Bản án về tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động số 74/2024/LĐ-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 74/2024/LĐ-PT NGÀY 03/07/2024 VỀ TRANH CHẤP ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

Trong ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 39/2024/TLPT-LĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024, về việc: "Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động".

Do Bản án lao động sơ thẩm số 2088/2023/LĐ-ST ngày 05 tháng 10 năm 2023, V/v "Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động" của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2698/2024/QĐ-PT ngày 20 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 8892/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa:

- Nguyên đơn: ông Hồ Ngọc C, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số E, Quốc lộ A, Khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: ông Lê Hữu N, sinh năm 1996; Theo Hợp đồng ủy quyền số công chứng 008106, quyển số 09/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23/9/2022, lập tại Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ: Số B, đường N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Công ty Cổ phần Đầu tư Địa ốc Vạn Phúc.

Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: ông Phạm D; Chức vụ: Tổng Giám đốc. Địa chỉ trụ sở: Số F - F đường Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Lê Thị Thanh T, sinh năm 1990; Theo Giấy ủy quyền ngày 20/5/2024 lập bởi Công ty Cổ phần Đ1. Địa chỉ liên hệ: Số F - F, đường Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người kháng cáo: ông Hồ Ngọc C - Nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 01/01/2010, nguyên đơn bắt đầu làm việc tại Công ty Cổ phần Đ1 (sau đây viết tắt là Công ty). Các bên đã tiến hành ký kết nhiều Hợp đồng lao động và đóng bảo hiểm xã hội cho nguyên đơn kể từ thời điểm ký hợp đồng. Sau đó, nguyên đơn tiếp tục làm việc tại Công ty với vị trí nhân viên. Như vậy, nguyên đơn và bị đơn đã xác lập hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Trong suốt quá trình làm việc tại Công ty, nguyên đơn luôn tuân thủ các quy định nội bộ của bị đơn cũng như hoàn thành tốt các công việc được giao. Mức lương gần nhất mà nguyên đơn được nhận (mức lương trong năm 2021) là 17.000.000 đồng/tháng.

Ngày 28/10/2021, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Người đại diện theo pháp luật của Công ty bất ngờ ban hành Quyết định số 92/2021/QĐ-VP về việc chấm dứt hợp đồng lao động, có nội dung: "Nay chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông Hồ Ngọc C - Chuyên viên Phòng Pháp lý bồi thường kể từ ngày 01/11/2021. Lý do: Không tuân thủ quy định của Công ty gây hậu quả nghiêm trọng". Việc chấm dứt hợp đồng lao động của bị đơn là không có căn cứ pháp lý và không đúng thực tế. Bởi lẽ, trong suốt quá trình làm việc, nguyên đơn luôn hoàn thành tốt công việc được giao và không có hành vi "không tuân thủ quy định" gây hậu quả nghiêm trọng như phía bị đơn đưa ra. Mặt khác, khi ban hành Quyết định số 92/2021/QĐ-VP ngày 28/10/2021 về việc chấm dứt hợp đồng lao động, bị đơn chỉ báo trước 04 ngày, là vi phạm thời hạn báo trước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2019. Nay, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn cụ thể như sau:

1/ Buộc bị đơn bồi thường cho nguyên đơn 02 (hai) tháng tiền lương do hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, tương ứng: 17.000.000 đồng x 02 tháng = 34.000.000 đồng;

2/ Buộc bị đơn phải nhận nguyên đơn trở lại làm việc. Thanh toán toàn bộ tiền lương trong những ngày nguyên đơn không được làm việc, tính từ ngày 01/11/2021 đến ngày Tòa án tiến hành xét xử sơ thẩm, tạm tính đến ngày 15/05/2023, tương đương 18,5 tháng: 17.000.000 đồng x 18,5 tháng = 314.500.000 đồng;

3/ Buộc bị đơn phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho nguyên đơn trong suốt khoảng thời gian từ ngày 01/11/2021 đến ngày nguyên đơn được nhận trở lại làm việc;

4/ Buộc bị đơn phải trả khoản tiền tương ứng với tiền lương trong 41 ngày không báo trước, tương đương: (17.000.000 đồng : 22 ngày làm việc/tháng) x 41 ngày = 31.682.000 đồng;

Tổng số tiền (tạm tính) mà bị đơn phải bồi thường cho nguyên đơn là 380.182.000 đồng.

