TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 229/2024/DS-PT NGÀY 25/03/2024 VỀ TRANH CHẤP ĐÒI TÀI SẢN
Ngày 25 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 631/2023/DSPT ngày 05 tháng 12 năm 2023 về việc "Tranh chấp đòi tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 418/2023/DS-ST ngày 08/9/2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 461/2024/QĐ-PT ngày 29/01/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 7689/2024/QĐ-PT ngày 27/02/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị Kim H Địa chỉ: F Khu T, Phường H, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đăng Minh G (có mặt).
Địa chỉ: 4 L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Công ty Cổ phần Đ1 Địa chỉ: Tầng E, Tòa nhà S đường N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền:
- Bà Nguyễn Thị Uyên U (vắng mặt) - Hoặc bà Trần Nguyễn Tố U1 (có mặt) - Hoặc bà Nguyễn Thị Ngọc L (có mặt) Cùng địa chỉ liên lạc: số E đường số A, Cư xá C, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án như sau:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 14/6/2022, các lời khai tại bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản hòa giải trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là bà Phan Thị Kim H có người đại diện theo ủy quyền là ông Đăng Minh G trình bày như sau:
Ngày 31/3/2008, bà Phan Thị Kim H (gọi tắt là nguyên đơn) đã ký Hợp đồng góp vốn số 29/HĐGV-BTĐ với Công ty Cổ phần Đ1 (sau đây gọi tắt là bị đơn). Theo đó, bà Phan Thị Kim H nhận một nền biệt thự liền kề, diện tích: 8m x 22m, tổng diện tích: 176m2, tiền góp vốn: 1.584.000.000 đồng tại dự án khu nhà ở B - C - Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tiến độ góp vốn chia làm 4 đợt:
- Đợt 1: Ngay sau khi ký Hợp đồng góp vốn, Nguyên đơn thanh toán số tiền là 792.000.000 đồng (50% giá trị hợp đồng);
- Đợt 2 : Khi Bị đơn hoàn thành cơ sở hạ tầng dự án, Nguyên đơn thanh toán tiếp số tiền là: 475.200.000 đồng (30% giá trị hợp đồng);
- Đợt 3: Khi Bị đơn hoàn thành giao nền, Nguyên đơn thanh toán tiếp số tiền là: 158.400.000 đồng (10% giá trị hợp đồng);
- Đợt 4: Khi Bị đơn giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Nguyên đơn thanh toán phần tiền còn lại là 158.400.000 đồng (10% giá trị hợp đồng).
Ngày 31/3/2008, Nguyên đơn nhận được Thông báo số 042/TB về việc thực hiện dự án Khu dân cư 154ha BTĐ-CL, theo đó, Công ty cam kết sẽ giao nền cho khách hàng chậm nhất là tháng 9/2019.
Đến năm 2019, Công ty mời bà H lên ký Thỏa thuận thanh lý Hợp đồng góp vốn nêu trên. Theo đó, Công ty sẽ hoàn lại số tiền góp vốn cho bà H là 792.000.000 đồng và phạt vi phạm hợp đồng là 158.400.000 đồng, tổng số tiền phải trả là 950.400.000 đồng. Thời hạn trả tiền trong vòng 6 tháng chia làm 3 đợt:
- Đợt 1: Ngay sau khi ký Thỏa thuận (trong thỏa thuận không ghi ngày tháng), Bị đơn sẽ thanh toán chuyển khoản cho Nguyên đơn số tiền là: 350.000.000 đồng, từ ngày 01/3 đến ngày 31/3/2020.
- Đợt 2: Bị đơn sẽ thanh toán tiếp chuyển khoản cho Nguyên đơn số tiền là: 300.000.000 đồng, từ ngày 01/5 đến ngày 31/5/2020.
- Đợt 3: Bị đơn sẽ thanh toán phần còn lại chuyển khoản cho Nguyên đơn số tiền là: 300.400.000 đồng, chậm nhất đến ngày 30/6/2020.
Qua ngày 31/3/2020, Bị đơn vẫn không thanh toán tiền đợt 1 cho Nguyên đơn.
Ngày 20/5/2020, Nguyên đơn đã gửi Thông báo cho Bị đơn, yêu cầu phải thanh toán tiền cho Nguyên đơn như đã thỏa thuận. Nhưng bị đơn vẫn không thực hiện.
