TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 424/2024/DS-PT NGÀY 14/05/2024 VỀ TRANH CHẤP ĐÒI TÀI SẢN LÀ TIỀN LƯƠNG
Trong các ngày 21/12/2023, ngày 12/01, 01/02 và ngày 14/5/2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 470/DSPT ngày 16 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp đòi tài sản là tiền lương”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 370/2023/DS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2145/2024/QĐPT-DS ngày 24/4/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng Đ, sinh năm 1954 (có mặt) Địa chỉ: A Đường số A, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn:
1/ Ông Trương Chí H, sinh năm 1946 Địa chỉ: A N, Phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
2/ Ông Đỗ Trung Thiện Â, sinh năm 1977 Địa chỉ: B N, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của ông H, ông Â: Bà Phùng Thị Ngọc H1, sinh năm 1977; địa chỉ: E N, Phường G, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 08933 và số 08934 cùng ngày 02/11/2023 của VPCC Nguyễn Lê N, Thành phố Hồ Chí Minh). (có mặt)
3/ Ông Nguyễn Hữu P, sinh năm 1947, chết ngày 05/3/2024 Địa chỉ: Ấp N, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông P: Con - ông Nguyễn Hữu Quốc V, sinh năm 1978; địa chỉ: Áp T, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long. (xin vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Nguyễn Thị Bích P1, sinh năm 1952 (xin vắng mặt) Địa chỉ: A Đường số A, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
2/ Công ty TNHH S Địa chỉ: Ấp N, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp: Ông Trương Chí H, sinh năm 1946; địa chỉ: A N, Phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo pháp luật. (xin vắng mặt)
3/ Ông Phạm Văn Q, sinh năm 1962 (xin vắng mặt) Địa chỉ: Ấp K, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Hoàng Đ, ông Trương Chí H, ông Đỗ Trung Thiện Â, ông Nguyễn Hữu P, Công ty TNHH S.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo Đơn khởi kiện, bản tự khai, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Đ trình bày:
Ông Nguyễn Hoàng Đ và ông Trương Chí H là thành viên góp vốn của công ty TNHH S (gọi tắt là công ty S), mỗi người 50% vốn góp, ông Đ cử ông H làm giám đốc điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày tại công ty, còn ông Đ là phó giám đốc phụ trách đối ngoại. Hàng tháng ông Đ và ông H được công ty trả lương theo chức danh với mức lương của ông Đ và ông H bằng nhau. Từ tháng 9/2001 đến nay, công ty đều chỉ trả lương hàng tháng cho ông H và các nhân viên khác đầy đủ, riêng lương của ông Đ thì ông H đã rút ra khỏi công ty, đã kết toán và báo cáo thuế nhưng chưa giao lại cho ông Đ. Ông Đ không có nhận lương hàng tháng là do ông Đ tin tưởng ông H và ông Đ có điều kiện về kinh tế, khi nào cần ông Đ sẽ lấy 01 lần. Hiện tất cả lương của ông Đ từ tháng 9/2001 đến nay, do ông Trương Chí H, ông Đỗ Trung Thiện  và ông Nguyễn Hữu P đang giữ mà không trả lại cho ông Đ và đã được thể hiện cụ thể: Trong biên bản hòa giải ngày 30/7/2019 tại Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long, ông H trình bày “sẽ giao lại lương hàng tháng của ông Đ từ năm 2001 đến năm 2019 cho vợ của ông Đ là Nguyễn Thị Bích P1”. Và theo bản án số 82/2021/DS-ST ngày 17/5/2021 thì ông P trình bày ông P là người quản lý và giữ tiền của công ty, ông P đưa tiền cho ông Â, ông  đưa cho bà P1, bà P1 khai chỉ nhận 2-3 lần, mỗi lần 6.000.000 đồng. Tuy nhiên, ông Đ khai ông Đ chưa nhận được bất cứ khoản tiền nào từ ông H, ông P, ông  hay bà P1. Ông H là người điều hành công ty, tiền lương của ông Đ do ông H đã rút ra khỏi công ty và đưa cho ông P, ông  trả cho ông Đ, tiền lương đã kết toán và báo cáo thuế. Ông H, ông P, ông  là người nhận tiền nhưng không đưa cho ông Đ nên ông Đ không xác định được ông H, ông P và ông  mỗi người giữ của ông Đ bao nhiêu tiền lương. Nên ông Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc cá nhân ông Trương Chí H, ông Đỗ Trung Thiện  và ông Nguyễn Hữu P cùng có trách nhiệm trả lại tài sản là tiền lương cho ông Đ do ông H, ông P và ông  đang giữ, tạm tính từ tháng 9/2001 đến tháng 12/2021 là 1.692.000.000 đồng, số tiền lãi suất tạm tính từ tháng 7/2013 đến tháng 7/2021 là 313.600.000 đồng, tổng cộng là 2.005.600.000 đồng, tạm tính cụ thể như sau: Từ tháng 9/2001 đến tháng 06/2013 là 140 tháng x 4.000.000 đồng/tháng = 560.000.000 đồng (I); Từ tháng 7/2013 đến tháng 12/2014 là 17 tháng x 8.000.000 đồng/tháng = 136.000.000 đồng (II); Từ tháng 01/2015 đến tháng 12/2021 là 83 tháng x 12.000.000 đồng/tháng = 996.000.000 đồng (III); Tổng cộng: (I)+(II)+(III) = 1.692.000.000 đồng (IV). Và lãi suất đối với tiền lương, thù lao tháng 9/2001 đến tháng 6/2013 theo mức lãi suất 7%/năm. Thời gian tính lãi suất từ tháng 7/2013 đến tháng 7/2021 là 8 năm thành tiền là 560.000.000 đồng x 7%/năm x 8 năm = 313.600.000 đồng (V); Tổng cộng: (IV)+(V) là 2.005.600.000 đồng.