* Phía bị đơn có người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Bị đơn thừa nhận có ký hợp đồng lao động với nguyên đơn, với mức lương cơ bản: 4.360.000 đồng. Sau đó, nguyên đơn được tăng lương 02 lần theo Quyết định số 01/2019/QĐ-VP ngày 01/01/2019 và Quyết định số 01/2019/QĐ-VP ngày 02/01/2020, mức lương tại thời điểm 06 tháng gần nhất khi nguyên đơn nghỉ việc và đóng bảo hiểm xã hội là 4.729.000 đồng. Đối với yêu cầu của nguyên đơn cho rằng việc bị đơn sa thải trái pháp luật do chấm dứt hợp đồng lao động với nguyên đơn là không đúng. Trước Quyết định số 92/2021/QĐ-VP ngày 28/10/2021 thì Tổng Giám đốc Công ty đã ban hành Quyết định số 91/2021/QĐ-VP ngày 14/10/2021 về việc chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn với nguyên đơn nhưng trong quá trình giải quyết cho nguyên đơn thôi việc do tình hình Công ty cắt giảm 01 nhân viên là nguyên đơn tuân theo quy định của Công ty về thay đổi cơ cấu, tổ chức lại lao động do khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế. Do đó, đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn không đồng ý, bị đơn chỉ đồng ý trả lương cho nguyên đơn phần lương tháng 11/2021 đến ngày 28/11/2021 tương ứng 45 ngày báo trước và trợ cấp mất việc làm 02 tháng tiền lương, tổng số tiền trả cho nguyên đơn là 16.552.900 đồng.

*Tại Bản án lao động sơ thẩm số 2088/2023/LĐ-ST ngày 05 tháng 10 năm 2023, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 32, Điều 35, khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 36, Điều 39, Điều 41, Điều 90 Bộ luật Lao động năm 2019;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1/ Hủy Quyết định số 92/2021/QĐ-VP ngày 28/10/2021 về việc chấm dứt hợp đồng lao động;

2/ Chấp nhận các yêu cầu về bồi thường tiền lương trong những ngày nguyên đơn không được làm việc là 109.564.000 đồng; Bồi thường vi phạm thời hạn báo trước là 6.463.500 đồng; 02 (hai) tháng tiền lương do không nhận trở lại làm việc là 9.458.800 đồng; 02 (hai) tháng tiền lương do chấm dứt trái pháp luật là 9.458.800 đồng. Tổng số tiền chấp nhận là 134.945.000 đồng;

- Không chấp nhận yêu cầu tính mức tiền lương là 17.000.000 đồng;

-Buộc bị đơn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho nguyên đơn theo mức lương 4.729.400 đồng là 23 tháng (từ ngày 01/11/2021 đến ngày 29/9/2023) theo quy định của pháp luật.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí sơ thẩm, quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.

Ngày 17/10/2023, nguyên đơn có đơn kháng cáo một phần nội dung Bản án lao động sơ thẩm số 2088/2023/LĐ-ST ngày 05 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng: xác nhận mức tiền lương làm cơ sở tính bồi thường là 17.000.000 đồng.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Hai bên đương sự không tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Nguyên đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, cụ thể kháng cáo liên quan đến mức tiền lương làm căn cứ bồi thường. Căn cứ cho yêu cầu kháng cáo là Quyết định số 88/QĐ-VP/HĐQT ngày 06/10/2020 ban hành Quy định đánh giá hiệu quả công việc; Thông báo số 20/2020/TB/VPG ngày 06/10/2020 về việc triển khai và áp dụng đánh giá hiệu quả công việc thì việc đánh giá được áp dụng cho các phòng ban. Tại Mục II của Thông báo số 20/2020/TB/VPG ngày 06/10/2020 xác định áp dụng kết quả đánh giá hiệu quả công việc (KPIs) vào chi trả lương từ kỳ lương tháng 10/2020; mức lương gồm mức lương cứng + mức lương KPIs (tỷ trọng mức lương cứng là 80%; tỷ trọng mức lương theo KPIs là 20%).

