Bản án về tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động số 80/2024/LĐ-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 80/2024/LĐ-PT NGÀY 24/07/2024 VỀ TRANH CHẤP ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

Trong ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án Lao động thụ lý số 46/2024/TLPT-LĐ, ngày 23 tháng 5 năm 2024 về việc: “Tranh chấp Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”.

Do bản án sơ thẩm số 06/2024/LĐ-ST, ngày 01 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3042/2024/QĐ-PT, ngày 18 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 9690/QĐ-PT, ngày 05 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Bích T. Sinh năm 1976. Địa chỉ: 4 đường T, phường B, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên lạc: A đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn xin xét xử vắng mặt, đơn ghi ngày 22 tháng 7 năm 2024).

2. Bị đơn: Công ty Cổ phần T3. Trụ sở chính: Tầng E, 6 Tòa nhà L, 29 đường N, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ: A đường Đ, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty Cổ phần.

Mã số doanh nghiệp: 0305781012; Đăng ký lần đầu: Ngày 10 tháng 6 năm 2008; Đăng ký thay đổi lần thứ 09, ngày 09 tháng 5 năm 2022 do Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cấp.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Seah Joo Lim R. Sinh năm 1975. Quốc tịch: Singapore. Chức vụ: Giám đốc.

Địa chỉ liên lạc: T4, D, số A Đường A, phường B, Thành phố thủ Đ, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần T3: Ông Trần Văn D. Sinh năm 1984.

Bà Trần Thị Thủy T1. Sinh năm 1996.

Địa chỉ: P, số I đường P, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy ủy quyền ngày 07 tháng 6 năm 2023).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty Cổ phần T3: Bà Đình Thị Quỳnh N. Sinh năm 1978. Luật sư Công ty L thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. Địa chỉ: P, số I đường P, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Trần Văn D, bà Trần Thị Thùy T1, Luật sư bà Đình Thị Quỳnh N cùng có đơn xin xét xử vắng mặt ghi ngày 23/7/2024).

3. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Bùi Thị Bích T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 12 tháng 5 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Bùi Thị Bích T trình bày:

Bà Bùi Thị Bích T làm việc tại Công ty Cổ phần T5 (nay là Công ty Cổ phần T3) từ năm 2008, theo Hợp đồng lao động số 165-NV/2008/HĐLĐ-TMTT, ngày 01 tháng 7 năm 2008; Vị trí công việc là nhân viên Kế toán; địa điểm làm việc tại Chi nhánh của Công ty; loại hợp đồng không xác định thời hạn.

Từ tháng 8 năm 2019, bà T được điều chuyển về vị trí Nhân viên Chứng từ hỗ trợ bán hàng, phụ trách khu vực Quận D và Quận G, địa điểm làm việc trụ sở Công ty tại 29 đường N, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình làm việc, bà T luôn hoàn thành tốt công việc của mình, hỗ trợ đồng nghiệp các phòng ban, luôn sẵn sàng tăng ca làm thêm giờ (dù không được chấm lương tăng ca) để đảm bảo hoàn thành tiến độ công việc.

Nhưng vào ngày 27 tháng 12 năm 2019, bà T nhận được Thông báo số: 372/TB-BSGTT của Công ty về việc “điều động lao động”, theo đó Công ty tự ý thay đổi công việc khác so với hợp đồng lao động, thay đổi bà T sang vị trí công việc mới là Nhân viên giao nhận bao bì - Kho B và ban hành Quyết định số 1083/QĐ-BSGTT, ngày 30 tháng 12 năm 2019 về việc “điều chuyển công tác” nhân viên theo Thông báo số 372.

Không đồng ý với việc đơn phương điều chuyển công việc khác so với hợp đồng lao động, bởi vì vị trí công việc mới không đúng với trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nên bà T khiếu nại Quyết định số 1083/QĐ-BSGTT, ngày 30 tháng 12 năm 2019. Tuy nhiên, Công ty đã không giải quyết và có hành động phớt lờ việc khiếu nại, không tôn trọng người lao động, liên tục mời bà T làm việc với thái độ doạ nạt, bắt buộc phải nhận công việc mới.

Ngày 28 tháng 02 năm 2020, Công ty tiếp tục ban hành Thông báo số 40/TB-BSGTT, yêu cầu bà T “nghỉ chờ việc” và chuyển vào danh sách “giải quyết lao động dôi dư”, Công ty đã tự động giảm tiền lương và không chi trả các khoản phúc lợi, phụ cấp là quyền lợi chính đáng mà người lao động được hưởng theo hợp đồng lao động và các chế độ, chính sách chung của Công ty với riêng cá nhân bà T. Đồng thời, Công ty đã dùng mọi biện pháp nhằm xúc phạm, chèn ép, buộc bà T, người lao động làm việc lâu năm, có thâm niên, vững chuyên môn nghiệp vụ, nhằm mục đích để bà T phải tự nguyện xin thôi việc.

