Bản án về tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động số 27/2024/LĐ-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 27/2024/LĐ-PT NGÀY 29/02/2024 VỀ TRANH CHẤP ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

Trong ngày 29 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 05/2024/TLPT-LĐ ngày 03 tháng 01 năm 2024 về việc "Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động". Do Bản án lao động sơ thẩm số 10/2023/LĐ-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 480/2024/QĐ-PT-LĐ ngày 29 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Phạm Kim V; sinh năm: 1965; Địa chỉ: G T đường L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Có mặt.

2. Bị đơn: Công ty TNHH Q; Địa chỉ: số B N, Ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Bà Nguyễn Phương T; sinh năm: 1982; Chức vụ: Giám đốc; địa chỉ: 1 đường N, Phường C, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt; Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Châu Thị Thúy D; sinh năm: 1996; Bà Lại Thị K; sinh năm: 1986; Cùng địa chỉ: số C đường P, phường H, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bảo hiểm xã hội huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Anh K; Chức vụ: Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện C (Xét xử vắng mặt). Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Người kháng cáo: Nguyên đơn là ông Phạm Kim V.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 02 tháng 6 năm 2022 và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Phạm Kim V trình bày: Ông Phạm Kim V có làm việc tại Công ty TNHH Q (viết tắt là Công ty Q), công việc là lái xe cho Ban Giám đốc và gia đình, mức lương 9.000.000đ (Chín triệu đồng)/tháng. Giữa ông V và Công ty Q chưa ký hợp đồng lao động. Tuy nhiên, Công ty Q có đóng bảo hiểm xã hội cho ông V. Trong quá trình làm việc, ông V luôn hoàn thành tốt công việc. Ngày 01/01/2022, ông V bất ngờ nhận được quyết định chấm dứt hợp đồng lao động từ Công ty Q mà không có lý do. Việc Công ty Q đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông V là trái pháp luật. Do đó, ông V yêu cầu Tòa án giải quyết: 1/ Buộc Công ty Q phải trả tiền lương trong những ngày không được làm việc, từ ngày 01/01/2022 đến khi phiên tòa diễn ra, tạm tính là 8 tháng x 9.000.000đ/tháng = 72.000.000đ (Bảy mươi hai triệu đồng). 2/ Bồi thường 02 tháng lương là 18.000.000đ (Mười tám triệu đồng) do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. 3/ Bồi thường 01 tháng lương là 9.000.000đ (Chín triệu đồng) do vi phạm thời hạn báo trước. 4/ Trả tiền lương nghỉ việc do giãn cách xã hội bằng 70% lương hàng tháng là 6.300.000 đồng từ ngày 01/6 đến ngày 30/9/2021 là 4 tháng. Trong thời gian 4 tháng trên, Công ty chỉ trả 30% = 2.700.000đ/tháng, như vậy Công ty phải trả bổ sung 6.300.000đ - 2.700.000đ = 3.600.000đ, vậy còn lại 3.600.000 đồng x 4 tháng = 14.400.000đ (Mười bốn triệu bốn trăm nghìn đồng). 5/ Trả lương tháng thứ 13 (thưởng Tết) như đã thỏa thuận ban đầu là 9.000.000đ (Chín triệu đồng). 6/ Yêu cầu Công ty Q phải thực hiện nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội từ ngày 01/01/2022 đến khi xét xử với mức lương 9.000.000đ/tháng. Về phần bảo hiểm xã hội của ông được trích từ khoản bồi thường trên. Tổng cộng ông yêu cầu Công ty Q phải trả cho ông là 131.400.000đ (Một trăm ba mươi mốt triệu bốn trăm nghìn đồng). Trước đây, ông có yêu cầu trả lương làm việc tháng 12/2021 là 9.000.000đ (Chín triệu đồng), do Công ty đã thanh toán xong nên ông rút yêu cầu này. Ông vào làm việc cho Công ty Q từ tháng 3/2021.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Phương T, bà Châu Thị Thúy D, bà Lại Thị K, là người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày: Tháng 3/2021, Công ty N thông tin tuyển tài xế, nhưng khi phỏng vấn ông V, bà T có nói rõ là tuyển tài xế với tư cách cá nhân, không phải Công ty tuyển nên không ký hợp đồng lao động. Công việc của ông V là lái xe riêng cho ông Mundhra J (người Ấn Độ) trong quá trình sinh sống tại Việt Nam. Vì ông Mundhra J có một số hoạt động tại Công ty TNHH Q (viết tắt là Công ty Q). Tuy nhiên, ông V chỉ làm việc khi ông Mundhra J có nhu cầu đi lại. Khi ông Mundhra J không có nhu cầu đi lại thì ông V được quyền tự do làm các công việc