Ông Đ xác định chỉ kiện cá nhân là ông H, ông P và ông  cùng liên đới trả lại tài sản cho ông là tiền lương như yêu cầu ở trên, không yêu cầu vợ của ông Trương Chí H, ông Đỗ Trung Thiện  và ông Nguyễn Hữu P hay công ty TNHH S.
Tại phiên tòa ông Đ xác định lại yêu cầu khởi kiện cụ thể như sau:
+ Buộc cá nhân ông Trương Chí H, ông Đỗ Trung Thiện  và ông Nguyễn Hữu P cùng có trách nhiệm trả lại tài sản là tiền lương cho ông Đ từ tháng 9/2001 đến tháng 3/2021 với tổng số tiền là 1.542.000.000 đồng, trong đó: Từ tháng 9/2001 đến tháng 03/2008 với mức lương cơ sở do nhà nước công bố tổng cộng là 25.500.000đ (cụ thể: Từ 9/2001-12/2002 là 210.000đ x 16 tháng = 3.360.0000đ; Từ tháng 01/2003-9/2005 là 290.000đ x 33 tháng = 9.570.000đ; Từ tháng 10/2005-9/2006 là 350.000đ x 12 tháng = 4.200.000đ; Từ tháng 10/2006- 12/2007 là 450.000đ x 15 tháng = 6.750.000đ; Từ tháng 01/2008-3/2008 là 540.000đ x 03 tháng = 1.620.000đ); từ tháng 4/2008 đến tháng 06/2013 là 63 tháng x 7.500.000đ/tháng = 472.500.000đ; từ tháng 7/2013 đến tháng 12/2014 là 18 tháng x 8.000.000đ/tháng = 144.000.000đ; từ tháng 01/2015 đến tháng 03/2021 là 75 tháng x 12.000.000đ/tháng = 900.000.000đ.
+ Buộc cá nhân ông Trương Chí H, ông Đỗ Trung Thiện  và ông Nguyễn Hữu P cùng có trách nhiệm trả lãi chậm thanh toán theo Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 cho ông Đ với số tiền cụ thể như sau:
1/ Tiền lãi 10%/năm theo nghĩa vụ chậm trả từ tháng 01/4/2008 đến tháng 31/3/2008 là 5630 ngày x 25.500.000đ x 10%/năm = 39.332.876đ (b1).
2/ Tiền lãi 10%/năm theo nghĩa vụ chậm trả từ tháng 4/2008 đến tháng 6/2013. Tiền lương mỗi năm là: 7.500.000đ/tháng x 12 tháng= 90.000.000đ. Mức lương theo danh sách đăng ký quý II/2008 của Công ty.
- Tiền lãi từ 01/4/2008 đến 31/8/2023 là: 15 năm 4 tháng {{90,000,000đ x 15năm} + (7.500.000đx 4 tháng)} 10% = 138.000.000đ - Tiền lãi từ 01/4/2009 đến 31/8/2023 là: 14 năm 4 tháng {{90.000.000đ x 14năm} + (7.500,000đ x 4 tháng)} 10%= 129.000.000đ - Tiền lãi từ 01/4/2009 đến 31/8/2023 là: 13 năm 4 tháng{{90.000.000đ x 13năm}+(7.500.000đ x 4 tháng)} 10% = 120.000.000đ - Tiền lãi từ 01/4/2010 đến 31/8/2023 là: 12 năm 4 tháng {{90.000.000đ x 12năm} + (7.500.000đ x 4 tháng)} 10%= 111.000.000đ - Tiền lãi từ 01/4/2011 đến 31/8/2023 là: 11 năm 4 tháng {{90.000.000đ x11 năm} + (7.500.000đ x 4 tháng)} 10% = 102.000.000đ - Tiền lãi từ 01/4/2012 đến 31/8/2023 là: 10 năm 4 tháng {{90.000.000đ x 10năm} + (7.500.000đ x 4 tháng)} 10% = 93.000.000đ - Tiền lãi từ 01/4/2013 đến 31/8/2023 là: 9 năm 4 tháng {{90.000.000đ x 9 năm} + (7.500.000đ x 4 tháng)} 10% = 84.000.000đ - Tiền lãi từ 01/4/2014 đến 31/8/2023 là: 8 năm 4 tháng {{90.000.000đ x 8 năm} + (7.500.000đ x 4 tháng)} 10%= 75.000.000đ - Tiền lãi 2 tháng: 5+6/2013 đến 31/8/2023 là: 9 năm 4 tháng {{15.000.000đ x 9 năm}+(7.500.000đ x 4 tháng)} 10%= 16.500.000đ Cộng: b2 = 868.500.000đ.
3/ Tiền lãi 10%/năm theo nghĩa vụ chậm trả từ tháng 7/2013 đến tháng 12/2014. Tiền lương mỗi năm là: 8.000.000đ/tháng x 12 tháng 96.000.000đ.
Tiền lãi từ 01/7/2013 đến 31/8/2023 là: 10 năm 1 tháng {{96.000.000đ x 10năm} + (8.000.000đ x 1 tháng)} 10% = 96.800.000đ Tiền lãi từ 01/7/2014 đến 31/8/2023 là: 9 năm 1 tháng {{96.000.000đx9 năm} + (8.000.000đ x 1 tháng)}10%=87.200.000đ Tiền lãi 5 tháng: 8+9+10+11+12/2014 là 9 năm 1 tháng {{40.000.000đ x 9 năm} + (8.000.000đ x 1 tháng)} 10%= 36,800.000đ Cộng: b3 = 220.000.000đ .
