Bản án về tranh chấp đòi tài sản là nhà và quyền sử dụng đất số 133/2023/DS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 133/2023/DS-PT NGÀY 22/03/2023 VỀ TRANH CHẤP ĐÒI TÀI SẢN LÀ NHÀ VÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 22 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 555/2022/TLPT-DS ngày 17 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp đòi tài sản là nhà và QSDĐ”.

1/ Nguyên đơn: Bà Phạm Tuyết Nh, sinh năm 1964; Địa chỉ: số 33 Lê Lợi, Khóm 3, Phường 3, thành phố B, tỉnh B.(có mặt)

2/ Bị đơn: Bà Cao Mỹ X, sinh năm 1990; Địa chỉ: số 58/3, Khóm 3, Phường 7, thành phố B, tỉnh B (vắng mặt)

3/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1/ Bà Vũ Sao M, sinh năm 1989; Địa chỉ: số 15, MONCRIEFF, LANGFORD, Australia. (vắng mặt) Bà M ủy quyền cho bà Phạm Tuyết Nh tham gia tố tụng. (có mặt)

3.2/ Bà Ngô Thị Mỹ L, sinh năm 1975; Địa chỉ: số 58/3, Khóm 3, Phường 7, thành phố B, tỉnh B. (vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của bà L: ông Trần Phạm Hiếu H, sinh năm 1984; Địa chỉ: Ấp Bình Thạnh A, xã Vĩnh Phú Tây, huyện Phước Long, tỉnh B. (có mặt)

3.3/ Ông Vũ Văn P, sinh năm 1958; Địa chỉ: số 175, đường Điện Biên Phủ, Khóm 3, Phường 3, thành phố B, tỉnh B (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Tuyết Nh trình bày: Bà Nh và bà Vũ Sao M được Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD 644656 tại thửa đất 189, tờ bản đồ số 14, trên phần đất có một căn nhà tọa lạc tại số 175, đường Điện Biên Phủ, Khóm 3, Phường 3, thành phố B, tỉnh B. Trước đây bà và bà M có cho bà Cao Mỹ X thuê phần hàng ba trước nhà để làm nơi buôn bán dừa khô, tiền thuê trả vào đầu mỗi tháng. Do bà Nh có nơi ở khác nên bà ít tới lui căn nhà này, nên trong thời gian sử dụng chị X chiếm luôn cả phần trong nhà, khi phát hiện chị X chiếm nhà của bà, bà có nhiều lần yêu cầu chị X giao trả nhà nhưng chị X không giao trả mà còn thách thức. Do đó, bà Nh khởi kiện yêu cầu chị X giao trả nhà và đất, 01 cái tủ và 01 cái giường.

Sau khi Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ tài sản tranh chấp thì phần nhà và đất tranh chấp hiện nay do bà Ngô Thị Mỹ L và ông Vũ Văn P đang quản lý sử dụng. Do đó, bà yêu cầu bà L và ông P cùng có trách nhiệm trả cho bà phần nhà và đất tranh chấp nêu trên.