Xét thấy Bị đơn nhận tiền góp vốn của của Nguyên đơn. Nhưng trên thực tế, thì Bị đơn không có đất. Bị đơn vẽ ra dự án chiếm giữ tiền của Nguyên đơn suốt hơn 14 năm từ ngày 31/03/2008 đến ngày 09/08/2022.
Tại đơn khởi kiện đề ngày 14/6/2022, Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Bị đơn trả cho Nguyên đơn số tiền 1.568.160.000 đồng, trong đó nợ gốc là 792.000.000 đồng và tiền lãi từ 31/3/2008 tạm tính đến 31/3/2022 theo mức lãi suất 7%/năm là 776.160.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Nguyên đơn xác định căn cứ mà Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn trả tiền là thỏa thuận thanh lý hợp đồng góp vốn được ký giữa Nguyên đơn và Bị đơn ngày 23/12/2019. Kể từ ngày ký Thỏa thuận thanh lý hợp đồng, Hợp đồng góp vốn số 29/HĐGV-BTĐ ngày 31/3/2008 đã được hai bên thỏa thuận thống nhất chấm dứt, không liên quan đến yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn. Từ đó, Nguyên đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện như sau: Yêu cầu Bị đơn trả ngay số tiền theo Thỏa thuận thanh lý hợp đồng góp vốn ký ngày 23/12/2019 tổng cộng là 1.075.052.863 đồng gồm tiền gốc là 950.400.000 đồng (gồm 792.000.000 đồng là tiền thanh toán Đợt 1 và 158.400.000 đồng là tiền phạt vi phạm hợp đồng) và tiền lãi chậm trả phát sinh trên số tiền 950.400.000 đồng theo từng thời điểm (đợt thanh toán) từ ngày 31/3/2020 tính đến ngày xét xử sơ thẩm theo lãi suất 10%/năm là 124.652.863 đồng (tiền lãi chậm trả đã cần trừ 200.000.000 đồng Bị đơn trả cho Nguyên đơn theo Phiếu hạch toán giao dịch khách hàng số 0218 ngày 07/4/2021).
Đối với đề nghị của Bị đơn về việc thanh toán số tiền gốc còn lại là 750.400.000 đồng trong thời hạn 06 tháng chia làm 03 đợt và đề nghị không tính tiền lãi chậm trả, Nguyên đơn không đồng ý. Đồng thời, Nguyên đơn yêu cầu trong trường hợp Hội đồng xét xử không chấp nhận cách tính lãi do chậm trả của Nguyên đơn thì yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét phần tiền lãi do chậm trả theo đúng quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi của Nguyên đơn vì Bị đơn đã chiếm giữ tiền của Nguyên đơn trong thời gian quá dài.
* Bị đơn là Công ty Cổ phần Đ1 có bà Trần Nguyễn Tố U1 là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 31/03/2008, tại văn phòng Công ty Đ1 (Số B P, Phường F, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh), Bị đơn và Nguyên đơn đã ký Hợp đồng góp vốn số 29/HĐGV-BTĐ. Theo thỏa thuận giữa hai bên được ghi nhận trong Hợp đồng góp vốn, Nguyên đơn đồng ý góp vốn với Bị đơn bằng tiền, số tiền là 1.584.000.000 đồng, để đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở tiểu khu A dự án Khu nhà ở B - C - Quận B - Thành phố Hồ Chí Minh mà Bị đơn đã hợp tác đầu tư với Công Ty X. Đổi lại, Bị đơn sẽ giao cho Nguyên đơn một nền biệt thự liền kề tương ứng với số tiền mà Nguyên đơn tham gia góp vốn, cụ thể: mã nền I6, diện tích 8x22m/nền; tổng diện tích là 176m²; đơn giá (chưa bao gồm thuế VAT và thuế quyền sử dụng đất) là 9.000.000 đồng/m². Theo Điều 3 của Hợp đồng góp vốn, tiến độ góp vốn chia làm 4 đợt:
- Đợt 1: Ngay sau khi ký Hợp đồng góp vốn, Nguyên đơn phải góp 50% giá trị Hợp đồng, tương đương: 792.000.000 đồng;
- Đợt 2: Khi Bị đơn hoàn thành cơ sở hạ tầng dự án, Nguyên đơn sẽ góp tiếp 30% giá trị Hợp đồng, tương đương 475.200.000 đồng;
- Đợt 3: Khi Bị đơn tiến hành giao nền, Nguyên đơn sẽ góp tiếp 10% giá trị Hợp đồng, tương đương 158.400.000 đồng.