4/ Tiền lãi 10%/năm theo nghĩa vụ chậm trả từ tháng 1/2015 đến tháng 03/2021. Tiền lương mỗi năm là: 12.000.000đ/tháng x 12 tháng= 144.000.000đ.
Tiền lãi từ 01/1/2015 đến 31/8/2023 là: 8 năm 7 tháng {(144.000.000đ x 8năm) + (12.000.000đ x 7tháng)} 10%=123.600.000đ Tiền lãi từ 01/1/2016 đến 31/8/2023 là: 7 năm 7 tháng {(144..000.000đ x 7năm) + (12.000.000đ x 7tháng)}10%= 109.200.000đ Tiền lãi từ 01/1/2017 đến 31/8/2023 là: 6 năm 7 tháng {(144.000.000đ x 6năm) + (12.000.000đ x 7tháng)} 10%= 94.800.000đ Tiền lãi từ 01/1/2018 đến 31/8/2023 là: 5 năm 7 tháng {144,000,000đ x 5năm) + (12.000.000đ x 7tháng)} 10%= 80.400.000đ Tiền lãi từ 01/1/2019 đến 31/8/2023 là: 4 năm 7 tháng {(144,000,000đ x 4năm) + (12.000.000đ x 7 tháng)} 10%= 66.000.000đ Tiền lãi từ 01/1/2020 đến 31/8/2023 là: 3 năm 7 tháng {(144,000,000đx3năm)+(12.000.000đx 7 tháng)} 10%=51.600,000đ Tiền lãi từ 01/1/2021 đến 31/8/2023 là: 2 năm 7 tháng {(144.000.000đ x 2năm)+(12.000.000đ x 7tháng)} 10%= 37.200.000đ Tiền lãi 2 tháng 2+3/2021 đến 31/8/2023 là: 2 năm 5 tháng {(24,000,000đ x 2 năm)+(12,000,000đ x 4 tháng)} 10%= 9.600.000đ.
Cộng: b4 = 572.400.000đ Tổng cộng tiền lãi b1 + b2 + b3 + b4 = 1.700.232.876đ Như vậy, ông Trương Chí H, ông Đỗ Trung Thiện  và ông Nguyễn Hữu P cùng có trách nhiệm trả tổng gốc và lãi chậm thanh toán là 3.242.232.876 đồng, yêu cầu thanh toán 01 lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Trương Chí H trình bày:
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Đ yêu cầu ông trả lại tiền lương cho ông từ năm 2001 đến nay, ông không đồng ý vì:
Tiền lương phó giám đốc của ông Nguyễn Hoàng Đ đã được công ty TNHH S-TM Hiếu Phụng chi trả hàng tháng và đầy đủ từ năm 2012 đến năm 2018. Từ lúc thành lập công ty năm 2001 đến tháng 01/2012, ông Đ và ông H đồng ý không nhận lương. Việc này đã được thể hiện trung thực trong sổ sách kế toán của công ty. Hơn nữa tiền lương của ông Đ không phải cá nhân ông H trả mà do công ty chi trả nên không thể đòi cá nhân.
Năm 2019, ông Đ có khởi kiện công ty để đòi tiền lương từ năm 2002 đến 2021 với số tiền 1.810.400.000 đồng. Tuy nhiên, quá trình khởi kiện ông Đ chuyển từ tranh chấp tiền lương thành tranh chấp trả tiền thù lao vì ông Đ không có làm việc mà chỉ đến công ty khi có cuộc họp, báo cáo hay có kế hoạch đầu tư, không có lao động tại công ty nên không có tiền lương cho ông Đ mà ông Đ chỉ đòi tiền thù lao. Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Liêm, tỉnh Vĩnh Long và Bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đều không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đ.
Đối với yêu cầu của ông Đ đã được Tòa án huyện Vũng Liêm xét xử sơ thẩm theo bản án số 77/2020/DS-ST ngày 30/12/2020 và bản án phúc thẩm số 82/2021/DS-PT ngày 17/5/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long. Do đó, đề nghị Tòa án nhân dân quận Tân Bình đình chỉ đối với yêu cầu của ông Đ đã được Tòa án thụ lý số 152/2022/DS-ST ngày 14/6/2022.
Ông H trình bày ý kiến trong các bản án và bản tự khai ở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm và Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long với tư cách là đại diện theo pháp luật của Công ty S, không phải cá nhân ông H nên ông Đ kiện ông H là không có cơ sở đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu của ông Đ và chuyển hồ sơ về Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm giải quyết theo thẩm quyền.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Nguyễn Hữu P trình bày:
Ông P là quản đốc của công ty S từ khi thành lập đến nay. Từ lúc thành lập công ty năm 2001 đến tháng 01/2012, ông Đ và ông H đồng ý không nhận lương nhưng ông không biết lý do. Từ tháng 02/2012 đến tháng 6/2013 lương của ông H và ông Đ mỗi người là 4.000.000đ/tháng, từ tháng 7/2013 đến tháng 12/2014 là 8.000.000đ/tháng, từ tháng 01/2015 đến tháng 3/2018 là 12.000.000đ/tháng, từ tháng 4/2018 đến tháng 8/2019 là 6.000.000đ/tháng. Mỗi lần trả lương cho ông Đ, ông đều đưa cho ông  đưa giùm cho ông Đ, khi đưa không có ký nhận.
Từ tháng 02/2019 đến nay, công ty S còn giữ lương của ông Đ do không thể chuyển khoản cho ông Đ được. Công ty đã làm hồ sơ trả lại số tiền trên cho Công ty theo Bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
Ông P không đồng ý với yêu cầu của ông Đ yêu cầu ông Đ cũng có trách nhiệm trả lại tiền lương cho ông Đ vì ông không có giữ tiền lương của ông Đ.
