Bản án về tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất số 485/2023/DS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 485/2023/DS-PT NGÀY 25/12/2023 VỀ TRANH CHẤP ĐÒI TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 25 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 326/2023/TLPT-DS ngày 16 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 115/2023/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 3659/2023/QĐ-PT ngày 01 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Văn H – Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1981.

Địa chỉ: Số nhà I, Ấp C, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Ông Đặng Văn H1, sinh năm 1973.

Địa chỉ: Số nhà E, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Cao Vĩnh P, sinh năm 1964. Địa chỉ: Số nhà E, ấp G, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân tỉnh B.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc T – Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Phan Hùng C – Phó Trưởng phòng Quản lý Đất đai - Đo đạc bản đồ và Viễn thám thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Đặng Văn H1.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung của nguyên đơn Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bến Tre và trong quá trình tố tụng, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hồng L trình bày:

Bộ (CHQS) tỉnh Bến Tre được Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất số 06/QSDĐ/2462/QĐUBND ngày 30 tháng 5 năm 2001 với tổng diện tích được quyền sử dụng là 8.237.507 m2 tại ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre (nay ấp G, xã A, huyện T). Vào ngày 01 tháng 11 năm 2018 Bộ CHQS tỉnh có Hợp đồng số 97/HĐ-BCH về việc hợp tác sản xuất nông nghiệp diện tích 4,8 ha tọa lạc tại ấp G, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre với ông Đặng Văn H1, sinh năm 1973, địa chỉ ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre; mục đích: sản xuất nông nghiệp; hợp đồng thời vụ 12 tháng (từ ngày 01/11/2018 đến ngày 01/11/2019). Thực hiện chủ trương của Bộ Q, Bộ C2 tỉnh tiến hành thanh lý hợp đồng sản xuất nông nghiệp trên khu đất đất quốc phòng tại ấp G, xã A, huyện T (trong đó có khu đất do ông Đặng Văn H1 đang hợp tác với Bộ C2 tỉnh) để quản lý, sử dụng đúng theo qui định của Luật Đất đai.

Căn cứ Hợp đồng số 97/HĐ-BCH, ngày 01 tháng 11 năm 2018, về việc hợp tác sản xuất nông nghiệp giữa ông Đặng Văn H1 với Bộ CHQS tỉnh C2, thì Hợp đồng số 97/HĐ-BCH có thời hạn 12 tháng, từ ngày 01 tháng 11 năm 2018 đến ngày 01 tháng 11 năm 2019. Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho các hộ dân có thời gian di dời Bộ C2 tỉnh có Công văn số 1119/BCH-HC ngày 26 tháng 9 năm 2019 về việc thông báo chấm dứt hợp đồng hợp tác sản xuất trên đất quốc phòng với các hộ dân ở khu vực xã A (có ông Đặng Văn H1) gửi các hộ dân và Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, có nội dung “không thu tiền hợp đồng 6 tháng cuối năm 2019”. Ngày 10 tháng 7 năm 2019, Bộ C2 tỉnh có mời 38 hộ dân đến gửi Thông báo số 714/TB-BCH ngày 26 tháng 6 năm 2019 của Bộ C2 tỉnh về việc thanh lý kết thúc hợp đồng với các tổ chức, cá nhân hợp tác sản xuất trên khu đất quốc phòng ở xã A, huyện T (có ông Đặng Văn H1), ông Đặng Văn H1 có nhận thông báo thanh lý hợp đồng của Bộ C2 tỉnh.