Đối với yêu cầu chị X giao trả 01 cái tủ và 01 cái giường bà Nh xin rút lại yêu cầu khởi kiện này, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Cao Mỹ X trình bày: bà X xác định trước đây bà có thuê của ông Vũ Văn P mặt trước của căn nhà tại số 175, đường Điện Biên Phú, Khóm 3, Phường 3, thành phố B để kinh doanh bán dừa tươi, hai bên có làm hợp đồng thuê nhà ngày 03/11/2018, thời hạn hợp đồng là 06 năm kể từ ngày 22/11/2018 nhưng thực tế bà X chỉ thuê của ông P 03 tháng, đến ngày 03/02/2019 thì bà đã trả nhà cho ông P. Bà Nh khởi kiện yêu cầu bà X trả nhà và đất tọa lạc số 175, đường Điện Biên Phủ, Khóm 3, Phường 3, thành phố B thì bà không còn liên quan gì đối với nhà và đất này vì nhà và đất này hiện nay người thuê là bà Ngô Thị Mỹ L (mẹ của bà X). Bà X xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có yêu cầu gì khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Văn P trình bày: Nguồn gốc nhà và đất tranh chấp là của cha mẹ ông là ông Vũ Văn Trợ và bà Phạm Thị Nguyệt. Sau khi cha chết, mẹ và anh chị em trong gia đình đồng tình để lại phần đất này cho ông và ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2007 hay 2008, đến khoảng năm 2016 ông tặng toàn bộ quyền sử dụng đất cho con gái là Vũ Sao M và Sao M cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Năm 2014 ông và bà Nh cho bà Ngô Thị Mỹ L thuê tầng trệt căn nhà để mua bán dừa, ông và bà Nh vẫn ở tầng trên căn nhà, đến năm 2016 ông và bà Nh ly hôn, ông vẫn ở căn nhà này và bà Nh đi nơi khác. Ông P xác định không có tặng nhà đất cho bà Nh, chỉ tặng cho Sao M, việc bà Nh cùng đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với Sao M là không đúng, ông không đồng ý. Đến năm 2021 hết hạn hợp đồng nên ông và bà L đã ký kết hợp đồng thuê nhà thời hạn là đến hết năm 2025 với giá thuê là 200.000.000 đồng, bà L đã trả xong cho ông. Ông P xác định bà Nh khởi kiện yêu cầu bà L và ông trả nhà đất thì ông không đồng ý, ông đề nghị cho bà L thuê đến hết thời hạn thuê thì sẽ giao trả nhà, đất lại cho bà Nh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị Mỹ L có ông Trần Phạm Hiếu H là người đại diện theo ủy quyền của bà L trình bày: Bà L thuê nhà của ông P, bà Nh từ khoảng cuối năm 2014, đến cuối năm 2021 hợp đồng thuê hết hạn nên bà L và ông P lập hợp đồng thuê nhà kể từ đầu năm 2022, hai bên thỏa thuận thời hạn thuê là 04 năm, đến hết năm 2025 là chấm dứt thời hạn thuê, giá thuê là 200.000.000 đồng. Do trước đó ông P có mượn tỉền của bà L hai lần, mỗi lần 100.000.000 đồng, ông P không có tiền trả nên ông P cấn trừ số tiền này vào số tiền thuê nhà. Do đó, coi như bà đã thanh toán xong khoản tiền thuê trong thời hạn 04 năm.

Ngày 12/7/2022 bà L có yêu cầu độc lập yêu cầu ông Vũ Văn P tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê nhà và đất giữa bà với ông P. Trong trường hợp ông P không tiếp tục thực hiện hợp đồng thì bà L yêu cầu ông P phải hoàn trả số tiền thuê nhà mà ông P nhận trước của bà L là 200.000.000 đồng. Đồng thời, bà L yêu cầu ông P phải bồi thường tiền đầu tư sửa chữa và lắp đặt thêm các trang thiết bị để phục vụ cho nhu cầu ở và mua bán cho bà L với tổng số tiền 100.000.000 đồng và ông P phải hỗ trợ chi phí di dời các trang thiết bị phục vụ nhu cầu mua bán với số tiền là 5.000.000 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông H đại diện cho bà L vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập và không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Nh. Ông P xác định đối với yêu cầu độc lập của bà L thì ông đồng ý hoàn trả số tiền thuê nhà đã nhận 200.000.000 đồng, nhưng ông yêu cầu cấn trừ số tiền thuê mỗi năm 50.000.000 đồng mà bà L đã sử dụng căn nhà trên thực tế, ông đồng ý đối với yêu cầu bồi thường 100.000.000 đồng và yêu cầu được trả dần, đối với yêu cầu chi phí di dời 5.000.000 đồng thì ông không đồng ý. Bà Nh thống nhất trừ số tiền thuê nhà mà ông P đã nhận của bà L vào thời gian thực tế bà L sử dụng căn nhà đất tranh chấp.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 22/2022/DS-ST ngày 14/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh B quyết định:

