việc theo thỏa thuận mà ban hành thông báo về việc chấm dứt hợp đồng lao động với ông Đ từ ngày 15/6/2020 vì lý do Công ty buộc phải thu hẹp sản xuất kinh doanh, sản xuất dù đã tìm mọi biện pháp khắc phục vì diễn biến phức tạp của dịch bệnh viêm phổi do virut Covid 19 gây ra cùng với 136 người lao động khác, Công ty đã giao cho ông Đ Thông báo về việc chấm dứt hợp đồng lao động và phiếu thôi việc công nhân viên cùng ngày 27/4/2020 để sau này ông Đ vào Công ty nhận lương và sổ bảo hiểm xã hội thì nộp lại. Ngày cuối cùng ông Đ vào làm việc tại công ty là ngày 27/4/2020. Ngày 23/6/2020 ông Đ cùng với những người lao động khác vào công ty nhận lương, ngày 29/7/2020 thì vào Công ty nhận Sổ bảo hiểm xã hội. Từ ngày 01/8/2020 đến nay, ông Đ không vào Công ty thì không thể có việc Công ty cho ông Đ ký vào Thông báo cũng như phiếu thôi việc vào tháng 8/2020 như ông Đ trình bày. Trong số 137 lao động bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, chỉ một mình ông Đ khởi kiện công ty. Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với ông Đ đúng pháp luật. Công ty không vi phạm thời hạn báo trước với nguyên đơn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn T1 trình bày:
Bị đơn nhập nhằng giữa thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động và đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Giả sử ông Đ ký Phiếu thôi việc công nhân viên ngày 25/4/2020 để đạt nguyện vọng nghỉ việc thì Công ty phải gặp ông Đ để đi đến thống nhất chấm dứt hợp đồng lao động. Tuy nhiên Công ty không trả lời mà lại tự đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông Đ và không thông báo trước 45 ngày cho ông Đ là trái pháp luật lao động. Các mốc thời gian mà phía Công ty đưa ra không đi thẳng vào vấn đề thông báo cho ông Đ biết việc chấm dứt hợp đồng lao động. Ngày làm việc cuối cùng 27/4/2020 không có nghĩa là Công ty đã báo trước cho ông Đ trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Ông Đ nhận Sổ bảo hiểm xã hội và nhận Thông báo chấm dứt hợp đồng lao động vào khoảng tháng 8/2020. Do đó, Nguyên đơn không đồng ý kháng cáo của bị đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án lao động sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở phúc thẩm như sau:
- Về Đơn kháng cáo của bị đơn: Đơn kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định nên được chấp nhận.
- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong giai đoạn phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn rút một phần kháng cáo về việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền thưởng lễ 30/4 và 01/05 của năm 2021; Yêu cầu bồi thường 03 tháng lương do tổn thất tinh thần và nhận ông Đ trở lại làm việc; Yêu cầu tiền phụ cấp môi trường, tiền trợ cấp sinh hoạt và yêu cầu tiền lãi chậm trả trên tổng số tiền 298.100.000 đồng với lãi suất 10%/năm. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm yêu cầu kháng cáo này của bị đơn.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Việc Công ty K đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với ông Đ không trái pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn, sửa một phần Bản án lao động sơ thẩm số 03/2023/LĐ-ST ngày 30 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH K (Việt Nam) trong hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn - Công ty TNHH K (Việt Nam) Ông Nguyễn Sí Đ vào làm việc tại Công ty K từ tháng 04/2010 theo Hợp đồng lao động xác định thời hạn 24 tháng. Ngày 01/04/2012, hai bên ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn số GC-013077 và các phụ lục hợp đồng lao động với nội dung: Công việc phải làm: Mài để; thời gian làm việc: 08 giờ/ngày; mức lương được điều chỉnh theo phụ lục hợp đồng ký kết ngày 01/01/2020 tại thời điểm nghỉ việc là 7.756.300 đồng/tháng; mức lương tham gia đóng bảo hiểm xã hội tại thời điểm nghỉ việc là 7.756.300 đồng/tháng; Phụ cấp gồm: Môi trường + chuyên cần.
Ngày 26/3/2020, Công ty K mở cuộc họp giữa Ban giám đốc công ty V cơ sở về việc thu hẹp sản xuất và cắt giảm lao động tại công ty do ảnh hưởng của dịch bệnh covid đối với 137 nhân viên đang làm việc tại công ty (trong đó có ông Nguyễn Sí Đ).
Ngày 27/3/2020, Ban giám đốc Công ty K ban hành quyết định về việc cắt giảm lao động do ảnh hưởng của dịch bệnh đối với 137 lao động của Công ty (Trong đó có ông Nguyễn Sí Đ).
Căn cứ Thông báo v/v chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông Nguyễn Sí Đ thì lý do Công ty K chấm dứt hợp đồng lao động với ông Đ là do “Công ty buộc phải thu hẹp kinh doanh, sản xuất dù đã cố gắng tìm mọi biện pháp khắc phục vì diễn biến phức tạp của dịch bệnh viêm phổi do virut C1 gây ra”, thời gian chấm dứt kể từ ngày 15/6/2020.