Tại phiên tòa sơ thẩm ông P giữ nguyên các ý kiến đã trình bày và bổ sung ý kiến là trước khi ông giao tiền cho ông  thì hàng tháng ông P đều mang sổ sách lên nhà cho ông Đ kiểm tra và giao tiền cho ông Đ hoặc giao vợ con của ông Đ, khi giao tiền cho ông  hay ông Đ đều không có cho ký nhận.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Đỗ Trung Thiện  trình bày:
Từ năm 2010 đến tháng 01/2019, ông P là quản đốc của công ty có đưa tiền lương mỗi tháng của ông Đ cho ông nhờ ông  chuyển cho ông Đ và ông H. Mỗi lần nhờ ông  giao tiền giùm thì ông P đều bỏ sẵn vào bao thư nên ông  không biết trong đó có bao nhiêu tiền. Mỗi tháng ông  đều về giao lại cho vợ của ông Đ là bà Nguyễn Thị Bích P1 vì được sự đồng ý của ông Đ. Khi ông  đưa tiền cho bà P1 không có cho ký nhận, đến khi giữa ông H và ông Đ có tranh chấp thì có đưa cho bà P1 ký nhận tiền tháng 10, 11 và 12/2018, mỗi lần là 6.000.000đ.
Ông  xác nhận khi ông  gặp ông Đ thì ông có đưa số tiền lương trực tiếp cho ông Đ. Nếu ông  không gặp được ông Đ thì ông  sẽ bàn giao cho ông P để ông P đưa cho ông Đ.
Ông xin vắng mặt toàn bộ quá trình tố tụng: Hòa giải, phiên họp, xét xử… Tại phiên tòa sơ thẩm, ông  xác nhận lại ông  không có giao tiền trực tiếp cho ông Đ mà đều giao cho bà P1 là vợ của ông Đ, các ý kiến khác vẫn giữ nguyên.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Văn Q trình bày:
Ông là kế toán của Công ty S nhưng ông chỉ quản lý về sổ sách. Ông P là người trực tiếp quản lý tiền và chi trả tiền lương cho nhân viên. Mỗi tháng đều có báo cáo thu chi tiền mặt, thỉnh thoảng ông có thấy ông P giao bảng báo cáo thu chi tiền mặt cho ông H và ông Đ bao giờ cũng kèm theo mỗi người một bao thư tiền lương. Khi nhận tiền không có ký nhận liền mà khoảng 02, 03 tháng mới đưa cho giám đốc và nhân viên ký một lần, riêng ông Đ không có mặt nên không ký tên.
Ông xin vắng mặt toàn bộ quá trình tố tụng: Hòa giải, phiên họp, xét xử…
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Bích P1 trình bày:
Ông H cho rằng đã giao tiền lương từ năm 2001 đến 2019 của chồng bà là ông Nguyễn Hoàng Đ cho bà là không đúng sự thật vì bà P1 chỉ nhận 02-03 lần, mỗi lần 6.000.000 đồng do ông Đỗ Trung Thiện  đưa trực tiếp cho bà P1. Khi nhận tiền bà P1 có viết biên nhận đã nhận tiền do ông  giao cho bà. Khi ông  giao tiền cho bà P1, ông Đ không biết. Vì bà P1 nghĩ không quan trọng đều là bà con trong gia đình và số tiền nhỏ. Khi ông Đ biết thì ông Đ không cho bà P1 tiếp tục nhận vì đó là việc của ông Đ, ông H, công ty S do ông Đ tự giải quyết. Bà P1 xác định tiền lương công ty S trả cho ông Đ là khoản tiền riêng của ông Đ, không liên quan đến bà P1 và gia đình cho nên việc ông Đ kiện ông H, ông Â, ông Q, bà P1 không liên quan. Bà P1 nhận tiền 02-03 lần, mỗi lần 6.000.000đồng từ ông Â, bà và ông  sẽ giải quyết với nhau.
Bà xin vắng mặt toàn bộ quá trình tố tụng: Hòa giải, phiên họp, xét xử… vì lý do sức khỏe, đi lại khó khăn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH S trình bày:
Thứ nhất: Ông Đ không phải là người lao động của Công ty S và không có quyền khởi kiện đòi lại tiền lương bất kỳ cá nhân nào.
Năm 2019, ông Đ có khởi kiện công ty để đòi tiền lương từ năm 2002 đến 2021 với số tiền 1.810.400.000 đồng. Tuy nhiên, quá trình khởi kiện ông Đ chuyển từ tranh chấp tiền lương thành tranh chấp trả tiền thù lao vì ông Đ không có làm việc mà chỉ đến công ty khi có cuộc họp, báo cáo hay có kế hoạch đầu tư, không có lao động tại công ty nên không có tiền lương cho ông mà ông chỉ đòi tiền thù lao. Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Liêm, tỉnh Vĩnh Long và Bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đều bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đ.