Ngày 28 tháng 12 năm 2020, Công ty tiếp tục ban hành Thông báo số 399/TB-BSGTT, thông báo cho bà T biết về việc Công ty đơn phương thay đổi mức lương chi trả cho người lao động mà không có bất kỳ một sự thỏa thuận nào với bà T.

Ngày 28 tháng 4 năm 2021, sau một quãng thời gian dài bà T khiếu nại và cầu cứu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tại phiên hòa giải do Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội của Ủy ban nhân dân Quận A, phía Công ty thừa nhận đã có hành vi sai phạm đối với bà T, đã vi phạm các quy định của pháp luật lao động, vi phạm Hợp đồng lao động số 165-NV/2008/HĐLĐ-TMTT và Công ty C1 khắc phục theo thỏa thuận đã đạt được.

Liên tục thời gian sau đó, Công ty đã có những hành vi lấp liếm, xem thường, không tôn trọng bà T, cố tình kéo dài việc bố trí lại công việc theo hợp đồng lao động bằng cách đề nghị các vị trí công việc mới không đúng với chuyên môn nghiệp vụ, không đúng công việc trên hợp đồng lao động, thậm chí không phù hợp với sức khỏe, tuổi tác, nhằm mục đích gây khó khăn cho bà T dù bà T đã vô cùng kiên nhẫn, thiện chí chờ đợi, nhưng Công ty lại ngang nhiên sắp xếp người lao động khác vào làm việc, tuyển nhân sự mới. Hơn nữa đưa ra lý do rằng Công ty tái cấu trúc sơ đồ tổ chức, thay đổi tên gọi các vị trí công việc để xác định công việc trên hợp đồng lao động không còn và bắt buộc người lao động phải chấm nhận, cố ý nói rằng người lao động không đồng ý nhận việc, đây là hành động “qua mặt” pháp luật, vi phạm nghiêm trọng pháp luật lao động của một Công ty có vị thế và danh tiếng trên thị trường. Việc này đã gây tổn thương nghiêm trọng về tinh thần và sức khỏe, dẫn đến bà T bị mất ngủ và suy nhược một thời gian dài phải điều trị y tế, bởi bà T đã gắn bó với Công ty từ những ngày đầu tiên thành lập đến nay đã gần hai mươi lăm năm, bản thân là mẹ đơn thân đang nuôi hai con nhỏ ăn học, cần một công việc ổn định và đã quá tuổi để có thể tìm kiếm một công việc khác. Việc gây tổn thương nghiêm trọng về tinh thần và sức khỏe được bà T khám qua ứng dụng trên điện thoại, bà T sẽ cung cấp thông tin sau cho Tòa án.

Ngày 28 tháng 02 năm 2022, bà **T nhận được email từ tài khoản [email protected], tên Tran P - TrungTam, có nội dung “Công ty sẽ chấm dứt hợp đồng lao động với bà T từ ngày 01/4/2022”, lý do được nêu ra là mất việc làm do thay đổi cấu trúc Công ty theo Điều 42 Bộ luật lao động 2019.

Nhận thấy việc Công ty ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động căn cứ theo Điều 42 Bộ luật Lao động 2019 là không đúng với quy định pháp luật lao động và không có sự thương lượng, thỏa thuận với bà T, đây là hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Tại vị trí công việc do bà T đảm nhận tại Công ty T6 (năm) người lao động đang làm việc, không phải là Công ty đã cắt giảm hoàn toàn như Công ty trình bày đã thay đổi cơ cấu.

Nay bà T khởi kiện yêu cầu Tòa giải quyết những vấn đề sau:

1. Buộc Công ty Cổ phần T3 thu hồi Quyết định số 326/QĐ-BSGTT, ngày 30 tháng 3 năm 2022 về việc chấm dứt hợp đồng lao động, bố trí lại vị trí công việc theo đúng Hợp đồng lao động số 165-NV/2008/HĐLĐ-TMTT.

2. Thanh toán tiền lương trong những ngày bà T không được làm việc theo Hợp đồng lao động số 57/2010/HĐLĐ-TC, tính từ ngày Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động cho đến khi có quyết định/bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án có thẩm quyền, tạm tính từ ngày 01 tháng 4 năm 2022 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2023 với số tiền: 11.300.000 đồng x 21 tháng = 237.300.000 đồng.

3. Đóng bổ sung bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày nguyên đơn không được làm việc.

4. Bồi thường 06 tháng tiền lương do hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với số tiền: 11.300.000 đồng x 06 tháng = 67.800.000 đồng.

Tổng cộng số tiền yêu cầu, tạm tính từ ngày 01 tháng 4 năm 2022 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2023 là 305.100.000 đồng.

5. Trong trường hợp Công ty không muốn nhận lại người lao động, bà T yêu cầu khoản tiền bồi thường 36 tháng lương theo hợp đồng lao động (bao gồm: tiền lương, khoản thu nhập khác tương đương lương) để chấm dứt hợp đồng lao động với số tiền: 11.300.000 đồng x 36 tháng = 406.800.000 đồng.

6. Yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần do hành vi thiếu tôn trọng, chèn ép của Công ty đối với bà T trong suốt thời gian dài mà bà T đã phải gánh chịu, với số tiền là 1.490.000 đồng.

Theo bản khai và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty Cổ phần T3 trình bày:

Ngày 01 tháng 7 năm 2008, Công ty Cổ phần T3 và bà Bùi Thị Bích T ký Hợp đồng lao động không xác định thời hạn số 165-NV/2008/HDLĐ-TMTT, với vị trí công việc là Nhân viên Kế toán của Chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 30 tháng 5 năm 2019, Công ty quyết định chấm dứt hoạt động của Chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh - Công ty Cổ phần T3 (Chi nhánh mà bà T làm việc). Chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh đã hoàn tất thủ tục thông báo chấm dứt hoạt động, đóng mã số thuế từ ngày 30 tháng 8 năm 2019.

Nhằm tạo công ăn việc làm cho bà T khi Chi nhánh bị chấm dứt hoạt động. Ngày 03 tháng 8 năm 2019, Công ty ban hành Quyết định điều chuyển công tác nhân viên số 573/QĐ-BSGTT. Theo đó, bà T được chuyển qua công việc mới là Nhân viên Chứng từ Hỗ trợ bán hàng (Quận D, Quận G) thuộc Phòng Kinh doanh từ ngày 05 tháng 8 năm 2019, bà T không có ý kiến gì về việc điều chuyển này và đồng ý làm việc theo công việc mới.

Ngày 30 tháng 12 năm 2019, khi đang trong quá trình tái cơ cấu, Công ty ban hành Quyết định điều chuyển công tác nhân viên số 1083/QĐ-BSGTT. Theo đó, bà T được chuyển qua công việc mới là Nhân viên giao nhận bao bì thuộc kho B, điều chỉnh hệ số lương theo vị trí công việc mới tương ứng là 1.60, ngạch lương C.02 (Hệ số lương trước đó là 2.26, ngạch lương B.01) kể từ ngày 02 tháng 01 năm 2020.

Không đồng ý với Quyết định điều chuyển công tác nhân viên số 1083/QĐ-BSGTT, từ ngày 30 tháng 01 năm 2020 đến ngày 30 tháng 3 năm 2020, bà T khiếu nại và Công ty đã tiến hành nhiều cuộc họp để trả lời khiếu nại, cũng như để sắp xếp công việc mới cho bà T. Lắng nghe tâm tư nguyện vọng và để đảm bảo thu nhập cho bà T, Công ty ban hành Quyết định số 73/QĐ-BSGTT, ngày 10 tháng 02 năm 2020 điều chỉnh giữ nguyên lương cho bà T, với hệ số như cũ là 2.26, ngạch lương B.01.

Trong các cuộc họp giải quyết sắp xếp công việc mới cho bà T, Công ty đã nói rõ cho bà T hiểu là do Công ty đang có phương án tái cấu trúc, nên sẽ không còn vị trí Nhân viên Chứng từ Hỗ trợ bán hàng. Với mong muốn tạo cơ hội cho người lao động tiếp tục làm việc, Công ty đã đề nghị nhiều vị trí công việc để bà T chọn như: Nhân viên Kiểm tra Giám sát thị trường, Nhân viên Phát triển thị trường, Nhân viên Quản lý Nhóm Khách hàng chiến lược. Đồng thời, Công ty cũng cam kết sẽ đào tạo lại người lao động để phù hợp với công việc mới. Các vị trí này đều phù hợp với trình độ chuyên môn, năng lực mà bà T đang làm, đặc biệt vị trí Nhân viên Quản lý Nhóm khách hàng chiến lược là vị trí hoàn toàn mới, nổi bật trong định hướng phát triển mới của Công ty tại thời điểm đó. Tuy nhiên, bà T từ chối không nhận bất kỳ công việc nào. Do đó, ngày 28 tháng 02 năm 2020, Công ty ban hành Thông báo số 40/TB-BSGTT, theo đó thông báo cho bà T sẽ nghỉ chờ việc từ ngày 01 tháng 3 năm 2020, tiền lương trong thời gian nghỉ chờ việc sẽ theo hệ số lương nhân với mức lương tối thiểu vùng do Nhà nước quy định (tương ứng 88.4% lương trước khi nghỉ chờ việc).

Ngày 30 tháng 7 năm 2020, Hội đồng quản trị Công ty T3 ban hành Nghị quyết thay đổi cơ cấu tổ chức. Theo cơ cấu tổ chức mới của Công ty, không còn tồn tại Phòng Kinh doanh nói chung và vị trí Nhân viên Chứng từ Hỗ trợ bán hàng nói riêng.