khác mà không phải báo cáo và không cần đến Công ty. Công ty có thực hiện đóng bảo hiểm xã hội cho ông V. Năm 2021, Công ty chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid, ông Mundhra J cũng phải về nước mà không thể có mặt tại Việt Nam. Tuy nhiên, Công ty vẫn muốn đảm bảo tốt nhất đời sống cho các cá nhân giúp đỡ và hỗ trợ công việc kinh doanh Công ty, nên Công ty vẫn trả cho ông V một khoản tiền cho các tháng 6, 7, 8, 9 năm 2021 là 2.700.000đ/tháng. Tháng 12/2021, Công ty có thỏa thuận bằng lời nói với ông V về việc dừng công việc lái xe của ông V, ông V đồng ý. Ngày 01/01/2022, ông V đề nghị Công ty ký Quyết định thôi việc để ông V có giấy tờ làm thủ tục hưởng trợ cấp thất nghiệp nên Công ty ban hành Quyết định số 202201/NV/QĐ cho ông V nghỉ việc từ ngày 01/01/2022. Kể từ thời điểm nhận quyết định này, ông V không hề có sự phản đối nào. Như vậy, việc chấm dứt công việc lái xe của ông V là do hai bên thỏa thuận. Ông V bắt đầu làm việc từ tháng 3/2021. Công ty đồng ý đây là mối quan hệ lao động giữa Công ty và ông V. Hợp đồng lao động giữa ông V và Công ty tại thời điểm giao kết, các bên đã thỏa thuận bằng miệng với nhau thời hạn hợp đồng lao động này sẽ kéo dài đến hết năm 2021 với vị trí lái xe cho ông Mundhra J. Sau năm 2021, nếu ông Mundhra J không còn ở Việt Nam thì các bên sẽ chấm dứt hợp đồng lao động. Như vậy, việc hết năm 2021 Công ty thông báo chấm dứt hợp đồng lao động với ông V là hoàn toàn đúng với thỏa thuận ban đầu của các bên. Công ty từ trước đến nay cũng có thói quen chỉ ký hợp đồng lao động lần đầu đến hết năm với những vị trí công việc đơn giản, có tính thay đổi cao, không phức tạp như vị trí tài xế của ông V. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với thông lệ chung trong thị trường lao động của Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, Việt Nam nói chung cho những công việc có tính chất đơn giản khi các bên lần đầu giao kết hợp đồng lao động. Ngoài ra, việc ông V không gửi văn bản khiếu nại đối với việc chấm dứt hợp đồng lao động này cũng thể hiện việc ông V đã đồng ý chấm dứt hợp đồng lao động theo nội quy, quy chế của Công ty tại thời điểm đó. - Mức lương theo hợp đồng lao động: Mức lương mà ông V đưa ra tại đơn khởi kiện là 9.000.000đ (Chín triệu đồng), đây không phải là mức lương chính thức của hợp đồng lao động mà đã bao gồm các khoản trợ cấp khác như trợ cấp xăng xe, trợ cấp cơm trưa, phụ cấp chuyên cần khi hoàn thành đầy đủ công việc và đạt hiệu quả trong tháng. Vì vậy, mức lương chính thức của ông V khi chưa bao gồm các trợ cấp nêu trên là 4.730.000đ/tháng, căn cứ hồ sơ đóng bảo hiểm xã hội mà Công ty đã đóng cho ông V. - Đối với yêu cầu trả lương nghỉ việc do giãn cách xã hội: Theo Điều 188 Bộ luật Lao động năm 2019 thì đây là những tranh chấp phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, theo Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu trả lương, thưởng nêu trên chưa qua thủ tục hòa giải nên không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Vì vậy, đề nghị Tòa án đình chỉ hoặc không chấp nhận yêu cầu này. - Đối với yêu cầu trả 70% lương của ông V của những tháng giãn cách nêu trên không có căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 99 Bộ luật Lao động năm 2019. - Đối với yêu cầu lương tháng 13 (thưởng Tết), đây không phải nghĩa vụ bắt buộc của Công ty. Công ty cũng chưa từng thỏa thuận việc sẽ trả lương tháng thứ 13 này cho ông V. Công ty chấm dứt hợp đồng lao động với ông V đúng pháp luật. Do đó, Công ty không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị Tòa án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại Bản án lao động sơ thẩm số 10/2023/LĐ-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 và Quyết định sửa chữa, bổ sung Bản án sơ thẩm số 104/2023/QĐ-SCBSBA ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - ông Phạm Kim V. - Tuyên bố việc Công ty Q chấm dứt Hợp đồng lao động với ông V theo Quyết định số 202201/NV/QĐ ngày 01/01/2022 là trái pháp luật. - Buộc Công ty TNHH Q phải bồi thường cho ông V tổng cộng số tiền 28.380.000đ (Hai mươi tám triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Buộc Công ty TNHH Q phải truy đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho ông V từ tháng 01/2022 đến hết tháng 3/2022.