Công ty S đã chi trả lương cho ông Đ đầy đủ vì nếu không trả lương thì sẽ phát sinh nợ lương hàng tháng. Từ năm 2001 đến tháng 01/2012 công ty S không có trả lương cho ông H và ông Đ. Tiền lương không có ký nhận nhưng có thể hiện trong bảng thu chi báo cáo tài chính hàng tháng. Tiền lương của ông Đ cụ thể: Từ tháng 02/2012 đến 6/2013 là 4.000.000đ/tháng, từ tháng 7/2013 đến 12/2014 là 8.000.000đ/tháng, từ tháng 01/2015 đến 3/2018 là 12.000.000đ/tháng, từ tháng 4/2018 đến 12/2019 là 6.000.000đ/tháng, từ tháng 01/2020 đến nay là 12.000.000đ/tháng. Việc tăng giảm lương các bên chỉ thỏa thuận miệng nhưng việc giảm lương tháng 4/2018 thì có quyết định, công ty giảm lương là do ông Đ lấy con dấu của công ty nên mọi hoạt động của công ty đều gặp khó khăn là cho việc kinh doanh không thuận lợi. Ngoài ra, theo yêu cầu của ông Đ từ tháng 02/2012 đến năm 2019 nếu không gửi được lương cho ông thì có thể gửi cho vợ của ông là bà Nguyễn Thị Bích P1 nhận thay (các bên thỏa thuận miệng với nhau).
Thứ hai: Việc ông Đ đòi tiền lương ông Trương Chí H là không phù hợp vì: Ông Đ không phải là nhân viên công ty S nên ông Đ đòi tiền lương ông H, ông P, ông  là không phù hợp. Bên cạnh đó ông H với chức vụ giám đốc nhưng người đưa tiền lương cho ông Đ là ông P, ông  hoàn toàn không liên quan đến ông H.
Căn cứ bản án phúc thẩm số 82/2021/DS-PT ngày 17/5/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long cho phép ông Đ được quyền khởi kiện 1 vụ án khác với công ty S để tranh chấp tiền lương. Trong khi đó hiện nay công ty S không công nhận ông Đ là người lao động của công ty từ năm 2001 đến nay. Do đó để có quyền khởi kiện vụ án này ông Đ phải khởi kiện công ty S để tranh chấp đòi lại tiền lương trước nếu được Tòa án chấp nhận là người lao động thì ông Đ mới có quyền khởi kiện vụ án này nhưng phải khởi kiện người trực tiếp chỉ lương là ông P, ông Â, còn đối với ông H hoàn toàn không liên quan. Công ty S đề nghị Tòa án đình chỉ yêu cầu đòi tiền lương của ông Đ với ông H. Nếu không có căn cứ đình chỉ thì đề nghị chuyển toàn bộ hồ sơ về Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết theo đúng thẩm quyền.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của Công ty S trình bày: Công ty S vẫn giữ nguyên các ý kiến đã trình bày và bổ sung ý kiến thêm đối với lời trình bày tại biên bản hòa giải ngày 30/7/2019 và ngày 19/9/2023 tại Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long “tiền lương của ông Đ từ năm 2001 đến năm 2019 gửi cho vợ ông Đ là bà P1 nhận”, ông H trình bày với tư cách của công ty S, không phải cá nhân ông H, và xác nhận công ty S chi trả lương cho ông Đ từ năm 2012, trình bày tiền lương của ông Đ từ năm 2001 đến năm 2019 là do ghi theo yêu cầu khởi kiện của ông Đ yêu cầu trả lương cho ông Đ từ năm 2001 để khẳng định đã trả đầy đủ tiền lương cho ông Đ.
* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 370/2023/DS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Đ:
Buộc ông Trương Chí H và ông Nguyễn Hữu P có trách nhiệm liên đới trả lại tài sản là tiền lương bao gồm gốc và lãi cho ông Nguyễn Hoàng Đ từ từ 9/2001 đến 11/2010 là 302.888.219đồng, thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Buộc ông Trương Chí H, ông Nguyễn Hữu P ông Đỗ Trung Thiện  có trách nhiệm liên đới trả lại tài sản là tiền lương bao gồm gốc và lãi cho ông Nguyễn Hoàng Đ từ 12/2010 đến 01/2019 là 1.100.322.739đồng, thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Đ bao gồm gốc và lãi với tổng số tiền là 1.839.021.918 đồng.
Đối với số tiền bà P1 nhận từ ông Đỗ Trung Thiện  03 lần, mỗi lần 6.000.000đồng, có ký nhận của bà P1 vào tháng 10, 11 và 12/2018; ông  và bà P1 có quyền tranh chấp với nhau bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
Ông Đ có quyền khởi kiện Công ty TNHH S để yêu cầu Công ty TNHH S trả cho ông tiền lương từ tháng 02/2019 đến tháng 03/2021 bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Cùng ngày 31/8/2023, bị đơn là ông Trương Chí H và ông Đỗ Trung Thiện Â, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH S có các đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu sửa bản án theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 01/9/2023 bị đơn là ông Nguyễn Hữu P có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu sửa bản án theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 05/9/2023 nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Đ có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông.
* Tại phiên toà phúc thẩm:
- Nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm.
Yêu cầu sửa lại thời điểm tính mức lương cơ sở là thời điểm xét xử ngày 22/8/2023 với mức lương cơ sở là 1.800.000đ/tháng; tiền lương theo chức danh Phó giám đốc của ông Đ từ tháng 02/2019 đến tháng 3/2021. Bị đơn xác nhận đã chuyển khoản cho ông Đ nhưng không chuyển khoản được, ông Đ yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm buộc bị đơn chi trả tiền lương giai đoạn từ tháng 2/2019 đến tháng 3/2021 (ngày công ty chấm dứt thời hạn hoạt động theo Luật doanh nghiệp và Điều lệ công ty) thay vì tại Bản án sơ thẩm cho ông Đ được khởi kiện tại vụ án khác. Bản án sơ thẩm chỉ tuyên tiền lãi theo nghĩa vụ chậm trả đối với các bị đơn kể từ ngày khởi kiện 26/3/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm 22/8/2023 theo lãi suất 10%/năm. Theo phán quyết của Toà án cấp sơ thẩm vừa không thoả đáng, vừa không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đ từ tháng 9/2001 đến 22/8/2023. Yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm cho sửa lại thời điểm tính lãi theo nghĩa vụ chậm trả tính từ tháng 9/2001 đến ngày xét xử 22/8/2023 thay vì từ ngày khởi kiện 26/3/2022 đến ngày xét xử 22/8/2023 và buộc ông Trương Chí H, ông Nguyễn Hữu P, ông Đỗ Trung Thiện  có nghĩa vụ liên đới trả lại cho ông Đ tài sản là tiền lương với số tiền là: 1.622.200.000 đồng (I) và tiền lãi theo nghĩa vụ chậm trả với số tiền là: 1.603.700.000 đồng (II). Tổng cộng (I+II) = 3.225.900.000 đồng.