Ngày 01 tháng 11 năm 2019 Bộ C2 tỉnh có biên bản làm việc về việc thanh lý kết thúc hợp đồng với các tổ chức, cá nhân hợp tác sản xuất trên đất quốc phòng ở xã A, huyện T. Ngày 27 tháng 5 năm 2020, Bộ C2 tỉnh có mời ông Đặng Văn H1 đến thanh lý hợp đồng, ông H1 không đến làm việc Bộ CHQS tỉnh lập biên bản vắng mặt. Ngày 28 tháng 7 năm 2020, Bộ C2 tỉnh có Thông báo số 1046/TB-BCH về việc thông báo hợp đồng hết hiệu lực đối với ông Đặng Văn H1. Ngày 04 tháng 9 năm 2020, Bộ C2 tỉnh có thông báo số 1305/TB-BCH về việc trả lời đơn yêu cầu của các hộ dân hợp tác sản xuất nông nghiệp trên đất quốc phòng do Bộ C2 tỉnh quản lý tại ấp G, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre, trong đó có ông Đặng Văn H1. Ngày 05 tháng 10 năm 2020, Bộ CHQS tỉnh có Thông báo số 1508/TB-BCH ngày 05 tháng 10 năm 2020 của Bộ C2 tỉnh về việc di dời ra khỏi khu vực đất quốc phòng do Bộ C2 tỉnh quản lý tại ấp G, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre, trong đó có thông báo cho ông Đặng Văn H1. Ngày 22 tháng 4 năm 2022, Tổ công tác số 01 và 02 của Ban Chỉ đạo vận động thu hồi, quản lý sử dụng đất quốc phòng – an ninh có biên bản họp tuyên truyền, vận động, thu hồi, quản lý đất quốc phòng đối với các hộ dân hợp đồng, hợp tác sản xuất nông nghiệp tại ấp G, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre có làm việc với ông Đặng Văn H1. Ông Đặng Văn H1 ý kiến là các hộ dân đã có đơn gửi Bộ Q giải quyết nên khi nào Bộ Q có văn bản trả lời thì các hộ dân sẽ tiến hành thanh lý hợp đồng. Ông Đặng Văn H1 đề nghị khi tiến hành thanh lý hợp đồng Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh phải có bồi thường, hổ trợ các hộ dân ổn định cuộc sống. Ngày 18 tháng 5 năm 2022, tổ công tác của Bộ C2 tỉnh tiến hành gửi Thông báo số 692/TB-BCH của Bộ CHQS tỉnh C2 về việc thanh lý chấm dứt hợp đồng, hợp tác sản xuất nông nghiệp trên đất quốc phòng xã A, huyện T, có biên bản về việc giao nhận Thông báo thanh lý chấm dứt hợp đồng, hợp tác sản xuất nông nghiệp trên đất quốc phòng thuộc xã A, huyện T. Ông Đặng Văn H1 đồng ý nhận thông báo số 692/TB-BCH của Bộ CHQS tỉnh C2 nhưng không đồng ý ký tên vào biên bản giao nhận thông báo, có sự chứng kiến của chính quyền địa phương xã A. Ngày 24 tháng 5 năm 2022, Bộ C2 tỉnh có Biên bản số 02/BB-BCH về việc thanh lý chấm dứt hợp đồng, hợp tác sản xuất nông nghiệp trên đất quốc phòng thuộc xã A, huyện T. Ông Đặng Văn H1 có đến Tổ bảo vệ quản lý sử dụng đất quốc phòng tại ấp G, xã A, huyện T nhưng khi đồng chí Trung tá Lê Xuân S (Chủ nhiệm Hậu cần) triển khai mục đích, yêu cầu buổi làm việc thì các hộ dân không đồng ý ký thanh lý hợp đồng và tự ý ra về (trong đó có ông Đặng Văn H1).