2. Đình chỉ yêu cầu của ông Phạm Kim V về việc yêu cầu Công ty TNHH Q trả lương tháng 12/2021. Ngoài ra, Bản án lao động sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự. Ngày 18/9/2023, nguyên đơn - ông Phạm Kim V nộp đơn kháng cáo toàn bộ Bản án lao động sơ thẩm số 10/2023/LĐ-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Đề nghị Tòa cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn là ông Phạm Kim V không rút đơn kháng cáo, không rút đơn khởi kiện. Nguyên đơn, bị đơn không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác so với chứng cứ đã được thu thập tại Tòa cấp sơ thẩm. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

- Nguyên đơn là ông Phạm Kim V trình bày: Bị đơn cho nguyên đơn nghỉ việc mà không có lý do chính đáng. Bị đơn đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật đối với nguyên đơn. Do đó, nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau: Buộc bị đơn phải trả tiền lương cho nguyên đơn trong những ngày không được làm việc từ ngày 01/01/2022 đến thời điểm xét xử phúc thẩm theo mức lương 9.000.000 đồng/tháng, Bồi thường 02 tháng lương là 18.000.000đ (Mười tám triệu đồng) do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật; Bồi thường 01 tháng lương là 9.000.000đ (Chín triệu đồng) do vi phạm thời hạn báo trước; Yêu cầu bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội cho nguyên đơn từ ngày 01/01/2022 đến khi xét xử phúc thẩm với mức lương 4.730.000đ/tháng. Về phần bảo hiểm xã hội của ông được trích từ khoản bồi thường trên. Nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu bị đơn trả tiền lương bổ sung từ ngày 01/6/2021 đến 30/6/2021 là 14.400.000 đồng và rút yêu cầu trả tiền lương tháng 13 (tiền thưởng) là 9.000.000 đồng. Nguyên đơn đã nhận tiền lương đến hết tháng 12/2021, được chốt sổ bảo hiểm xã hội đến ngày 31/12/2021.

* Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn - bà Châu Thị Thúy D trình bày: Công ty chỉ ký hợp đồng lao động lần đầu đến hết năm với những vị trí công việc đơn giản, có tính thay đổi cao, không phức tạp như vị trí tài xế của ông V. Do đó, đến hết tháng 12/2021 thì quan hệ lao động giữa ông V và Công ty Q hết thời hạn. Ngày 01/01/2022, Công ty Q ban hành Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông V là đúng quy định pháp luật lao động. Mức lương cơ bản trả cho ông V là 4.730.000 đồng/tháng, các khoản còn lại là trợ cấp gồm: Tiền cơm trưa, chuyên cần, xăng xe. Nếu ông V có làm thêm giờ thì tính thêm phụ cấp làm thêm giờ và xăng xe. Vì thế, thu nhập thực tế hàng tháng của ông V không cố định, từ khoảng 6 triệu đồng đến 11 triệu đồng. Công ty đã trả lương cho ông V đến hết tháng 12/2021 và chốt sổ bảo hiểm xã hội cho ông V đến hết tháng 12/2021. Bị đơn đồng ý nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu bị đơn trả tiền lương bổ sung từ ngày 01/6/2021 đến 30/6/2021 là 14.400.000 đồng. Bị đơn không đồng ý các yêu cầu kháng cáo còn lại của nguyên đơn. Bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án lao động sơ thẩm. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở phúc thẩm như sau: Về Đơn kháng cáo của nguyên đơn: Đơn kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận. Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong giai đoạn phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, có cơ sở xác định hợp đồng lao động giữa nguyên đơn và bị đơn là loại hợp đồng lao động xác định thời hạn 01 năm (Từ 31/3/2021-31/3/2022). Ngày 01/01/2022, bị đơn ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với nguyên đơn là trái pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa một phần Bản án lao động sơ thẩm số 10/2023/LĐ-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng: Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn phải trả bổ sung tiền lương từ 01/6/2021 đến ngày 01/9/2021 là 3.600.000 đồng x 4 tháng = 14.400.000đ (Mười bốn triệu bốn trăm nghìn đồng), yêu cầu bị đơn trả tiền lương tháng 13 (tiền thưởng) năm 2021 (Do tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn rút các yêu cầu này); Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả tiền lương cho nguyên đơn trong những ngày nguyên đơn không được làm việc từ ngày 01/01/2022 đến ngày 31/3/2022, Bồi thường 02 tháng lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật; Bồi thường 01 tháng lương do vi phạm thời hạn báo trước, buộc nguyên đơn và bị đơn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ ngày 01/01/2022 đến ngày 31/3/2022. Mức lương làm cơ sở bồi thường và đóng bảo hiểm xã hội là 4.730.000đ/tháng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của nguyên đơn - ông Phạm Kim V trong hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn - Ông Phạm Kim V.