Ngày 28 tháng 12 năm 2020, Công ty ban hành Thông báo số 399/TB-BSGTT. Theo đó, thông báo điều chỉnh mức lương chi trả cho bà T bằng mức lương tối thiểu vùng cộng 7% đối với lao động đã qua đào tạo (tương ứng 41.9% - 45.9% lương trước khi nghỉ chờ việc) từ ngày 01 tháng 01 năm 2021.

Do không đồng ý với các thông báo từ Công ty, nên bà T đã yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động. Ngày 28 tháng 4 năm 2021, Công ty và bà T tham gia buổi hòa giải tranh chấp lao động tại Phòng 1. Tại buổi làm việc, bà T yêu cầu Công ty chi trả khoản chênh lệch lương, các khoản phụ cấp, thưởng, phúc lợi; đóng đủ Bảo hiểm xã hội theo hợp đồng lao động đã ký từ tháng 3 năm 2020 đến nay. Công ty đồng ý với yêu cầu của bà T và đã thực hiện hoàn tất theo nội dung các bên đã thống nhất tại biên bản hòa giải.

Ngày 24 tháng 02 năm 2022, Công ty hoàn tất việc nộp hồ sơ thay đổi cơ cấu tổ chức, tổ chức lại lao động đến Ủy ban nhân dân Thành phố H (Hồ sơ bao gồm phương án sử dụng lao động đã được Công đoàn Cơ sở của Công ty xác nhận đồng ý). Trong phương án sử dụng lao động, có 03 (ba) người lao động bị mất việc làm do thay đổi cơ cấu Công ty, trong đó bao gồm bà T. Theo đó, Công ty đã tiến hành việc thay đổi cơ cấu tổ chức, tổ chức lại lao động theo các bước, trình tự đúng quy định pháp luật.

Ngày 28 tháng 02 năm 2022, Công ty đã gửi email đến bà T ([email protected]) để thông báo chấm dứt hợp đồng lao động kèm theo phương án sử dụng lao động và các bảng tính các khoản trợ cấp cho người lao động mất việc do thay đổi cấu trúc Công ty.

Ngày 30 tháng 3 năm 2022, Công ty ban hành Quyết định số 326/QĐ-BSGTT về việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà T do thay đổi cơ cấu Công ty. Theo đó, công việc của bà T tại Công ty T3 sẽ chấm dứt kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2022; các quyền lợi của bà T được tính đến hết ngày 31 tháng 3 năm 2022.

Bà T cho rằng Công ty lấy lý do tái cấu trúc để thay đổi tên gọi các vị trí công việc, nhằm xác định công việc trên hợp đồng lao động không còn. Do đó, bà T cho rằng Quyết định số 326/QĐ-BSGTT về việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà T được ban hành không đúng quy định pháp luật, Công ty đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bà T trái pháp luật. Vì vậy, bà T khởi kiện yêu cầu Công ty: Thu hồi Quyết định số 326/QĐ-BSGTT, ngày 30 tháng 3 năm 2022 về việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà T, bố trí lại công việc theo đúng hợp đồng lao động; Thanh toán tiền lương trong những ngày không được làm việc theo hợp đồng lao động, tạm tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2022 là 101.700.000 đồng; Đồng thời đóng bổ sung Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm tai nạn; Bồi thường 06 tháng tiền lương, tạm tính là 67.800.000 đồng; Trong trường hợp Công ty không nhận người lao động vào làm việc thì bồi thường 36 tháng lương theo hợp đồng lao động, tạm tính là 406.800.000 đồng.

Về căn cứ thay đổi cơ cấu, tổ chức lại lao động: Công ty T3 được thành lập ban đầu là doanh nghiệp nhà nước. Đến năm 2017, sau khi Nhà nước thoái vốn khỏi Tổng Công ty Cổ phần B (Công ty mẹ của Công ty T3) (“Công ty S”), Công ty V (Nhà đầu tư Thái Lan là chủ sở hữu) trở thành cổ đông lớn nhất nắm giữ 53,59% cổ phần. Đây là bước chuyển mình lớn đối với Công ty S khi đã bán trên 50% cổ phần cho một đối tác nước ngoài. Việc cổ phần hóa Công ty S là chủ trương lớn của Nhà nước để tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Sau khi Nhà đầu tư nước ngoài nắm quyền quản lý Công ty S, đã bắt đầu kế hoạch thay đổi cơ cấu quản trị, cơ cấu tổ chức trong Công ty S và các công ty con khác trong cùng tập đoàn, trong đó bao gồm Công ty T3 là bị đơn. Từ năm 2019 dịch Covid-19 diễn ra và Nghị định số 100/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt (trong đó có mức phạt của người uống rượu bia điều khiển phương tiện) đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình kinh doanh trên thực tế lẫn giá trị cổ phiếu trên thị trường chứng khoán của Công ty S. Do đó, hướng đến mục tiêu cắt giảm chi phí, tăng lợi nhuận, việc thay đổi cơ cấu quản trị, cơ cấu tổ chức, tổ chức lại lao động của Công ty S và các Công ty con khác trong cùng tập đoàn, trong đó bao gồm Công ty T3, một lần nữa được đặt ra và thực hiện.