- Người đại diện ủy quyền của các bị đơn là bà Phùng Thị Ngọc H1 trình bày:
Tại phiên tòa phúc thẩm ông Nguyễn Hoàng Đ là nguyên đơn xác nhận như sau: Ông Đ chỉ khởi kiện các ông Trương Chí H, ông Đỗ Trung Thiện Â, ông Nguyễn Hữu P; không khởi kiện Công ty TNHH S. Ông Đ và ông H không có văn bản thỏa thuận nào về việc gửi giữ tài sản, chỉ có thỏa thuận miệng. Ông Đ có ký tên trên bảng lương công ty S từ tháng 01 - tháng 12/2015 nhưng ông chỉ ký tên không nhận tiền lương, do nhân viên cần để sử dụng việc cá nhân nên ông ký. Ông Đ không phải là nhân viên hay phó giám đốc công ty S.
1/ Đối với ông Nguyễn Hữu P:
Ông P là quản đốc công ty là người trực tiếp phát lương cho nhân viên. Vài lần ông P ký tên ông Đ trên bảng lương nhưng ông không nhớ rõ ngày tháng và nhờ ông  giao cho ông Đ nhưng ông Đ không thừa nhận. Việc ông P ký nhận lương cho ông Đ mà không được sự ủy quyền của ông Đ và ông Đ không thừa nhận thì ông P có trách nhiệm trả cho công ty. Ông P và ông Đ không có văn bản thỏa thuận nào về việc gửi giữ tài sản. Vì vậy ông không đồng ý với tất cả yêu cầu khởi kiện của ông Đ. Nếu ông Đ có yêu cầu thì khởi kiện công ty. Ông yêu cầu Tòa cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm số 370/2023/DS-ST ngày 22/08/2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng Đ.
2/ Đối với ông Đỗ Trung Thiện Ân Ông Ân không phải là nhân viên công ty mà là tài xế cho ông H, nên khi từ công ty đi Thành phố Hồ Chí Minh ông P đã nhờ ông Â1 đưa bao thư có tiền lương cho ông Đ thì ông Â1 nhận đưa giùm (không nhận bất kỳ thù lao nào). Khi gặp ông Đ thì ông đưa ông Đ, không gặp thì đưa vợ ông Đ là bà P1 và vài lần không gặp ông Đ thì ông Â1 cầm về và giao lại cho ông P. Ông Â1 không giữ bất kỳ đồng nào và ông chỉ là người đưa giùm. Đồng thời giữa ông Â1 và ông Đ không có văn bản thỏa thuận về việc gửi giữ tài sản. Ông không đồng ý với tất cả yêu cầu khởi kiện của ông Đ. Nếu ông Đ có yêu cầu thì khởi kiện Công ty S. Ông yêu cầu Tòa cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm số 370/2023/DS-ST ngày 22/08/2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng Đ.
3/ Đối với ông Trương Chí H Ông H là giám đốc Công ty S. Bảng lương do kế toán làm, và ông H ký tên (giám đốc) trên bảng lương của công ty. Ông P là quản đốc, chi lương cho nhân viên nên ông H không có nhận cũng như giữ bất kỳ tiền lương nào của ông Đ. Giữa ông H và ông Đ không có văn bản nào thỏa thuận về việc gửi giữ tài sản. Ông không đồng ý với tất cả yêu cầu khởi kiện của ông Đ. Nếu ông Đ có yêu cầu thì khởi kiện Công ty S. Vì vậy ông yêu cầu Tòa phúc thẩm, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 370/2023/DS-ST ngày 22/08/2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo hướng không chấp nhận đơn khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng Đ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án tại giai đoạn phúc thẩm:
Thẩm phán, các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án, các đương sự trong vụ án đã thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Về nội dung, với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập thể hiện:
Ông H là giám đốc Công ty S nên phải ký tên trong bảng trả lương cho tất cả người lao động. Ông Đ không nhờ ông H nhận lương giúp và cũng không gửi giữ tiền lương của ông Đ cho ông H. Xét về mặt pháp lý giữa ông H và ông Đ không phát sinh quyền và nghĩa vụ gì giữa hai bên. Ông H không có nghĩa vụ trả lương cho ông Đ và cũng không có nghĩa vụ trả nợ gì cho ông Đ. Ông Đ không chứng minh được ông H chiếm giữ tài sản của ông Đ.
Đối với ông P là quản đốc kiêm thủ quỹ của Công ty, là người chịu trách nhiệm trực tiếp chi trả lương cho người lao động của công ty. Ông P giao tiền lương của ông Đ qua người khác mà cụ thể là ông Â1 mà không ký nhận là vi phạm nguyên tắc tài chính kế toán. Do đó ông P phải chịu trách nhiệm hoàn trả lại tài sản là tiền lương cho ông Đ.
Đối với ông Â1 là người được ông P giao tiền bỏ vào bì thư chuyển cho ông Đ hoặc vợ ông Đ. Xét thấy ông Â1 không phải là người có trách nhiệm chi trả lương của công ty mà xuất phát từ việc ông P nhờ chuyển giúp cho ông Đ.