[2.1] Đối với các yêu cầu bồi thường do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật và yêu cầu đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù giữa ông V và Công ty Q không ký hợp đồng lao động, tuy nhiên, hai bên đều xác nhận về công việc và thời gian thực tế mà ông V làm việc cho Công ty Q là từ tháng 3/2021 đến tháng 12/2021. Do đó, có đủ cơ sở xác định giữa ông V và Công ty Q có xác lập quan hệ lao động từ tháng 3/2021 như nhận định của Tòa cấp sơ thẩm là có căn cứ. Công ty Q nhận ông V với mục đích làm công việc lái xe riêng cho ông Mundhra J (người Ấn Độ) trong quá trình sinh sống tại Việt Nam (Vì ông Mundhra J có một số hoạt động tại Công ty TNHH Q), không ký hợp đồng lao động. Năm 2021, dịch Covid bùng phát nên tháng 12/2021, ông Mundhra J phải về nước mà không thể có mặt tại Việt Nam nên nhu cầu công việc lái xe của ông V không còn. Công ty Q đã trích nộp bảo hiểm xã hội cho ông V, đã chốt sổ bảo hiểm xã hội cho ông V đến hết tháng 12/2021 và trả sổ bảo hiểm xã hội cho ông V. Tại Điều 5 Quy chế làm việc của Công ty quy định nhân viên làm việc lần đầu tại Công ty sẽ ký hợp đồng lao động lần đầu thời hạn từ 06 đến 12 tháng cho tất cả các vị trí, công việc. Mặt khác, do nhu cầu tuyển dụng nhân viên lái xe riêng cho ông Mundhra J không còn. Do đó, loại hợp đồng lao động giữa ông V và Công ty Q được xác định là hợp đồng lao động có thời hạn 12 tháng, bắt đầu từ tháng 4/2021 đến hết tháng 3/2022 như nhận định của Tòa cấp sơ thẩm là có căn cứ. Ngày 01/01/2022, Công ty Q ban hành Quyết định số 202201/NV/QĐ cho ông V nghỉ việc mà không nêu lý do. Công ty Q cho rằng giữa Công ty và ông V có thỏa thuận bằng miệng thời hạn hợp đồng lao động này sẽ kéo dài đến hết năm 2021 với vị trí lái xe cho ông Mundhra J. Sau năm 2021, nếu ông Mundhra J không còn ở Việt Nam thì các bên sẽ chấm dứt hợp đồng lao động. Do đó, ngày 01/01/2022, Công ty thông báo chấm dứt hợp đồng lao động với ông V là đúng pháp luật. Tuy nhiên, lời trình bày của bị đơn không được nguyên đơn thừa nhận và không có tài liệu, chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét. Nguyên đơn xác nhận mức lương của ông V mỗi tháng là 9.000.000đ (Chín triệu đồng). Bị đơn cho rằng mức lương chính của ông V là 4.730.000đ (Bốn triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng), còn lại là phụ cấp cơm trưa, phụ cấp xăng xe, tiền nhà trọ, tiền chuyên cần... Căn cứ vào sao kê tài khoản ghi nhận thu nhập của ông V hàng tháng không cố định, từ khoảng 6 triệu đến 11 triệu, riêng tháng 6 đến tháng 9 năm 2021 thu nhập của ông V là 2.700.000 đồng/tháng (Do giãn cách xã hội, người lao động không làm việc). Tại sổ bảo hiểm xã hội do ông V cung cấp thể hiện mức lương cơ bản đóng bảo hiểm xã hội của ông V là 4.730.000đ (Bốn triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng)/tháng. Do đó, có đủ cơ sở xác định mức lương cơ bản của người lao động để xem xét giải quyết tranh chấp là 4.730.000đ (Bốn triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng)/tháng như nhận định của Tòa cấp sơ thẩm là có căn cứ. Từ những nhận định nêu trên, có đủ cơ sở xác định Công ty Q đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với ông V trái pháp luật. Do đó, Công ty Q phải chịu hậu quả của việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo Điều 41 của Bộ luật Lao động năm 2019 như sau: - Trả tiền lương trong những ngày ông V không được làm việc từ ngày 01/01/2022 đến ngày 31/3/2022: 4.730.000 đồng x 3 tháng = 14.190.000 đồng. - Bồi thường 02 tháng lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là: 4.730.000 đồng x 2 tháng = 9.460.000 đồng. - Bồi thường cho những ngày không báo trước là 01 tháng lương là 4.730.000 đồng. - Điều 19, Điều 21 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014, được sửa đổi bổ sung năm 2015, năm 2018 quy định đóng bảo hiểm xã hội là nghĩa vụ bắt buộc của người sử dụng lao động và người lao động. Do đó, Bị đơn và nguyên đơn phải có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho nguyên đơn tại cơ quan bảo hiểm có thẩm quyền từ ngày 01/01/2022 đến ngày 31/3/2022, mức lương làm cơ sở đóng bảo hiểm xã hội là 4.730.000đ/tháng. Tòa cấp sơ thẩm chỉ buộc bị đơn - Công ty Q đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, mà không buộc người lao động là ông V nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cũng như mức lương làm cơ sở đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc là thiếu sót. Tòa cấp phúc thẩm sửa phần này của bản án sơ thẩm.