Về việc thay đổi cơ cấu tổ chức, tổ chức lại lao động của Công ty dẫn đến mất việc làm của bà T như đã trình bày tại phần tóm tắt vụ việc nêu trên, việc thay đổi cơ cấu tổ chức, tổ chức lại lao động được thực hiện cho toàn bộ Công ty T3. Theo cơ cấu tổ chức mới, không còn tồn tại Phòng Kinh doanh nói chung và vị trí Nhân viên Chứng từ Hỗ trợ bán hàng nói riêng - vị trí và bộ phận mà bà T đang làm việc. Trong quá trình tái cơ cấu, Công ty đã cố gắng tối đa sắp xếp, bố trí lao động phù hợp với cơ cấu tổ chức mới. Trường hợp của bà T, Công ty đã tìm nhiều công việc khác nhau như đã nêu ở phần tóm tắt để cho bà T lựa chọn nhưng bà T đều không đồng ý chấp nhận (Lý do bà T đưa ra: Vị trí Nhân viên Phát triển Thị trường, Nhân viên Kiểm tra giám sát thị trường chỉ phù hợp với nam, không phù hợp với nữ, còn vị trí Nhân viên Quản lý Nhóm khách hàng chiến lược (đa phần nữ ứng tuyển) thì bà T không nêu được lý do từ chối). Bà T yêu cầu Công ty phải bố trí bà T làm đúng vị trí công việc theo hợp đồng lao động, mặc dù vị trí này không còn sau khi Công ty tiến hành thay đổi cơ cấu tổ chức. Thời điểm kinh doanh bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, Công ty đã phải sắp xếp cho hơn 250 người lao động nghỉ, ngừng việc, thu nhập của người lao động bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, Công ty vẫn duy trì cho bà T nghỉ chờ việc với mức lương không thay đổi, để bảo đảm thu nhập cho bà T trong giai đoạn khó khăn chung. Tháng 10 năm 2021, khi tình hình Covid-19 dần được kiểm soát, Công ty đã có thiện chí để bà T nhận các công việc nêu trên, nhưng bà T tiếp tục từ chối.

Với các lý do trên, Công ty T3 thấy rằng không thể sắp xếp công việc mới cho bà T để tiếp tục sử dụng mà buộc phải đưa bà T vào danh sách người lao động mất việc làm do thay đổi cơ cấu, tổ chức lại lao động.

Về việc Công ty không tuyển dụng lao động mới cho vị trí Nhân viên Chứng từ Hỗ trợ bán hàng của bà T đang làm việc: Trên thực tế, từ ngày hoàn tất việc nộp hồ sơ thay đổi cơ cấu tổ chức, tổ chức lại lao động đến Ủy ban Nhân dân Thành phố H, Công ty đã không còn tồn tại Phòng Kinh doanh và không còn bất kỳ người lao động nào của Công ty làm việc với vị trí Nhân viên Chứng từ Hỗ trợ bán hàng tại Phòng Kinh doanh - bộ phận mà bà T đang làm việc. Trường hợp bà T cho rằng Công ty T7 mới cho vị trí có yêu cầu công việc tại vị trí của bà T, đề nghị bà Thủy cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh.

Từ các căn cứ nêu trên, Công ty khẳng định rằng Công ty đã tiến hành thay đổi cơ cấu tổ chức, tổ chức lại lao động, dẫn đến không còn tồn tại Phòng Kinh doanh, cũng như vị trí Nhân viên Chứng từ Hỗ trợ bán hàng. Việc thay đổi cơ cấu tổ chức, tổ chức lại lao động có ảnh hưởng trực tiếp đến công việc của những người lao động thuộc Phòng Kinh doanh (trong đó có bà T). Do đó, Công ty đã chấm dứt hợp đồng lao động với bà T do thay đổi cơ cấu tổ chức, tổ chức lại lao động đúng theo quy định pháp luật. Vì vậy, bà T không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T.

Về ý kiến của bà T cho rằng tại vị trí công việc do bà T đảm nhận tại Công ty Cổ phần T3 thực tế có 05 (năm) người lao động đang làm việc, không phải là Công ty đã cắt giảm hoàn toàn như Công ty trình bày đã thay đổi cơ cấu thì Công ty đề nghị bà T phải cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho Tòa án.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn bà Bùi Thị Bích T giữ nguyên các ý kiến đã trình bày trước đây và rút một phần yêu cầu khởi kiện theo đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 01 tháng 3 năm 2024 như sau:

- Rút yêu cầu Công ty bồi thường 04 tháng tiền lương do hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với số tiền: 11.300.000 đồng x 4 tháng = 45.200.000 đồng.