Theo quy định của Hợp đồng số 97/HĐ-BCH ngày 01 tháng 11 năm 2018 của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh thì hợp đồng đã hết thời hạn vào ngày 01 tháng 11 năm 2019. Do đó, từ tháng 01 năm 2020 đến tháng 10 năm 2022, ông Đặng Văn H1 đang canh tác, sử dụng và cư trú trái phép trên khu đất quốc phòng tại ấp G, xã A, huyện T. Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh đã mời ông Đặng Văn H1 đến thanh lý hợp đồng hết thời hạn nhiều lần nhưng ông H1 không đồng ý gây khó khăn trong quá trình giải quyết. Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Đặng Văn H1 phải tự tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Đặng Văn H1 đã xây dựng trên diện tích qua đo đạc thực tế có diện tích 48.777 m2 (thửa 12-9, tờ bản đồ số 17, có diện tích 41.746,6 m2; thửa 3-18, tờ bản đồ số 18, có diện tích 7.030,5 m2) thuộc một phần thửa 12, tờ bản đồ số 17 và thuộc một phần thửa 3, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp G, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre theo Hợp đồng số 97/HĐ-BCH, ngày 01 tháng 11 năm 2018, về việc hợp tác sản xuất nông nghiệp để trả lại phần đất nêu trên cho Bộ CHQS tỉnh C2. Bộ chỉ huy quân sự tỉnh B không bồi thường tài sản có trên đất, do ông Đặng Văn H1 tự xây dựng cải tạo làm thay đổi hiện trạng trên đất mà không được sự đồng ý của BCH quân sự tỉnh Bến Tre.

Trong quá trình tố tụng, bị đơn ông Đặng Văn H1 và người đại diện theo ủy quyền của ông H1 là ông Cao Vĩnh P trình bày:

Vào năm 1989, tập thể có 08 hộ dân (Trần Văn N, Trần Văn C1, Trần Văn T1, Nguyễn Văn Đ, Chế Chí H2, Đặng Văn H1, Nguyễn Văn S1, Chế Văn T2) cùng khai phác phần đất này, đến năm 1991 thì tập thể đứng ra ký kết hợp đồng với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B thỏa thuận ăn chia lợi tức 07 – 03 (các hộ dân 07 phần, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B 03 phần) do ông Trần Văn C1 đứng ra ký hợp đồng (có 01 bản duy nhất do ông C1 đang giữ), T3 đội chỉ giao cho các hộ trên khoảng 20ha nhưng hiện nay đã khai phá trên khoảng hơn 70ha.

Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B có ký Hợp đồng số 97/HĐ-BCH ngày 01 tháng 11 năm 2018 về việc hợp tác sản xuất nông nghiệp diện tích 4,8ha tọa lạc tại ấp G, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre với ông Đặng Văn H1, ông H1 không biết nội dung chỉ ký kết để được canh tác đất .

Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B khởi kiện yêu cầu ông H1 giao trả lại phần đất qua đo đạc thực tế có diện tích 48.777 m2 (thửa 12-9, tờ bản đồ số 17, có diện tích 41.746,6 m2; thửa 3-18, tờ bản đồ số 18, có diện tích 7.030,5 m2) thuộc một phần thửa 12, tờ bản đồ số 17 và thuộc một phần thửa 3, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp G, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre; Bộ chỉ huy quân sự tỉnh B không bồi thường tài sản có trên đất thì ông H1 không đồng ý.

Ông H1 không đồng ý họa đồ thửa đất số 12, tờ bản đồ số 17; thửa số 3, tờ bản đồ số 18, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre; Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 10/01/2023; Biên bản định giá tài sản ngày 10/01/2023 của Hội đồng định giá huyện T, tỉnh Bến Tre. Ông H1 đề nghị Tòa án giải quyết đất này theo Luật Đất đai hiện hành, vì đất này ông H1 đã khai phá từ năm 1989 cho đến nay. Đất ông H1 khai phá Tỉnh đội không có nộp thuế cho địa phương.