- Đợt 4: Khi Bị đơn giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Nguyên đơn thanh toán 10% còn lại.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Bị đơn không có yêu cầu phản tố và xác định: Bị đơn đã nhận tiền góp vốn đợt 1 của Nguyên đơn với số tiền là 792.000.000 đồng vào ngày 31/3/2008. Việc nhận tiền được Bị đơn lập phiếu thu số 29/ĐL-DA.BTĐ. Dự án Khu nhà ở B - C - Quận B - Thành phố Hồ Chí Minh mà Bị đơn đã hợp tác đầu tư với Công Ty X là có thật. Tuy nhiên, việc không bàn giao đất được là vì lý do khách quan của Chủ đầu tư và Nhà đầu tư thành phần mà Bị đơn liên kết. Từ đó, Nguyên đơn và Bị đơn đã thống nhất ký Thỏa thuận thanh lý hợp đồng góp vốn vào ngày 23/12/2019. Do có sai sót trong khâu văn thư nên bản Thỏa thuận thanh lý hợp đồng góp vốn giao cho Nguyên đơn không có ghi ngày tháng. Theo Thỏa thuận thanh lý ngày 23/12/2019 này, Bị đơn xác nhận có trách nhiệm hoàn lại số tiền đã nhận của Nguyên đơn là 792.000.000 đồng cộng thêm 158.400.000 đồng là tiền phạt vi phạm hợp đồng, bản chất đây là khoản tiền mà Bị đơn tự nguyện bồi thường cho Nguyên đơn. Ngày 07/4/2021, Bị đơn đã hoàn trả cho Nguyên đơn số tiền 200.000.000 đồng (theo Phiếu hạch toán giao dịch khách hàng số 0218 ngày 07/4/2021). Bị đơn xác nhận số tiền gốc chưa thanh toán cho Nguyên đơn theo Thỏa thuận thanh lý nêu trên là 750.400.000 đồng gồm 592.000.000 đồng là tiền thanh toán đợt 1 còn lại và 158.400.000 đồng là tiền phạt vi phạm hợp đồng. Do hiện nay Bị đơn có khó khăn về tài chính nên đề nghị Nguyên đơn cho Bị đơn thanh toán tiền gốc còn lại là 750.400.000 đồng trong thời hạn 06 tháng chia làm 03 đợt: Đợt 1 trả số tiền 200.000.000 đồng chậm nhất vào ngày 30/10/2023, Đ 2 trả số tiền 200.000.000 đồng chậm nhất vào ngày 30/12/2023 và Đ 3 trả số tiền còn lại chậm nhất vào ngày 28/02/2024. Đề nghị Nguyên đơn không tính tiền lãi chậm trả. Trường hợp Nguyên đơn không chấp nhận phương án trên thì đề nghị Tòa án xem xét lại cách tính tiền lãi do chậm trả của Nguyên đơn theo đúng quy định pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 418/2023/DS-ST ngày 08/9/2023 của Tòa án nhân dân Quận 1 đã tuyên xử như sau:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim H.
Buộc Công ty Cổ phần Đ1 chịu trách nhiệm trả cho bà Phan Thị Kim H số tiền còn nợ theo Thỏa thuận thanh lý hợp đồng góp vốn ký ngày 23/12/2019 tổng cộng là 1.018.909.316 (một tỷ không trăm mười tám triệu chín trăm lẻ chín nghìn ba trăm mười sáu) đồng, trong đó tiền gốc là 750.400.000 đồng, tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 08/9/2023) là 268.509.316 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, Công ty Cổ phần Đ1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận, nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Không chấp nhận đối với một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim H yêu cầu Công ty Cổ phần Đ1 thanh toán số tiền 56.143.547 đồng.
Ngoài ra, tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn là Công ty Cổ phần Đ1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn xác định yêu cầu kháng cáo cụ thể như sau: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm nêu trên do bà Vũ Tuyết M không phải là người đại diện theo pháp luật của bị đơn, bà M không có thẩm quyền ký Thoả thuận thanh lý hợp đồng ngày 23/12/2019 nên hợp đồng thỏa thuận này là vô hiệu. Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ về thẩm quyền của bà M khi thực hiện ký Thoả thuận thanh lý hợp đồng ngày 23/12/2019 để triệu tập bà M tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng theo Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét hủy bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.