Căn cứ vào Điều 5; khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 1 Điều 147;

khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 165; điểm c Khoản 1 Điều 217; Điều 228; Điều 244;

Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 131; 132; 166;

472 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 129 Luật Nhà ở năm 2014; điểm đ khoản 1 Điều 12; các Điều 24; 26; 27 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Tuyết Nh yêu cầu bà Cao Mỹ X trả 01 cái tủ và 01 cái giường ngủ.

2/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Tuyết Nh:

2.1/ Tuyên bố giao dịch thuê nhà, đất ngày 01/01/2022 giữa bà Ngô Thị Mỹ L với ông Vũ Văn P là vô hiệu.

2.2/ Bà Ngô Thị Mỹ L và ông Vũ Văn P có quyền lưu cư tại nhà, đất tọa lạc tại Số 175 đường Điện Biên Phủ, Khóm 3, Phường 3, thành phố B, tỉnh. B đến hết ngày 31/12/2022.

2.3/ Từ ngày 01/01/2023 buộc ông Vũ Văn P và bà Ngô Thị Mỹ L trả nhà và đất tọa lạc tại số 175, đường Điện Biên Phủ, Khóm 3, Phường 3, thành phố B, tỉnh B cho bà Phạm Tuyết Nh và chị Vũ Sao M theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD644656 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp cho bà Phạm Tuyết Nh và con Vũ Sao M ngày 26/4/2016. Phần đất có tứ cạnh và số đo như sau:

+ Hướng Đông giáp đất bà Trịnh Ngọc S, dài 15,2m;

+ Hướng Tây giáp đường Lê Lợi, dài 15,2m;

+ Hướng Nam giáp đường Điện Biên Phủ, dài 3,6m + 14m;

+ Hướng Bắc giáp đường Hoàng Văn Thụ, dài 5m + 1,3m;

Tổng diện tích: 75,20m2 thuộc thửa đất số 189, tờ bản đồ số 14, trong đó phần diện tích nằm trong quy hoạch lộ giới đường Hoàng Văn Thụ là 2,5m2 và phần diện tích nằm trong quy hoạch lộ giới đường Lê Lợi là 19,8m2.

Hiện trạng trên đất có các tài sản: Nhà bê tông cốt thép, một trệt, một lầu, sàn bê tông cốt thép, mái lợp tol lạnh, tường xây gạch có tổng diện tích 145,92m2; Nhà tiền chế trên tầng lầu có diện tích 22,08m2; mái che lợp tol có diện tích 19,72m2.

3/ Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Tuyết Nh yêu cầu bà Cao Mỹ X trả nhà và đất tại số 175, đường Điện Biên Phủ, Khóm 3, Phường 3, thành phố B, tỉnh B cho bà Phạm Tuyết Nh và bà Vũ Sao M.

4/ Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Ngô Thị Mỹ L:

4.1/ Buộc ông Vũ Văn P trả cho bà Ngô Thị Mỹ L số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng).

4.2/ Ghi nhận sự tự nguyện của ông Vũ Văn P bồi thường số tiền 100.000.000 đồng cho bà Ngô Thị Mỹ L. Buộc ông Vũ Văn P có trách nhiệm trả cho bà Ngô Thị Mỹ L số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).

5/ Không chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Ngô Thị Mỹ L yêu cầu ông Vũ Văn P hoàn trả số tiền thuê nhà là 50.000.000 đồng và số tiền hỗ trợ chi phí di dời là 5.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm thi hành án, chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.

- Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Vũ Văn P (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án) kháng cáo yêu cầu cho ông được tiếp tục thực hiện hợp đồng cho bà Ngô Thị Mỹ L thuê nhà đến hết năm 2025 để trừ số tiền 200.000.000 đồng mà bà L đã trả trước tiền thuê nhà cho ông và 100.000.000 đồng tiền bà L bỏ ra sửa chữa nhà; Hai là ông yêu cầu được ở tại căn nhà trên vì nhà có nguồn gốc là của cha mẹ ông để lại cho ông, ông lập hợp đồng tặng cho lại con gái của ông, ông yêu cầu được tiếp tục ở lại và có quyền cho thuê mướn căn nhà này. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông P vẫn giữ theo yêu cầu kháng cáo như trên.

- Tại tòa, bà Phạm Tuyết Nh đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm xử.

- Người đại diện theo ủy quyền của bà Ngô Thị Mỹ L thì đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm xử.

- Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông P, giữ nguyên bản án sơ thẩm xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Đối với đơn kháng cáo của ông Vũ Văn P được làm và nộp trong thời hạn luật định nên đây là kháng cáo hợp lệ. [2] Xét về nội dung vụ án thì thấy:

- Căn nhà và đất tại số 175, đường Điện Biên Phủ, Khóm 3, Phường 3, thành phố B, tỉnh B có nguồn gốc là của ông Vũ Văn P, bà Phạm Tuyết Nh;

Ngày 12/11/2015, ông P, bà Nh lập hợp đồng tặng cho nhà-đất nêu trên cho con gái là Vũ Sao M; Ngày 07/01/2016 bà Sao M được đứng tên trên giấy chứng nhận QSDĐ; Ngày 19/02/2016 giữa bà M với bà Nh thỏa thuận ký văn bản đồng ý 2 người cùng đứng tên xin cấp giấy chứng nhận QSDĐ và QSH nhà; Ngày 26/4/2016 bà M và bà Nh được UBND thành phố B cấp Giấy chứng nhận QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD644656, nhưng nhà thì bà Nh và bà M vẫn cho ông P ở. Ông P cho bà Cao Mỹ X thuê, sau đó cho bà Ngô Thị Mỹ L thuê ở cùng với ông tại căn nhà trên.

- Án sơ thẩm xử không chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Tuyết Nh kiện đòi bà Cao Mỹ X trả lại nhà-đất số 175, đường Điện Biên Phủ, Khóm 3, Phường 3, thành phố B, tỉnh B, cũng như đình chỉ yêu cầu của bà Nh đòi bà X trả 1 cái giường và 1 cái tủ, phần này không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Đối với án sơ thẩm xử buộc ông Vũ Văn P, bà Ngô Thị Mỹ L phải trả lại căn nhà nêu trên cho bà Nh, bà M; Buộc ông P phải trả lại tiền nhận cọc thuê nhà cho bà L 150.000.000 đồng; Ghi nhận sự tự nguyện của ông P trả lại cho bà L tiền sửa chữa nhà 100.000.000 đồng. Ông P kháng cáo thì HĐXX xét thấy như sau:

- Do ông P tặng cho nhà-đất nêu trên cho bà M, bà M đồng ý cho bà Nh cùng đứng tên đồng sở hữu, nên tài sản trên thuộc quyền sở hữu của bà M và bà Nh.

Bà M ủy quyền cho bà Nh định đoạt căn nhà nêu trên, nên bà Nh khởi kiện yêu cầu ông P, bà L trả lại căn nhà nêu trên là đúng theo quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người có tài sản. Bản án sơ thẩm xử buộc ông P, bà L phải trả lại căn nhà nêu trên cho bà Nh, bà M là có căn cứ (Vì hợp đồng tặng cho tài sản trước đây giữa ông P với bà M không có điều kiện ràng buộc).