Bị đơn không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn với lý do Quyết định số 88/QĐ-VP/HĐQT ngày 06/10/2020 ban hành Quy định đánh giá hiệu quả công việc; Thông báo số 20/2020/TB/VPG ngày 06/10/2020 có nội dung thực hiện thí điểm trong tháng 10/2020. Sau đó đã có Quyết định ngưng không thực hiện. Sau đó, khi nhận lương, Công ty đều ghi rõ lương và thưởng như thế nào theo bảng lương hàng tháng, nhưng nguyên đơn không có ý kiến.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đảm bảo cho các đương sự có các quyền và nghĩa vụ theo quy định; gửi các Quyết định, Thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự đầy đủ, đúng thời hạn. Hội đồng xét xử đúng thành phần, phiên tòa diễn ra theo đúng trình tự và quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, nhưng sửa một phần bản án sơ thẩm đối với nội dung tuyên buộc bị đơn phải có trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho bị đơn là không phù hợp quy định của Luật Bảo hiểm xã hội. Đề nghị sửa án phần này, tuyên buộc cả hai bên cùng có trách nhiệm đóng theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của nguyên đơn được làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn không phải đóng tiền tạm ứng án phí lao động phúc thẩm theo quy định.

[2] Về nội dung: Nguyên đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về tiền lương làm căn cứ để bồi thường do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét mức lương của nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận theo quy định tại Điều 90 Bộ luật Lao động, làm căn cứ để Hội đồng xét xử giải quyết yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

[2.1] Căn cứ Hợp đồng lao động số 05/HĐLĐ/2013, quy định tại Điều 3 có mức lương chính là 4.360.000 đồng; Căn cứ Bảng lương do bị đơn cung cấp thể hiện tiền lương từ tháng 5/2021 đến tháng 10/2021 của nguyên đơn tăng lên 4.729.400 đồng; tiền ăn giữa ca là 730.000 đồng; tiền thưởng hiệu quả công việc là 11.540.000 đồng.

[2.2] Căn cứ Phiếu lương và Bảng lương 06 tháng liền kề (từ tháng 5/2021 đến tháng 10/2021) đều thể hiện tiền lương là 4.729.400 đồng. Các khoản còn lại: tiền cơm; thưởng hiệu quả công việc; nguyên đơn và bị đơn đều xác nhận không có phụ cấp lương. Nguyên đơn xác nhận đều được nhận bảng lương có nội dung này qua thư điện tử hàng tháng. Nhưng cho rằng nội dung này là do Phòng N1 thông báo không phải là ý kiến của Tổng Giám đốc. Hội đồng xét xử xét thấy, nội dung được triển khai cho người lao động về tiền lương được ghi cụ thể từng mục, nhưng trong suốt quá trình kéo dài không thắc mắc, khiếu nại. Cần xác định nguyên đơn nhận tiền lương được biết rõ từng mục được nhận.

[2.3] Tại Quyết định số 88/QĐ-VP/HĐQT ngày 06/10/2020 ban hành Quy định đánh giá hiệu quả công việc; Thông báo số 20/2020/TB/VPG ngày 06/10/2020 về việc triển khai và áp dụng đánh giá hiệu quả công việc thì việc đánh giá được áp dụng cho các phòng ban. Tại Mục II của Thông báo số 20/2020/TB/VPG ngày 06/10/2020 xác định áp dụng kết quả đánh giá KPIs vào chi trả lương từ kỳ lương tháng 10/2020; mức lương gồm mức lương cứng + mức lương KPIs (tỷ trọng mức lương cứng là 80%; tỷ trọng mức lương theo KPIs là 20%). Quyết định số 88/QĐ-VP/HĐQT ngày 06/10/2020 và Thông báo số 20/2020/TB/VPG ngày 06/10/2020 đã được triển khai đến toàn thể người lao động thuộc các phòng ban và nguyên đơn cũng đã nhận được. Bị đơn trình bày chỉ là triển khai thí điểm, sau đó thấy không phù hợp nên đã thu hẹp lại số phòng ban áp dụng theo Quyết định số 324A/2020/QĐ-VP ngày 08/10/2020 và dừng triển khai thực hiện đánh giá KPIs theo Quyết định số 325/2020/QĐ-VP ngày 12/12/2020. Đối với lời trình bày của nguyên đơn yêu cầu áp dụng theo Quyết định số 88/QĐ-VP/HĐQT ngày 06/10/2020 và Thông báo số 20/2020/TB/VPG ngày 06/10/2020 để tính lương vì cho rằng không biết Quyết định số 324A/2020/QĐ-VP ngày 08/10/2020 và dừng triển khai thực hiện đánh giá KPIs theo Quyết định số 325/2020/QĐ-VP ngày 12/12/2020. Trong khi không thừa nhận việc biết đối với Thông báo thực hiện nêu trên. Bị đơn nêu việc thông báo đều cùng chung một hình thức. Đồng thời, việc ông Ủ Hồng P là Chủ tịch Công đoàn có bản khai không biết, trong khi ông Ủ Hồng Phúc hiện nay cũng đã chấm dứt hợp đồng lao động với Công ty nên lời khai không khách quan, không có cơ sở để xem xét. Do đó, không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đề nghị áp dụng Quyết định số 88/QĐ-VP/HĐQT ngày 06/10/2020 ban hành Quy định đánh giá hiệu quả công việc; Thông báo số 20/2020/TB/VPG ngày 06/10/2020 làm cơ sở để tính mức lương cho nguyên đơn.