Nguyên đơn đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đã chấp hành quy định pháp luật;
- Về nội dung: Căn cứ Thoả thuận thanh lý Hợp đồng góp vốn ký ngày 23/12/2019 giữa bà H và Công ty Cổ phần Đ1 các bên thống nhất thanh lý hợp đồng góp vốn số 29/HĐGV-BTĐ ngày 31/3/2008.
Ngày 07/4/2021, bị đơn đã trả số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng cho nguyên đơn theo phiếu hạch toán giao dịch khách hàng số 0218. Như vậy, bị đơn đã tự nguyện trả số tiền trên cho nguyên đơn và còn nợ nguyên đơn số tiền nợ gốc là 750.400.000 đồng, do đó, Bản án sơ thẩm xác định bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc 750.400.000 đồng là có cơ sở.
Đối với tiền lãi chậm thực hiện nghĩa vụ, căn cứ Thoả thuận thanh lý Hợp đồng góp vốn ngày 23/12/2019 thì bị đơn đã không thực hiện thanh toán đúng theo thoả thuận. Do đó, bản án sơ thẩm tính lãi chậm thực hiện nghĩa vụ 10%/năm đối với từng đợt chậm thực hiện thanh toán theo thoả thuận là đúng quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn là Công ty Cổ phần Đ1, giữ nguyên bản án dân sự số 418/2023/DS-ST ngày 08/9/2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghe các bên trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của Công ty Cổ phần Đ1 còn trong thời hạn luật định nên được xem xét chấp nhận.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét quan hệ tranh chấp giữa bà H và Công ty Cổ phần Đ1 là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 14 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do Công ty Cổ phần Đ1 có trụ sở tại Quận A nên Toà án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về nội dung kháng cáo:
[3.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả ngay số tiền gốc theo văn bản thỏa thuận thanh lý hợp đồng góp vốn ký ngày 23/12/2019 tổng cộng là 950.400.000 đồng (gồm 792.000.000 đồng là tiền thanh toán đợt 1 và 158.400.000 đồng là tiền phạt vi phạm hợp đồng) đã cần trừ 200.000.000 đồng Bị đơn trả cho Nguyên đơn theo Phiếu hạch toán giao dịch khách hàng số 0218 ngày 07/4/2021), còn lại tiền nợ gốc là 750.400.000 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo văn bản thỏa thuận thanh lý hợp đồng góp vốn ký ngày 23/12/2019 giữa bà Phan Thị Kim H và Công ty Đ1 thì tổng cộng số tiền Công ty Đ1 phải trả cho bà H là 950.400.000 đồng gồm tiền gốc là 792.000.000 đồng và 158.400.000 đồng là tiền phạt vi phạm hợp đồng. Thời hạn trả tiền trong vòng 6 tháng chia làm 3 đợt:
- Đợt 1: Ngay sau khi ký Thỏa thuận (trong thỏa thuận không ghi ngày tháng), Bị đơn sẽ thanh toán chuyển khoản cho Nguyên đơn số tiền là: 350.000.000 đồng, từ ngày 01/3 đến ngày 31/3/2020.
- Đợt 2: Bị đơn sẽ thanh toán tiếp chuyển khoản cho Nguyên đơn số tiền là: 300.000.000 đồng, từ ngày 01/5 đến ngày 31/5/2020.
- Đợt 3: Bị đơn sẽ thanh toán phần còn lại chuyển khoản cho Nguyên đơn số tiền là: 300.400.000 đồng, chậm nhất đến ngày 30/6/2020.
Tuy nhiên, đến ngày 30/6/2020, phía Công ty Đ1 vẫn chưa thanh toán các khoản tiền nêu trên. Đến ngày 07/4/2021, Bị đơn đã trả cho nguyên đơn 200.000.000 đồng. Số tiền này được cấn trừ vào tổng số tiền nợ gốc là 950.400.000 đồng, do đó, số tiền nợ gốc theo Thỏa thuận thanh lý Hợp đồng góp vốn ký ngày 23/12/2019 mà Bị đơn còn phải trả cho nguyên đơn là 750.400.000 đồng. Như vậy, do bị đơn vị phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc 750.400.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn là có căn cứ.