- Ông P kháng cáo yêu cầu được tiếp tục ở tại căn nhà trên, được tiếp tục cho bà L thuê nhà đến hết năm 2025 để trừ tiền đặt cọc thuê nhà 150.000.000 đồng còn lại và tiền sửa chữa nhà cho bà L 100.000.000 đồng, nhưng không được bà Nh đồng ý, nên không có căn cứ chấp nhận.

- Tuy nhiên, HĐXX xét thấy án sơ thẩm cho ông P, bà L lưu cư đến hết ngày 31/12/2022 để giao trả lại nhà, thời gian đã hết, nên HĐXX cho ông P, bà L được lưu cư thêm 03 tháng nữa, tức đến hết ngày 22/6/2023 phải giao trả lại nhà-đất nêu trên cho bà Nh, bà M.

- Các phần khác còn lại của bản án sơ thẩm xét xử không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

- Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có một phần phù hợp với nhận định trên, nên được ghi nhận.

Bởi các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Vũ Văn P.

Sửa một phần bản án sơ thẩm về thời hạn cho lưu cư.

[2] Áp dụng Điều 5; khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 165; điểm c Khoản 1 Điều 217; Điều 228; Điều 244; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 131; 132; 166; 472 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 129 Luật Nhà ở năm 2014; điểm đ khoản 1 Điều 12;

các Điều 24; 26; 27 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Tuyết Nh:

1/ Tuyên bố giao dịch thuê nhà, đất ngày 01/01/2022 giữa bà Ngô Thị Mỹ L với ông Vũ Văn P là vô hiệu.

Cho bà Ngô Thị Mỹ L và ông Vũ Văn P có quyền lưu cư tại nhà, đất tọa lạc tại Số 175 đường Điện Biên Phủ, Khóm 3, Phường 3, thành phố B, tỉnh B đến hết ngày 22/6/2023.

Kể từ ngày 23/6/2023 buộc ông Vũ Văn P và bà Ngô Thị Mỹ L trả nhà và đất tọa lạc tại số 175, đường Điện Biên Phủ, Khóm 3, Phường 3, thành phố B, tỉnh B cho bà Phạm Tuyết Nh và chị Vũ Sao M theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD644656 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp cho bà Phạm Tuyết Nh và con Vũ Sao M ngày 26/4/2016. Phần đất có tứ cận như sau:

+ Hướng Đông giáp đất bà Trịnh Ngọc S, dài 15,2m;

+ Hướng Tây giáp đường Lê Lợi, dài 15,2m;

+ Hướng Nam giáp đường Điện Biên Phủ, dài 3,6m + 14m;

+ Hướng Bắc giáp đường Hoàng Văn Thụ, dài 5m + 1,3m;

Tổng diện tích: 75,20m2 thuộc thửa đất số 189, tờ bản đồ số 14, trong đó phần diện tích nằm trong quy hoạch lộ giới đường Hoàng Văn Thụ là 2,5m2 và phần diện tích nằm trong quy hoạch lộ giới đường Lê Lợi là 19,8m2.

Hiện trạng trên đất có các tài sản: Nhà bê tông cốt thép, một trệt, một lầu, sàn bê tông cốt thép, mái lợp tol lạnh, tường xây gạch có tổng diện tích 145,92m2; Nhà tiền chế trên tầng lầu có diện tích 22,08m2; mái che lợp tol có diện tích 19,72m2.

2/ Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Ngô Thị Mỹ L:

- Buộc ông Vũ Văn P trả cho bà Ngô Thị Mỹ L số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng) là tiền nhận cọc thuê nhà.

- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Vũ Văn P, buộc ông P phải trả cho bà Ngô Thị Mỹ L số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) tiền sửa nhà.

- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên có nghĩa vụ thi hành án không thi hành đủ số tiền phải thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm đã xét xử không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

- Ông Vũ Văn P không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày 22/3/2023.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

139
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp đòi tài sản là nhà và quyền sử dụng đất số 133/2023/DS-PT

Số hiệu:133/2023/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:22/03/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về