Người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân tỉnh B là ông Trần Ngọc T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại văn bản số 4803/UBND-NC ngày 09/8/2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh B có nội dung:

Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp Giấy chứng nhận cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh thửa đất số 235, 236 và 237, cùng tờ bản đồ số 2; thửa đất số 1, tờ bản đồ số 3 và thửa đất số 519, 520, 521 và 522, cùng tờ bản đồ số 4, có số phát hành S 390612, số vào số cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 6 QSDĐ/2462/QĐUB tại xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre, ký ngày 30 tháng 5 năm 2001 dựa trên cơ sở:

- Về quy định: Căn cứ Luật Đất đai 1993 của Quốc hội; Nghị định số 09/CP ngày 12 tháng 02 năm 1996 của Chính phủ về chế độ quản lý, sử dụng đất Quốc phòng, an ninh; Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16 tháng 3 năm 1998 của Tổng Cục địa chính về việc hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Nghị định số 04/2000/NĐ-CP ngày 11 tháng 02 năm 2000 của Chính phủ về thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai.

- Về giấy tờ hợp pháp: Căn cứ Quyết định số 872/TTg ngày 20 tháng 11 năm 1996 của Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch đất quốc phòng do Quân đội quản lý trên địa bàn Quân khu I; Quyết định số 73/QĐ-TM ngày 10 tháng 02 năm 2000 của Bộ T4 về vị trí đóng quân của các đơn vị thuộc Quân khu I trên địa bàn tỉnh Bến Tre; Quyết định số 2462/QĐ-UB ngày 30 tháng 5 năm 2001 của Ủy ban nhân dân tỉnh B về việc Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Việc Ủy ban nhân dân tỉnh C3 Giấy chứng nhận cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh đối với thửa đất số 235, 236 và 237, tờ bản đồ số 2; thửa đất số 1, tờ bản đồ số 3; thửa đất số 519, 520, 521 và 522, tờ bản đồ số 4, có số phát hành S 390612, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 6 QSDĐ/2462/QĐUB tại xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre là đúng theo quy định.

Nếu yêu cầu “thu hồi” Giấy chứng nhận đã cấp cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh có số phát hành S 390612, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 6 QSDĐ/2462/QĐUB phải đảm bảo theo quy định tại khoản 6 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ "Việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai chỉ được thực hiện khi có bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân đã được thi hành".

Việc yêu cầu “hủy” Giấy chứng nhận đã cấp cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh có số phát hành S 390612, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 6 QSDĐ/2462/QĐUB phải đảm bảo theo quy định tại khoản 7 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ “Trường hợp thu hồi Giấy chứng nhận theo quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4 và 6 Điều này mà người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không giao nộp Giấy chứng nhận thì Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm báo cáo cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quyết định hủy Giấy chứng nhận đã cấp; chỉnh lý hồ sơ địa chính theo quy định; lập danh sách Giấy chứng nhận đã bị hủy gửi Sở T. T5 để thông báo công khai trên trang thông tin điện tử”.

Từ những cơ sở trên, việc yêu cầu Ủy ban nhân dân tỉnh B hủy Giấy chứng nhận đã cấp cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh đối với các thửa đất nêu trên là không có cơ sở xem xét, giải quyết.

Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú đưa vụ án ra xét xử. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 115/2023/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2023 đã tuyên:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc ông Đặng Văn H1 có nghĩa vụ giao trả cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B phần đất có diện tích 48.777 m2 (thửa 12-9, tờ bản đồ số 17, có diện tích 41.746,6 m2; thửa 3-18, tờ bản đồ số 18, có diện tích 7.030,5 m2) thuộc một phần thửa 12, tờ bản đồ số 17 và thuộc một phần thửa 3, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp G, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre (Có họa đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo).

Buộc ông Đặng Văn H1 có nghĩa vụ tự tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của ông H1 trên đất có diện tích 48.777 m2 trả lại đất Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bến Tre.