Ngày 15/6/2020, Công ty K ban hành Quyết định nghỉ việc đối với ông Nguyễn Sí Đ kể từ ngày 15/6/2020.
Thực tế, từ cuối năm 2019 tình hình dịch bệnh Covid-19 bùng phát và diễn biến rất phức tạp, theo Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 27/3/2020 và Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 về việc thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19 của Thủ tướng Chính phủ cũng đã xác định: “Dịch bệnh COVID-19 đã bùng phát trên phạm vi toàn cầu…”. Do tình hình dịch bệnh bùng phát và diễn biến rất phức tạp đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhiều công ty. Căn cứ tài liệu chứng cứ do Cục Thuế Thành phố H cung cấp thì kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty K trước thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động với ông Đ (tháng 04/2020) đã giảm từ 12.940.169.026 đồng (năm 2018) xuống còn 4.618.373.774 đồng (năm 2019), cho thấy lợi nhuận sau thuế của Công ty K có sự giảm sút, có cơ sở xác định do tình hình dịch bệnh đã làm hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty K gặp khó khăn và lợi nhuận sau thuế bị giảm. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 38 của Bộ luật lao động quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động: “Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc”. Tại điểm a khoản 2 Điều 12 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 Nghị định của Chính phủ quy định lý do bất khả kháng thuộc một trong các trường hợp “do địch họa, dịch bệnh”. Như vậy Công ty K đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với ông Đ là có căn cứ, thuộc trường hợp được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 38 Bộ luật lao động.
Về thời hạn báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động: Đại diện nguyên đơn cho rằng ông Đ không được thông báo về việc chấm dứt hợp đồng lao động. Sau khi có quyết định nghỉ việc thì ông Đ mới biết, việc ông Đ ký nhận vào văn bản thông báo chấm dứt là do Công ty K yêu cầu ký để hợp thức hóa khi ông Đ vào làm thủ tục nhận sổ bảo hiểm vào khoảng tháng 08/2020, ông không nhớ rõ thời gian chính xác. Giả sử ông Đ ký Phiếu thôi việc công nhân viên ngày 25/4/2020 để đạt nguyện vọng nghỉ việc thì Công ty phải gặp ông Đ để đi đến thống nhất chấm dứt hợp đồng lao động. Tuy nhiên Công ty không trả lời mà lại tự đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông Đ và không thông báo trước 45 ngày cho ông Đ là trái pháp luật lao động. Đại diện bị đơn thì cho rằng Ngày 25/4/2020, ông Đ nộp đơn xin được nghỉ việc (Phiếu thôi việc công nhân viên). Chiều ngày 27/4/2020, Lãnh đạo công ty phê duyệt cho ông Đ nghỉ việc theo nguyện vọng. Do ông Đ có tên trong danh sách người lao động thôi việc do ảnh hưởng dịch bệnh covid 19 nên Công ty không làm thủ tục cho ông Đ nghỉ việc theo thỏa thuận mà ban hành thông báo về việc chấm dứt hợp đồng lao động với ông Đ từ ngày 15/6/2020 vì lý do Công ty buộc phải thu hẹp sản xuất kinh doanh, sản xuất dù đã tìm mọi biện pháp khắc phục vì diễn biến phức tạp của dịch bệnh viêm phổi do virut Covid 19 gây ra cùng với 136 người lao động khác và giao cho ông Đ Thông báo về việc chấm dứt hợp đồng lao động và phiếu thôi việc công nhân viên cùng ngày 27/4/2020. Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ “Thông báo v/v chấm dứt hợp đồng lao động” (bút lục số 24) thì ông Đ đã ký vào văn bản thông báo này, tuy nhiên văn bản thông báo không thể hiện thời gian ban hành văn bản cũng như không thể hiện được việc ông Đ đã ký nhận văn bản vào thời gian nào.
Tuy nhiên, Căn cứ vào phiếu thôi việc công nhân viên số 000718 thể hiện: Ngày 25/4/2020 ông Nguyễn Sí Đ nộp phiếu xin nghỉ việc, ngày xin: 25/4/2020, số thẻ: 13077, họ và tên: Nguyễn Sí Đ, ngày nhận việc: 5/4/2010, ngày bắt đầu thôi việc: 15/6/2020. Phiếu thôi việc có chữ ký của Phòng kế hoạch, Phòng tổng vụ, trưởng xưởng ....để ngày 27/4. Phiếu thôi việc có chữ ký và chữ viết của ông Nguyễn Sí Đ. Do đó, có cơ sở xác định ông Đ đã có nguyện vọng xin nghỉ việc từ 25/4/2020 và đã nhận được thông tin nghỉ việc ngày 27/4/2020 trước 45 ngày so với ngày chấm dứt hợp đồng lao động (ngày 15/6/2020).