[3.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền phát sinh trên số tiền 950.400.000 đồng theo từng thời điểm (đợt thanh toán) từ ngày 31/3/2020 tính đến ngày xét xử sơ thẩm theo lãi suất 10%/năm là 124.652.863 đồng:
Như trên đã nhận định, do đã quá thời hạn thanh toán của từng đợt nhưng bị đơn vẫn chưa thanh toán nên phải chịu tiền lãi phát sinh theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự và mức lãi suất chậm trả thực hiện theo Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất phạt vi phạm.
Tổng số tiền lãi mà bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn đến thời điểm xét xử sơ thẩm là 268.509.316 đồng. Nguyên đơn yêu cầu tính tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền từ ngày 31/3/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm trên tổng số tiền 950.400.000 đồng với số tiền 124.652.863 đồng là không có căn cứ.
Ngày 07/4/2021, bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn số tiền 200.000.000 đồng theo Phiếu hạch toán giao dịch khách hàng số 0218 ngày 07/4/2021. Số tiền này được trừ vào số tiền nợ gốc mà bị đơn phải trả cho nguyên đơn (950.400.000 - 200.000.000) đồng = 750.400.000 đồng + tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền 268.509.316 đồng = 1.018.909.316 đồng.
Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử buộc Công ty Cổ phần Đ1 chịu trách nhiệm trả cho bà Phan Thị Kim H số tiền còn nợ theo Thỏa thuận thanh lý hợp đồng góp vốn ký ngày 23/12/2019 và số tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền tổng cộng là 1.018.909.316 (một tỷ không trăm mười tám triệu chín trăm lẻ chín nghìn ba trăm mười sáu) đồng là có căn cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm nêu trên vì cho rằng bà Vũ Tuyết M không phải người đại diện theo pháp luật của bị đơn, bà M không có thẩm quyền ký Thoả thuận thanh lý hợp đồng ngày 23/12/2019 nên hợp đồng thỏa thuận này là vô hiệu; Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ về thẩm quyền của bà M khi thực hiện ký Thoả thuận thanh lý hợp đồng ngày 23/12/2019 để triệu tập bà M tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng theo Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hủy bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.
Hội đồng xét xử xét thấy: Thỏa thuận thanh lý hợp đồng ngày 23/12/2019 do bà M ký với tư cách là người đại diện cho Công ty, được đóng dấu của Công ty Đ1. Mặt khác, hợp đồng thanh lý đã được thực hiện một phần, theo đó, bị đơn đã trả số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng cho nguyên đơn theo phiếu hạch toán giao dịch khách hàng số 0218. Như vậy, bị đơn đã tự nguyện thực hiện hợp đồng thỏa thuận ngày 23/12/2019 và cũng thừa nhận các nội dung trong hợp đồng này. Do đó, bị đơn kháng cáo cho rằng thỏa thuận thanh lý hợp đồng ngày 23/12/2019 vô hiệu, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hủy bản án dân sự sơ thẩm là không có căn cứ để chấp nhận. Hội đồng xét xử nhận thấy cần giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Đề nghị này của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, Điểm b Khoản 1 Điều 38, Điều 137, khoản 2 Điều 138, Điều 147, Điều 148 và khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 166, Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất phạt vi phạm;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty Cổ phần Đ1 .
2. Giữ nguyên phần quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 418/2023/DS-ST ngày 08/9/2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh:
2.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Phan Thị Kim H.
Buộc Công ty Cổ phần Đ1 chịu trách nhiệm trả cho bà Phan Thị Kim H số tiền còn nợ theo Thỏa thuận thanh lý hợp đồng góp vốn ký ngày 23/12/2019 tổng cộng là 1.018.909.316 (một tỷ không trăm mười tám triệu chín trăm lẻ chín nghìn ba trăm mười sáu) đồng, trong đó tiền gốc là 750.400.000 đồng, tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 08/9/2023) là 268.509.316 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, Công ty Cổ phần Đ1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận, nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim H yêu cầu Công ty Cổ phần Đ1 thanh toán số tiền 56.143.547 đồng.
2.2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Công ty Cổ phần Đ1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 42.567.279 đồng.
Bà Phan Thị Kim H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.807.177 đồng, cần trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 29.522.400 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0006037 ngày 30 tháng 6 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, hoàn lại cho bà H số tiền tạm ứng án phí là 26.715.223 đồng.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Công ty Cổ phần Đ1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm số tiền là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai số AA/2023/0044485 ngày 29/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty Cổ phần Đ1 đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
4. Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tranh chấp đòi tài sản số 229/2024/DS-PT
| Số hiệu: | 229/2024/DS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 25/03/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về