Ông Đặng Văn H1 được lưu cư trên đất. Thời hạn lưu cư là 03 tháng kể từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 19/9/2023, bị đơn ông Đặng Văn H1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, ông H1 đề nghị xem xét đến công sức của ông trong việc khai phá rừng hoang hóa, cải tạo đất, gìn giữ đất từ năm 1989 cho đến nay; đồng thời yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B do Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp ngày 30/5/2001.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Đặng Văn H1 thay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm. Phần đất tranh chấp là đất quốc phòng nên đề nghị giao cho Tòa án quân sự xét xử, không phải do Tòa án nhân dân xét xử.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không chấp nhận kháng cáo của ông Đặng Văn H1.

Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng, những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đặng Văn H1, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 115/2023/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên, xét kháng cáo của bị đơn ông Đặng Văn H1; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn thay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm. Xét thấy, việc thay đổi nội dung kháng cáo của bị đơn là vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu, do đó căn cứ khoản 2 Điều 284, khoản 3 Điều 298 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn cho rằng phần đất tranh chấp là đất quốc phòng nên đề nghị chuyển cho Tòa án quân sự xét xử. Xét thấy, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B khởi kiện yêu cầu ông Đặng Văn H1 trả lại phần đất ông H1 đang canh tác quản lý, Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú thụ lý vụ án đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất là đúng quy định. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân. Do đó, người đại diện theo ủy quyền của ông H1 yêu cầu chuyển vụ án cho Tòa án quân sự giải quyết là không được chấp nhận.

[2] Về nội dung:

[2.1] Phần đất tranh chấp qua đo đạc thực tế có tổng diện tích là 48.777m2 gồm phần đất diện tích 41.746,6m2 (thửa 12-9) thuộc một phần thửa đất số 12, tờ bản đồ số 17 và phần đất diện tích 7.030,5m2 (thửa 3-18) thuộc một phần thửa đất số 3, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp G, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre. Phần đất trên được Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B.

[2.2] Nguyên đơn Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B căn cứ vào Hợp đồng số 97/HĐ- BCH ngày 01 tháng 11 năm 2018 về việc hợp tác sản xuất nông nghiệp với ông Đặng Văn H1 đã hết thời hạn hợp đồng để yêu cầu bị đơn ông Đặng Văn H1 tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của ông Đặng Văn H1 trên phần đất tranh chấp, trả lại phần đất nêu trên cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B. Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B không bồi thường tài sản có trên đất do ông H1 tự xây dựng cải tạo làm thay đổi hiện trạng trên đất mà không được sự đồng ý của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B.

Bị đơn ông Đặng Văn H1 thừa nhận có ký tên vào Hợp đồng số 97/HĐ-BCH ngày 01 tháng 11 năm 2018. Tuy nhiên, ông H1 cho rằng việc ông ký tên vào hợp đồng là để được canh tác đất chứ ông không biết nội dung. Ông H1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B do phần đất này vào năm 1989 ông cùng các hộ dân khác khai hoang phục hóa đất rừng và canh tác cho đến nay.

[2.3] Xét Hợp đồng số 97/HĐ-BCH ngày 01 tháng 11 năm 2018:

Hợp đồng được ký kết giữa Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B với ông Đặng Văn H1 được xác lập trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật nên được xem là hợp pháp. Về nội dung hợp đồng, các bên đồng ý hợp tác 4,8ha đất tọa lạc tại ấp G, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre thuộc quyền quản lý, sử dụng của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B với mục đích là để sản xuất nông nghiệp. Thời hạn hợp đồng là hợp đồng theo thời vụ 12 tháng kể từ ngày 01 tháng 11 năm 2018 đến ngày 01 tháng 11 năm 2019. Như vậy, hợp đồng hợp tác sản xuất nông nghiệp giữa Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B với ông Đặng Văn H1 hết hạn vào ngày 01 tháng 11 năm 2019.