[2.2.] Đối với yêu cầu trả lương tháng thứ 13 (thưởng Tết) và yêu cầu trả tiền lương còn thiếu từ tháng 6 đến hết tháng 9/2021. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn - ông Phạm Kim V rút yêu cầu buộc bị đơn trả lương tháng thứ 13 (thưởng Tết) và rút yêu cầu buộc bị đơn trả tiền lương còn thiếu từ tháng 6 đến hết tháng 9/2022. Bị đơn đồng ý việc rút yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 299 của Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu buộc bị đơn trả lương tháng thứ 13 (thưởng Tết) và yêu cầu buộc bị đơn trả tiền lương còn thiếu từ tháng 6 đến hết tháng 9/2022. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa một phần Bản án lao động sơ thẩm số 10/2023/LĐ-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ nên chấp nhận. [3] Về án phí: [3.1] Về án phí lao động sơ thẩm: - Nguyên đơn - Ông Phạm Kim V không phải nộp án phí lao động sơ thẩm. - Bị đơn - Công ty Q phải nộp tiền án phí theo quy định tại Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[3.2] Về án phí lao động phúc thẩm: Người kháng cáo - ông Phạm Kim V không phải nộp án phí lao động phúc thẩm do sửa bản án sơ thẩm. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào Điều 299, Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; - Căn cứ vào Điều 13, Điều 20, Điều 34, Điều 36; Điều 39, Điều 41 của Bộ luật Lao động năm 2019; - Căn cứ vào Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; - Căn cứ vào Điều 18, Điều 19, Điều 21 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014, được sửa đổi bổ sung năm 2015, năm 2018; - Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; - Căn cứ vào Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014; Tuyên xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn - ông Phạm Kim V. Sửa một phần Bản án lao động sơ thẩm số 10/2023/LĐ-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. 1. Tuyên bố việc Công ty TNHH Q chấm dứt Hợp đồng lao động với ông Phạm Kim V theo Quyết định số 202201/NV/QĐ ngày 01/01/2022 là trái pháp luật.

2. Buộc Công ty TNHH Q phải bồi thường cho ông Phạm Kim V tổng cộng số tiền 28.380.000đ (Hai mươi tám triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật bao gồm: - Trả tiền lương trong những ngày ông V không được làm việc từ ngày 01/01/2022 đến ngày 31/3/2022: 4.730.000 đồng × 3 tháng = 14.190.000 (Mười bốn triệu một trăm chín mươi nghìn) đồng. - Bồi thường 02 tháng lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là: 4.730.000 đồng × 2 tháng = 9.460.000 (Chín triệu bốn trăm sáu mươi nghìn) đồng. - Bồi thường là 01 tháng lương cho những ngày không báo trước là 4.730.000 (Bốn triệu bảy trăm ba mươi nghìn) đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Buộc Công ty TNHH Q và ông Phạm Kim V phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho ông Phạm Kim V tại Cơ quan Bảo hiểm y tế có thẩm quyền từ ngày 01/01/2022 đến ngày 31/3/2022, mức lương làm cơ sở đóng bảo hiểm xã hội là 4.730.000đ/tháng.

4. Đình chỉ yêu cầu của ông Phạm Kim V đối với các yêu cầu sau: - Yêu cầu Công ty TNHH Q trả lương tháng 12/2021. - Yêu cầu Công ty TNHH Q trả lương tháng thứ 13 (thưởng Tết). - Yêu cầu Công ty TNHH Q trả tiền lương còn thiếu từ tháng 6/2022 đến hết tháng 9/2022.

5. Về án phí: - 5.1. Về án phí lao động sơ thẩm: Nguyên đơn - ông Phạm Kim V được miễn án phí lao động sơ thẩm. Bị đơn - Công ty TNHH Q phải nộp án phí lao động sơ thẩm là 851.400 (Tám trăm năm mươi mốt nghìn bốn trăm) đồng. - 5.2. Về án phí lao động phúc thẩm: Nguyên đơn - Ông Phạm Kim V không phải chịu án phí lao động phúc thẩm.

6. Các đương sự thi hành án tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

394
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động số 27/2024/LĐ-PT

Số hiệu:27/2024/LĐ-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Lao động
Ngày ban hành:29/02/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về