- Rút yêu cầu Công ty bồi thường 36 tháng lương theo hợp đồng lao động (bao gồm: tiền lương, khoản thu nhập khác tương đương lương) để chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp Công ty không muốn nhận lại người lao động, với số tiền: 11.300.000 đồng x 36 tháng = 406.800.000 đồng.

Rút yêu cầu Công ty bồi thường tổn thất về tinh thần do hành vi thiếu tôn trọng, chèn ép của Công ty đối với bà T trong suốt thời gian dài mà bà T đã phải gánh chịu, với số tiền là 1.490.000 đồng.

Nguyên đơn bà Bùi Thị Bích T giữ nguyên các yêu cầu như sau:

- Buộc Công ty Cổ phần T3 thu hồi Quyết định số 326/QĐ-BSGTT, ngày 30 tháng 3 năm 2022 về việc chấm dứt hợp đồng lao động, bố trí lại vị trí công việc theo đúng Hợp đồng lao động số 165-NV/2008/HĐLĐ-TMTT.

- Thanh toán tiền lương trong những ngày bà T không được làm việc theo Hợp đồng lao động số 57/2010/HĐLĐ-TC, tính từ ngày Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động cho đến khi có quyết định/bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án có thẩm quyền, tính từ ngày 01 tháng 4 năm 2022 đến hết ngày 29 tháng 02 năm 2024, với số tiền: 11.300.000 đồng x 23 tháng = 259.900.000 đồng; Bồi thường 02 tháng tiền lương do hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với số tiền 22.600.000 đồng. Tổng cộng là 282.500.000 đồng.

- Đóng bổ sung bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày bà T không được làm việc.

Ngoài những yêu cầu khởi kiện nêu trên, bà T xác định không còn yêu cầu nào khác.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Bùi Thị Bích T là Luật sư Nguyễn Thị Bích P1 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T do Công ty đã có hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với bà T như bà T đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.

Bà T trình bày ý kiến bổ sung mong muốn được tiếp tục làm việc ở vị trí nhân viên kế toán theo đúng hợp đồng lao động, phòng kế toán còn thì vị trí kế toán phải còn, bà T nhận thấy mình vẫn phù hợp với vị trí kế toán và không đồng ý làm ở vị trí công việc nào khác.

Công ty giữ nguyên các ý kiến đã trình bày, không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T. Công ty không có yêu cầu phản tố. Người đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần T3 trình bày ý kiến tranh luận:

- Về căn cứ để tái cơ cấu, thì sơ đồ tái cơ cấu của Công ty đã được Công ty nộp đầy đủ thể hiện qua hồ sơ gửi cho Sở Lao động Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty đã có thời gian dài thương lượng với người lao động và bố trí công việc cho người lao động nhưng không được, nên sau đó Công ty mới thực hiện tái cơ cấu lại lao động.

- Theo điểm 1 Khoản 2 Điều 149 của Luật Doanh nghiệp thì Hội đồng quản trị Công ty có quyền quyết định phê duyệt cơ cấu tổ chức của Công ty, còn điểm i Khoản 2 Điều 135 của Luật Doanh nghiệp quy định về tổ chức lại, giải thể công ty, không liên quan gì đến cơ cấu lại Công ty.

- Về nghĩa vụ báo trước theo Điều 45 của Bộ luật lao động năm 2019, bị đơn không đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với nguyên đơn, mà bị đơn là thay đổi cơ cấu, công nghệ, do đó, bị đơn chỉ thông báo cho nguyên đơn trước 30 ngày là đúng theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật lao động năm 2019.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến như sau:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự đều tuân theo đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Bích T.

Tại bản án lao động sơ thẩm số 06/2024/LĐ-ST, ngày 01 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 32, điểm c Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 244, Điều 271 và Khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 26, 27, 28, 29, 30, 33 của Bộ luật Lao động năm 1994 được sửa đổi, bổ sung năm 2002 (các Điều 13, 14, 15, 18, 20, 21 và 23 của Bộ luật Lao động năm 2019);

Căn cứ vào Khoản 11 Điều 34, Điều 42, Điều 44, Điều 47, Điều 48 và Khoản 2 Điều 63 của Bộ luật Lao động năm 2019;

Căn cứ vào Điều 149 của Luật Doanh nghiệp năm 2014;

Căn cứ vào Điều 9 của Luật Công đoàn năm 2012;

Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 12, Khoản 1 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Bích T về việc:

Buộc bị đơn Công ty Cổ phần T3 thu hồi Quyết định số 326/QĐ-BSGTT, ngày 30 tháng 3 năm 2022 về việc chấm dứt hợp đồng lao động, bố trí lại vị trí công việc cho bà Bùi Thị Bích T theo đúng Hợp đồng lao động số 165-NV/2008/HDLĐ-TMTT, ngày 01 tháng 7 năm 2008.