Trước khi hết hạn hợp đồng, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bến Tre có mời các hộ dân trong đó có ông H1 đến để thông báo về việc thanh lý kết thúc hợp đồng, thông báo thời gian hết hạn hợp đồng hợp tác sản xuất nông nghiệp vào ngày 01 tháng 11 năm 2019 để các hộ dân trong đó có ông H1 có công tác chuẩn bị thu dọn chòi, trại giao lại phần đất cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B, thể hiện tại Biên bản làm việc ngày 10 tháng 7 năm 2019. Ngày 26 tháng 9 năm 2023, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B ban hành Công văn số 1119/BCH-HC gửi các hộ dân hợp tác sản xuất trong đó có ông H1, nội dung Công văn thể hiện “Nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện cho bà con di dời đúng như thông báo, Bộ không thu tiền hợp đồng 6 tháng cuối năm 2019”. Tuy nhiên, trong các buổi làm việc ông Đặng Văn H1 không đồng ý ký thanh lý hợp đồng.

Từ thời điểm hết hạn hợp đồng vào ngày 01 tháng 11 năm 2019 đến nay, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bến Tre đã nhiều lần thông báo và tạo điều kiện để ông H1 di dời tài sản, giao lại phần đất theo hợp đồng nhưng ông H1 vẫn không thực hiện. Căn cứ vào hợp đồng đã được thỏa thuận giữa các bên thì thời hạn hợp đồng đã kết thúc, ông H1 không thực hiện theo đúng nội dung của hợp đồng là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Do đó, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B khởi kiện yêu cầu ông H1 trả lại quyền sử dụng đất là có cơ sở chấp nhận. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp.

[3] Xét kháng cáo của ông Đặng Văn H1:

[3.1] Ông H1 kháng cáo đề nghị xem xét đến công sức trong việc khai phá rừng hoang hóa, cải tạo đất, gìn giữ đất từ năm 1989 cho đến nay. Tuy nhiên, ông H1 không có chứng cứ chứng minh về việc khai phá rừng hoang hóa. Mặt khác, khi ông H1 ký kết hợp đồng hợp tác sản xuất với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B, nội dung hợp đồng có thể hiện phần đất hợp tác thuộc quyền quản lý, sử dụng của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B.

Đồng thời, tại Đơn xin hợp đồng hợp tác sản xuất nông nghiệp của ông H1 gửi Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B ngày 01 tháng 11 năm 2018 có nội dung ông H1 cam kết “Khi hết hạn hợp đồng tôi sẽ bàn giao nguyên hiện trạng đất lại cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, mà không đòi hỏi bất cứ điều gì.”.

Hợp đồng số 97/HĐ-BCH ngày 01 tháng 11 năm 2018 có các nội dung như sau:

Tại khoản 2 Điều 3: “Không được xây dựng các công trình kiên cố hay cải tạo làm thay đổi hiện trạng phần đất trong hợp đồng sản xuất khi chưa có sự đồng ý của Bên A bằng văn bản của bên A.”.

Tại khoản 3 Điều 4: “Khi hết hạn hợp đồng mà hai bên không ký hợp đồng mới, thì bên B phải thu dọn, giao trả nguyên trạng ban đầu (như biên bản bàn giao) phần đất được hợp đồng cho bên A sau 30 ngày kể từ ngày hợp đồng được thanh lý”.

Tại khoản 4 Điều 5: “Trong thời hạn báo trước, bên B phải thu dọn láng trại, trang thiết bị trả lại nguyên hiện trạng phần đất theo hợp đồng như ban đầu cho bên A”.

Tại Điều 6: “Khi có nhu cầu bên A có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trước hạn, nhưng phải báo cáo cho bên B biết trước 03 tháng để tự thu dọn bàn giao đất sản xuất lại cho bên A (hoặc để bên B thu hoạch xong mùa vụ đang sản xuất) mà không đặt điều kiện bồi hoàn bất cứ khoản chi phí hoặc thiệt hại nào khác”.