[2.4] Từ những căn cứ nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Phiếu lương là 4.729.400 đồng theo Hợp đồng lao động; tiền thưởng hiệu quả công việc theo ngày làm thực tế 11.546.000 đồng nghĩa là có đi làm mới được hưởng lương. Không chấp nhận khoản tiền thưởng làm cơ sở để tính tiền lương theo quy định tại Điều 90 Bộ luật Lao động để bồi thường là có căn cứ. Cần chấp nhận mức lương là 4.729.400 đồng, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

[3] Về nghĩa vụ đóng tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là nghĩa vụ chung của người lao động và người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 85, Điều 86 Luật Bảo hiểm xã hội.

[4] Về án phí, nguyên đơn không phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Hồ Ngọc C.

Sửa một phần Bản án lao động sơ thẩm số 2088/2023/LĐ-ST ngày 05 tháng 10 năm 2023 V/v "Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động" của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Ngọc C.

- Hủy Quyết định số 92/2021/QĐ-VP ngày 28/10/2021 về việc chấm dứt hợp đồng lao động;

- Chấp nhận các yêu cầu về bồi thường tiền lương trong những ngày ông Hồ Ngọc C không được làm việc là 109.564.000 đồng (một trăm lẻ chín triệu, năm trăm sáu mươi tư nghìn đồng); Bồi thường vi phạm thời hạn báo trước là 6.463.500 đồng (sáu triệu, bốn trăm sáu mươi ba nghìn, năm trăm đồng); 02 (hai) tháng tiền lương do không nhận trở lại làm việc là 9.458.800 đồng (chín triệu, bốn trăm năm mươi tám nghìn, tám trăm đồng); 02 (hai) tháng tiền lương do chấm dứt trái pháp luật là 9.458.800 đồng (chín triệu, bốn trăm năm mươi tám nghìn, tám trăm đồng). Tổng số tiền chấp nhận là 134.945.000 đồng (một trăm ba mươi tư triệu, chín trăm bốn mươi lăm nghìn đồng);

- Không chấp nhận yêu cầu tính mức tiền lương là 17.000.000 đồng (mười bảy triệu đồng);

- Buộc ông Hồ Ngọc C và Công ty Cổ phần Đ1 cùng có trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp tại Cơ quan Bảo hiểm có thẩm quyền cho ông Hồ Ngọc C theo mức lương 4.729.400 đồng (bốn triệu, bảy trăm hai mươi chín nghìn, bốn trăm đồng) là 23 tháng (từ ngày 01/11/2021 đến ngày 29/9/2023) theo quy định của pháp luật về Bảo hiểm xã hội.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí lao động: Công ty cổ phần Đ1 phải đóng án phí với số tiền ông Hồ Ngọc C được chấp nhận là 4.048.000 đồng (bốn triệu, không trăm bốn mươi tám nghìn đồng). Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Án phí lao động phúc thẩm ông Hồ Ngọc C không phải chịu theo quy định pháp luật.

3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

250
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án về tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động số 74/2024/LĐ-PT

Số hiệu:74/2024/LĐ-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Lao động
Ngày ban hành:03/07/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về