Thanh toán tiền lương trong những ngày bà Bùi Thị Bích T không được làm việc theo Hợp đồng lao động số 57/2010/HDLĐ-TC, tính từ ngày Công ty Cổ phần T3 đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động cho đến khi có Quyết định/Bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án có thẩm quyền, từ ngày 01 tháng 4 năm 2022 đến hết ngày 29 tháng 02 năm 2024, với số tiền: 11.300.000 đồng x 23 tháng = 259.900.000 đồng;

Bồi thường 02 (hai) tháng tiền lương do hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với số tiền 22.600.000 đồng.

Tổng cộng là 282.500.000 đồng.

Đóng bổ sung bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày bà Bùi Thị Bích T không được làm việc.

2. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Bích T về việc:

Yêu cầu Công ty Cổ phần T3 bồi thường 04 tháng tiền lương do hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với số tiền: 11.300.000 đồng x 04 tháng = 45.200.000 đồng.

Yêu cầu Công ty Cổ phần T3 bồi thường 36 tháng lương theo hợp đồng lao động (bao gồm: tiền lương, khoản thu nhập khác tương đương lương) để chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp Công ty không muốn nhận lại người lao động với số tiền: 11.300.000 đồng x 36 tháng = 406.800.000 đồng.

Yêu cầu Công ty Cổ phần T3 bồi thường tổn thất về tinh thần do hành vi thiếu tôn trọng, chèn ép của Công ty đối với bà Bùi Thị Bích T trong suốt thời gian dài mà bà Bùi Thị Bích T đã phải gánh chịu với số tiền là 1.490.000 đồng.

3. Về án phí: Bà Bùi Thị Bích T được miễn nộp tiền tạm ứng án phí. Công ty Cổ phần T3 không phải chịu tiền án phí lao động sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân các cấp có quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ngày 01/3/2023, nguyên đơn bà Bùi Thị Bích T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh với lý do: Tòa sơ thẩm giải quyết không đúng với các tình tiết khách quan của vụ án, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đã xâm phạm đến lợi ích của người lao động.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bên đương sự trong vụ án được triệu tập tham gia phiên tòa phúc thẩm đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa phúc thẩm chấp nhận đề nghị trên và giải quyết phúc thẩm vụ án theo luật định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc chấp hành pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn phúc thẩm như sau:

Về tố tụng: Kháng cáo của nguyên đơn được thực hiện trong thời hạn luật định là hợp lệ, trường hợp kháng cáo của nguyên đơn không phải nộp tạm ứng phí phúc thẩm, đủ điều kiện để được xem xét kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận thấy rằng Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã giải quyết đúng quan hệ pháp luật có tranh chấp, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ đúng quy định. Kháng cáo do nguyên đơn nêu ra trong đơn và tại phiên tòa phúc thẩm không có căn cứ nên không được chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[I] Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Bùi Thị Bích T được thực hiện trong thời hạn luật định là hợp lệ, nguyên đơn được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, đủ điều kiện để được xem xét kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

[II] Về nội dung giải quyết vụ án:

[1] Xem xét kháng cáo của nguyên đơn bà Bùi Thị Bích T cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết vụ án không khách quan, không xem xét toàn diện đến quan hệ pháp luật về lao động có tranh chấp, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Bà Bùi Thị Bích T làm việc tại Công ty Cổ phần T5 (nay là Công ty Cổ phần T3) từ năm 2008, các bên có xác lập hợp đồng lao động số 165-NV/2008/HDLĐ-TMTT, loại hợp đồng không xác định thời hạn; vị trí công việc là Nhân viên kế toán, địa điểm làm việc tại Chi nhánh của công ty từ ngày 01 tháng 7 năm 2008.

Đến tháng 8/2019, bà T được điều chuyển về làm việc ở vị trí nhân viên chứng từ hỗ trợ bán hàng, phụ trách khu vực Quận D và Quận G; trụ sở làm việc tại số B đường N, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình làm việc, ngày 30/7/2020, Hội đồng quản trị Công ty của bị đơn ban hành Nghị quyết số 744/NQ-HĐQT/BSGTT về việc duyệt cơ cấu tổ chức mới. Theo đó, đơn vị không còn tồn tại phòng kinh doanh và vị trí nhân viên chứng từ hỗ trợ bán hàng và nhân viên nghiệp vụ quản lý bao bì - kho. Cho nên việc Hội đồng quản trị của Công ty ban hành Nghị quyết trên là phù hợp với quy định tại điểm e Khoản 2 Điều 149 Luật Doanh nghiệp năm 2014. Ngoài ra, theo sơ đồ tổ chức trước và sau tái cơ cấu thì các nhân viên thuộc bộ phận chứng từ hỗ trợ khách hàng, nhân viên nghiệp vụ quản lý bao bì - kho hàng không còn tồn tại.