Như vậy, theo thỏa thuận của các bên thì khi kết thúc hợp đồng ông H1 phải thu dọn tài sản, trả lại nguyên hiện trạng đất cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B. Việc ông H1 cải tạo đất là vi phạm khoản 2 Điều 3 của hợp đồng. Do đó, việc ông H1 yêu cầu Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B phải bồi thường, hỗ trợ đối với các tài sản mà ông đã đầu tư, xây cất trên đất cùng công sức cải tạo đất là không có cơ sở chấp nhận.

[3.2] Ngoài ra, ông H1 kháng cáo yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B. Xét thấy, Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 06/QSDĐ/2462/QĐUBND ngày 30 tháng 5 năm 2001 cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B với tổng diện tích là 8.237.507m2 tại ấp A (nay là ấp G), xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật gồm: Luật Đất đai năm 1993; Nghị định số 09/CP ngày 12 tháng 02 năm 1996 của Chính phủ về chế độ quản lý, sử dụng đất Quốc phòng, an ninh; Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16 tháng 3 năm 1998 của Tổng Cục địa chính về việc hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Nghị định số 04/2000/NĐ-CP ngày 11 tháng 02 năm 2000 của Chính phủ về thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai. Về giấy tờ hợp pháp để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Căn cứ Quyết định số 872/TTg ngày 20 tháng 11 năm 1996 của Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch đất quốc phòng do quân đội quản lý trên địa bàn Quân khu I; Quyết định số 73/QĐ- TM ngày 10 tháng 02 năm 2000 của Bộ T4 về vị trí đóng quân của các đơn vị thuộc Quân khu I trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

Như vậy, Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B là đúng trình tự và thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Từ khi Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2001 đến khi phát sinh tranh chấp không có ai khiếu nại. Ông H1 cho rằng phần đất tranh chấp do ông tự khai phá nhưng ông không có kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, ông H1 yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B là không có cơ sở để chấp nhận.

Từ những nhận định trên, xét thấy kháng cáo của ông Đặng Văn H1 là không có cơ sở nên không được chấp nhận, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 115/2023/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú.

[4] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Đặng Văn H1 phải chịu án phí nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đặng Văn H1.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 115/2023/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú.

Căn cứ các Điều 147, 148, 157, 158, 165, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 158, khoản 2 Điều 165, 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 26, 166, 203 của Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc ông Đặng Văn H1 có nghĩa vụ giao trả cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B phần đất có diện tích 48.777 m2 (thửa 12-9, tờ bản đồ số 17, diện tích 41.746,6 m2; thửa 3-18, tờ bản đồ số 18, diện tích 7.030,5 m2) thuộc một phần thửa đất số 12, tờ bản đồ số 17 và thuộc một phần thửa đất số 3, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp G, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre (Có họa đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo).

Buộc ông Đặng Văn H1 có nghĩa vụ tự tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Đặng Văn H1 trên phần đất có diện tích 48.777 m2 để trả lại đất cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B.

Ông Đặng Văn H1 được lưu cư trên đất. Thời hạn lưu cư là 03 tháng kể từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về chi phí tố tụng:

Ông Đặng Văn H1 phải chịu chi phí tố tụng là 4.214.000 đồng (Bốn triệu hai trăm mười bốn nghìn đồng). Do Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B đã nộp xong nên ông Đặng Văn H1 phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B số tiền 4.214.000 đồng (Bốn triệu hai trăm mười bốn nghìn đồng).

3. Về án phí:

3.1. Án phí sơ thẩm:

Ông Đặng Văn H1 phải chịu án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) do Nguyễn Thị Hồng L và Nguyễn Thị Kim H3 nộp thay theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000852 ngày 18/11/2022 và 0005610 ngày 18/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

3.2. Án phí phúc thẩm:

Ông Đặng Văn H1 phải chịu án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do ông Cao Vĩnh P nộp thay theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007079 ngày 29/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

102
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất số 485/2023/DS-PT

Số hiệu:485/2023/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Bến Tre
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:25/12/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về