Từ những nhận định nêu trên, có cơ sở xác định Công ty K đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với ông Đ là có căn cứ, đúng quy định tại điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 38 của Bộ luật lao động năm 2012. Tòa cấp sơ thẩm xác định Công ty K đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật do vi phạm thời hạn báo trước và buộc Công ty K bồi thường cho ông Đ tiền lương những ngày ông Đ không được làm việc (từ ngày 16/06/2020 đến hết tháng 08/2021), bồi thường 02 tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật; đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho ông Nguyễn Sí Đ trong thời gian ông Nguyễn Sí Đ không được làm việc từ ngày 01/06/2020 đến hết tháng 08/2021 theo mức lương 7.756.300 đồng/tháng là chưa phù hợp quy định pháp luật. Tòa cấp phúc thẩm sửa phần này của bản án sơ thẩm.
Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn về việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền thưởng lễ 30/4 và 01/05 của năm 2021; Yêu cầu bồi thường 03 tháng lương do tổn thất tinh thần và nhận ông Đ trở lại làm việc; Yêu cầu tiền phụ cấp môi trường, tiền trợ cấp sinh hoạt và yêu cầu tiền lãi chậm trả trên tổng số tiền 298.100.000 đồng với lãi suất 10%/năm, chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn, sửa một phần Bản án lao động sơ thẩm số 03/2023/LĐ-ST ngày 30/3/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về án phí:
[3.1] Án phí lao động sơ thẩm:
- Công ty K không phải chịu án phí do yêu cầu của nguyên đơn không được Tòa án chấp nhận. Tòa cấp phúc thẩm sửa phần này của bản án sơ thẩm.
- Nguyên đơn - ông Nguyễn Sí Đ thuộc trường hợp được miễn án phí, lệ phí Tòa án.
[3.2] Về án phí lao động phúc thẩm:
Do sửa bản án sơ thẩm nên bị đơn - Công ty K không phải chịu án phí lao động phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 32, khoản 1 Điều 148, Điều 293, khoản 2 Điều 296, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Khoản 15, 16, 17, 24, 38, 41 và Điều 42 của Bộ luật Lao động năm 2012
Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 12; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào Luật Thi hành án Dân sự năm 2008; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn về việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền thưởng lễ 30/4 và 01/05 của năm 2021; Yêu cầu bồi thường 03 tháng lương do tổn thất tinh thần và nhận ông Đ trở lại làm việc; Yêu cầu tiền phụ cấp môi trường, tiền trợ cấp sinh hoạt và yêu cầu trả tiền lãi chậm trả trên tổng số tiền 298.100.000 đồng với lãi suất 10%/năm.
2. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn - Công ty TNHH K (Việt Nam). Sửa một phần Bản án lao động sơ thẩm số 03/2023/LĐ-ST ngày 30 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Sí Đ về việc xác định Quyết định nghỉ việc ngày 15/06/2020 của Công ty TNHH K (Việt Nam) về việc chấm dứt hợp đồng lao động với ông Nguyễn Sí Đ là trái luật; Buộc Công ty TNHH K (Việt Nam) phải thực hiện nghĩa vụ do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật đối với ông Nguyễn Sí Đ, bao gồm: Trả tiền lương trong thời gian ông Nguyễn Sí Đ không được làm việc từ ngày 16/06/2020 đến hết tháng 08/2021 là 112.466.350 đồng (14,5 tháng x 7.756.300 đồng/tháng); Bồi thường 02 tháng tiền lương là 15.512.600 đồng (02 tháng x 7.756.300 đồng/tháng); Bồi thường tiền lương 45 ngày (1,5 tháng) vi phạm thời gian không báo trước do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật tương ứng với số tiền là 11.634.450 đồng (1,5 tháng x 7.756.300 đồng/tháng); đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho ông Nguyễn Sí Đ trong thời gian ông Nguyễn Sí Đ không được làm việc từ ngày 01/06/2020 đến hết tháng 08/2021 theo mức lương 7.756.300 đồng/tháng.
2.2. Đình chỉ xét xử đối với các yêu cầu do nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện, gồm: Yêu cầu trả tiền thưởng lễ 30/4 và 01/05 của năm 2021; Yêu cầu bồi thường 03 tháng lương do tổn thất tinh thần và nhận ông Đ trở lại làm việc; Yêu cầu tiền phụ cấp môi trường, tiền trợ cấp sinh hoạt và yêu cầu tiền lãi chậm trả trên tổng số tiền 298.100.000 đồng với lãi suất 10%/năm.
3. Về án phí:
3.1. Án phí lao động sơ thẩm:
- Công ty TNHH K (Việt Nam) không phải chịu án phí lao động sơ thẩm.
- Ông Nguyễn Sí Đ thuộc trường hợp được miễn án phí lao động sơ thẩm.
3.2. Án phí lao động phúc thẩm:
Công ty TNHH K (Việt Nam) không phải chịu án phí lao động phúc thẩm. Trả lại Công ty TNHH K (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án Số AA/2022/0011140 ngày 11/4/2023 Chi cục thi hành án quận Bình Tân Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quyết định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.a
Bản án về tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động số 815/2023/LĐ-PT
| Số hiệu: | 815/2023/LĐ-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Lao động |
| Ngày ban hành: | 02/08/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về