Ngày 07/01/2022, Công ty Cổ phần T3 gửi công văn số 09/CV-BSGTT đến Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc thực hiện chính sách mất việc làm đối với người lao động và được Sở Lao động Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh hướng dẫn thực hiện phương án sử dụng lao động theo công văn số 5962/SLĐTBXH, ngày 21 tháng 02 năm 2022. Sau đó, Sở Lao động Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh đã có công văn số 9503/SLĐTBXH-LĐ, ngày 16 tháng 3 năm 2023 về việc thông báo cho người lao động thôi việc theo quy định tại Khoản 6 Điều 42 Bộ Luật lao động năm 2019.

Mặt khác, trước khi ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động đối với nguyên đơn, phía người sử dụng lao động là Công ty Cổ phần T8 đã tiến hành các buổi đối thoại với người lao động theo quy định tại Khoản 2 Điều 63 Bộ Luật lao động (2019); đồng thời đã tiến hành sắp xếp bà Bùi Thị Bích T làm việc tại vị trí công việc khác và cam kết đào tạo lại để phù hợp với công việc chuyên môn của người lao động, nhưng bà T không đồng ý; vì lý do trên đơn vị chủ quản là Công ty Cổ phần T8 đã ban hành Quyết định số 326/QĐ-BSGTT, ngày 30/3/2022 về việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với diễn biến thực tế của sự việc. Vì lý do trên, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn cho rằng bị đơn không bố trí công việc theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng lao động số 165/NV/2008/HDLĐ-TMTT, ngày 01/7/2008, sau đó lại ban hành Quyết định số 326/QĐ-BSGTT, ngày 30 tháng 3 năm 2022 về việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với nguyên đơn, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn không được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận. Cần giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm như đề nghị về đường lối giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được phân công tham gia tại phiên tòa.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 32, điểm c Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 244, Điều 271 và Khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 26, 27, 28, 29, 30, 33 của Bộ luật Lao động năm 1994 được sửa đổi, bổ sung năm 2002 (các Điều 13, 14, 15, 18, 20, 21 và 23 của Bộ luật Lao động năm 2019);

Căn cứ vào Khoản 11 Điều 34, Điều 42, Điều 44, Điều 47, Điều 48 và Khoản 2 Điều 63 của Bộ luật Lao động năm 2019;

Căn cứ vào Điều 149 của Luật Doanh nghiệp năm 2014;

Căn cứ vào Điều 9 của Luật Công đoàn năm 2012;

Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 12, Khoản 1 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Bùi Thị Bích T. Giữ nguyên các quyết định của bản án lao động sơ thẩm số 06/LĐ-ST ngày 01 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Như sau:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Bích T về việc:

- Buộc bị đơn Công ty Cổ phần T3 thu hồi Quyết định số 326/QĐ-BSGTT, ngày 30 tháng 3 năm 2022 về việc chấm dứt hợp đồng lao động, bố trí lại vị trí công việc theo đúng Hợp đồng lao động số 165-NV/2008/HDLĐ-TMTT, ngày 01 tháng 7 năm 2008.

- Thanh toán tiền lương trong những ngày bà Bùi Thị Bích T không được làm việc theo Hợp đồng lao động số 57/2010/HDLĐ-TC, tính từ ngày Công ty Cổ phần T3 đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động cho đến khi Bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án có thẩm quyền, từ ngày 01 tháng 4 năm 2022 đến hết ngày 29 tháng 02 năm 2024, với số tiền: 11.300.000 đồng x 23 tháng = 259.900.000 đồng;

- Bồi thường 02 (hai) tháng tiền lương do hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với số tiền 22.600.000 đồng.

Tổng cộng là 282.500.000 đồng.

- Đóng bổ sung bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày bà Bùi Thị Bích T không được làm việc.

2. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Bích T về việc:

- Yêu cầu Công ty Cổ phần T3 bồi thường 04 tháng tiền lương do hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với số tiền: 11.300.000 đồng x 4 tháng = 45.200.000 đồng.

- Yêu cầu Công ty Cổ phần T3 bồi thường 36 tháng lương theo hợp đồng lao động (bao gồm: tiền lương, khoản thu nhập khác tương đương lương) để chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp Công ty không muốn nhận lại người lao động với số tiền: 11.300.000 đồng x 36 tháng = 406.800.000 đồng.

- Yêu cầu Công ty Cổ phần T3 bồi thường tổn thất về tinh thần do hành vi thiếu tôn trọng, chèn ép của Công ty đối với bà Bùi Thị Bích T trong suốt thời gian dài mà bà Bùi Thị Bích T đã phải gánh chịu với số tiền là 1.490.000 đồng.

3. Về án phí lao động sơ thẩm và phúc thẩm: Bà Bùi Thị Bích T được miễn nộp án phí. Công ty Cổ phần T3 không phải chịu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử phúc thẩm có hiệu lực thi hành ngay sau khi tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

501
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động số 80/2024/LĐ-PT

Số hiệu:80/2024/LĐ-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Lao động
Ngày ban hành:24/07/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về