Án sơ thẩm đã xét xử và tuyên buộc ông H, ông P, ông Â1 phải liên đới hoàn trả tài sản là tiền lương cho ông Đ là không đúng quy định của pháp luật.
Do đó đề nghị hội đồng xét xử tuyên xử sửa án sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn buộc ông Nguyễn Hữu P phải hoàn trả số tiền đã nhận cho ông Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của của ông Nguyễn Hoàng Đ, ông Trương Chí H, ông Đỗ Trung Thiện Â1, ông Nguyễn Hữu P, Công ty TNHH S làm trong hạn luật định, phù hợp với quy định tại Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đương sự đã nộp tạm ứng án phí kháng cáo theo quy định là hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung giải quyết vụ án:
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn và bị đơn không thỏa thuận được với nhau. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Căn cứ Bản án sơ thẩm số 77/2020/DS-ST ngày 30/12/2020 do Tòa án nhân huyện V, tỉnh Vĩnh Long đã xét xử về việc tranh chấp tiền thù lao và hủy quyết định giảm lương giữa nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Đ với bị đơn Công ty TNHH S. Nhận thấy vụ án này đã được Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm, trong nội dung vụ án này ban đầu ông Đ khởi kiện tranh chấp tiền lương nhưng sau đó chuyển số tiền tranh chấp thành tranh chấp tiền thù lao với số tiền 1.810.400.000 đồng. Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã y án sơ thẩm bác yêu cầu tranh chấp tiền thù lao của ông Đ. Bản án phúc thẩm số 82/201/DS-PT ngày 17/5/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã có hiệu lực pháp luật.
Tại bản án phúc thẩm số 106/2023/KDTM-PT ngày 25/9/2023 Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử tranh chấp giữa ông Đ với ông H và Công ty S về việc tranh chấp lợi nhuận. Bản án đã tuyên buộc Công ty S phải chia lợi nhuận cho ông Đ số tiền 1.464.950.491 đồng. Như vậy có thể thấy: Về lợi nhuận của ông Đ trong Công ty S đã được giải quyết. Việc tranh chấp dân sự của ông Đ với ông H mà Bản án sơ thẩm số 370/2023/DS-ST ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình đã xét xử là xuất phát từ tiền lương mà ông Đ yêu cầu các ông H, P, Â1 phải chịu trách nhiệm cá nhân. Như vậy cơ sở để ông Đ khởi kiện và đối tượng tranh chấp là xuất phát từ khoản tiền lương mà nguyên đơn cho rằng là tài sản của nguyên đơn bị các ông H, P, Â1 chiếm giữ. Nhận thấy giữa ông Đ với các ông H, P, Â1 không có thỏa thuận gì về việc ông Đ gửi giữ hoặc nhờ các ông này nhận giúp tiền lương cho ông Đ. Tài sản mà ông Đ tranh chấp là tiền lương. Ông Đ là nguyên đơn khởi kiện tranh chấp dân sự và xác định tài sản của ông bị chiếm giữ. Nên yêu cầu hoàn trả. Tuy nhiên tài sản này của ông Đ là tiền lương. Tiền lương của ông Đ không phải cá nhân ông H trả mà do Công ty S chi trả nên không thể đòi cá nhân. Ông H là Giám đốc Công ty nên phải ký tên trong bảng trả lương cho tất cả người lao động. Giữa ông H và ông Đ không quan hệ cá nhân gì, ông Đ không nhờ ông H nhận lương giúp và cũng không gửi giữ tiền lương của ông Đ cho ông H. Xét về mặt pháp lý giữa ông H và ông Đ không phát sinh quyền và nghĩa vụ gì giữa hai bên. Ông H không có nghĩa vụ trả lương cho ông Đ và cũng không có nghĩa vụ trả nợ nằm gì cho ông Đ. Ông Đ không chứng minh được ông H chiếm giữ tài sản của ông Đ.
Đối với ông P là quản đốc kiêm thủ quỹ của công ty là người chịu trách nhiệm trực tiếp chi trả lương cho người lao động của công ty. Ông P giao tiền lương của ông Đ qua người khác mà cụ thể là ông Â1 mà không ký nhận là vi phạm nguyên tắc tài chính kế toán. Do đó ông P phải chịu trách nhiệm hoàn trả lại tài sản là tiền lương cho ông Đ.
Đối với ông Â1 là người được ông P giao tiền bỏ vào bì thư chuyển cho ông Đ hoặc vợ ông Đ. Xét thấy ông Â1 không phải là người có trách nhiệm chi trả lương của công ty mà xuất phát từ việc ông P nhờ chuyển giúp cho ông Đ vì ông Â1 là tài xế có điều kiện đi lại thường xuyên gặp ông Đ và người nhà ông Đ nhiều hơn.
Năm 2015 ông Đ có ký nhận vào bảng lương và từ tháng 10,11,12/2018 ông Â1 có giao tiền lương của ông Đ cho vợ ông Đ là bà P1. Bà P1 thừa nhận. Tại phiên tòa ông Đ thừa nhận ông P là anh vợ của ông, bà P1 vợ ông là em ruột ông P, cha mẹ ông P đã chết từ lâu, chết trước ông P. Ông P chỉ có 1 người con là ông Nguyễn Hữu Quốc V. Bà Nguyễn Bích Thủy c sống với ông P nhưng không có đăng ký kết hôn, từ năm 1976 đến năm 1982 thì hai người chia tay và sống riêng. Do đó người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông P chỉ là ông V. Ông Nguyễn Hữu Quốc V là người phải chịu trách nhiệm kế thừa nghĩa vụ thanh toán của ông P trong phạm vi di sản của ông P để lại (nếu có).
Qua phân tích như trên và qua xét xử và diễn biến tại phiên tòa Hội đồng xét xử đều nhận thấy ông P là người phải chịu trách nhiệm hoàn trả tài sản là tiền lương của ông Đ. Do ông P chỉ thừa nhận có chi trả lương từ 02/2012 đến 01/2019 nên chỉ có cơ sở buộc ông P phải hoàn trả như sau:
Số tiền ông P thừa nhận đã nhận:
Từ đầu | Đến hết | Số tháng | Tiền lương/tháng | Tiền lương |
02/2012 | 06/2013 | 17 | 4.000.000 đ | 68.000.000 đ |
07/2013 | 12/2014 | 18 | 8.000.000 đ | 144.000.000 đ |
01/2016 | 03/2018 | 27 | 12.000.000 đ | 324.000.000 đ |
04/2018 | 09/2018 | 6 | 6.000.000 đ | 36.000.000 đ |
01/2019 | 01/2019 | 1 | 6.000.000 đ | 6.000.000 đ |
Tổng cộng: 578.000.000 đ [3] Qua phân tích như trên Hội đồng xét xử nhận thấy bản án sơ thẩm đã nhận định và tuyên buộc ông Trương Chí H và ông Nguyễn Hữu P có trách nhiệm liên đới trả lại tài sản là tiền lương bao gồm gốc và lãi cho ông Nguyễn Hoàng Đ từ tháng 9/2001 đến tháng 11/2010 là 302.888.219 đồng; buộc ông Trương Chí H, ông Nguyễn Hữu P ông Đỗ Trung Thiện Â1 có trách nhiệm liên đới trả lại tài sản là tiền lương bao gồm gốc và lãi cho ông Nguyễn Hoàng Đ từ 12/2010 đến 01/2019 là 1.100.322.739 đồng. Xét việc nhận định và tuyên buộc như trên của án sơ thẩm là hoàn toàn không có cơ sở và không có căn cứ. Do đó chỉ có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Đ về việc buộc ông P phải hoàn trả tài sản là tiền lương gốc đã giữ của ông Đ. Không có cơ sở để buộc ông phúc trả lãi. Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị sửa bản sơ thẩm. Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của đại diện kiểm sát.
[4] Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định lại nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm như sau:
Ông Nguyễn Hoàng Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền không được chấp nhận. Do ông Đ là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Trương Chí H, ông Đỗ Trung Thiện Â1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Nguyễn Hữu P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền 578.000.000 đồng phải trả cho ông Đ. Do ông P là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm.
[5] Do sửa án sơ thẩm, nên các đương sự kháng cáo là ông Nguyễn Hoàng Đ, ông Trương Chí H, ông Đỗ Trung Thiện Â1, ông Nguyễn Hữu P, Công ty TNHH S không phải chịu án phí phúc thẩm.
H2 lại cho Công ty TNHH S số tiền tạm ứng án phí đã đóng là 300.000 đồng.
H2 lại cho ông Đỗ Trung Thiện Â1 số tiền tạm ứng án phí đã đóng là 300.000 đồng.
[6] Những phần khác trong bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 105 Bộ luật dân 2015 Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Căn cứ vào Luật Thi hành án Dân sự;
Tuyên xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trương Chí H, ông Đỗ Trung Thiện Â1, ông Nguyễn Hữu P, Công ty TNHH S. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hoàng Đ. Sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Đ.
1. Buộc người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Hữu P là ông Nguyễn Hữu Quốc V phải hoàn trả cho ông Nguyễn Hoàng Đ tài sản là số tiền lương đã giữ của ông Đ 578.000.000 (Năm trăm bảy mươi tám triệu) đồng. Ông Nguyễn Hữu Quốc V chỉ phải thanh toán trong phạm vi di sản của ông Nguyễn Hữu P để lại (nếu có).
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng Đ về việc buộc ông ông Trương Chí H, ông Đỗ Trung Thiện Â1, ông Nguyễn Hữu P liên đới trả số tiền lương và lãi chậm trả, tổng cộng là 2.647.900.000 (Hai tỷ sáu trăm bốn mươi bảy triệu chín trăm ngàn) đồng.
3. Giữ nguyên bản án sơ thẩm về việc:
Đối với số tiền bà Nguyễn Thị Bích P1 nhận từ ông Đỗ Trung Thiện Â1 03 lần, mỗi lần 6.000.000đồng, có ký nhận của bà P1 vào tháng 10, 11 và 12/2018; ông Â1 và bà P1 có quyền tranh chấp với nhau bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
Ông Đ có quyền khởi kiện Công ty TNHH S để yêu cầu Công ty TNHH S trả cho ông tiền lương từ tháng 02/2019 đến tháng 03/2021 bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Hoàng Đ và ông Nguyễn Hữu P được miễn nộp án phí do là người cao tuổi.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Hoàng Đ, ông Trương Chí H, ông Đỗ Trung Thiện Â1, ông Nguyễn Hữu P, Công ty TNHH S không phải chịu án phí phúc thẩm do sửa bản án sơ thẩm.
H2 lại cho Công ty TNHH S số tiền tạm ứng án phí đã đóng là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu số 0023602 ngày 13/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
H2 lại cho ông Đỗ Trung Thiện Â1 số tiền tạm ứng án phí đã đóng là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu số 0023548 ngày 31/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Thi hành tại Chi cục Thi hành án Dân sự có thẩm quyền. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tranh chấp đòi tài sản là tiền lương số 424/2024/DS-PT
| Số hiệu: | 424/2024/DS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 14/05/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về