Bản án về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất số 260/2020/DS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 260/2020/DS-PT NGÀY 22/07/2020 VỀ TRANH CHẤP ĐÒI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 22 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai, vụ án thụ lý số: 173/2020/TLPT-DS ngày 28 tháng 02 năm 2020 về "Tranh chấp Đòi quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 74/2019/DS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2019 của Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 902/2020/QĐ- PT ngày 28 tháng 5 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số: 145/2020/QĐ- PT ngày 17 tháng 6 năm 2020; Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1338/2020/QĐ- PT ngày 25 tháng 6 năm 2020; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị N, sinh năm: 1957 (vắng mặt) Địa chỉ : 6 H Street, C Hill, M.8- 8rg, England.

Người đại diện hợp pháp: ng Nguyễn Trung T– là đại diện theo ủy quyền Văn bản ủy quyền ngày 10/12/2019) (có mặt) Địa chỉ liên h : 11C/17 đư ng T1, Phư ng 8, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn:

2.1 Bà Võ Thị S, sinh năm 1961 (vắng mặt) Địa chỉ: 1C đư ng N1, Phư ng 02, thà1nh phố M, tỉnh Tiền Giang.

Ngư i đại di n h p pháp: ng Phạm Ngọc D, sinh năm: 1972 – là đại di n theo ủy quyền Văn bản ủy quyền ngày 26/3/2019) (có mặt) Địa chỉ: Ấp B, xã T2, huy n C1, tỉnh Tiền Giang.

2.2 Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1960 (vắng mặt) Địa chỉ liên lạc: 424 ấp T3, xã T4, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

Ngư i đại di n h p pháp: Bà Phan Thị H1, sinh năm 1955, – là đại di n theo ủy quyền Văn bản ủy quyền ngày 21/5/2019) (có mặt) Địa chỉ: 170/11 đư ng L, Phư ng 7, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

. Ng i c quyền i ngh a vụ iên quan:Bà Võ Thị H2, sinh năm 1959 (có mặt) Địa chỉ: 308/9/11 đư ng T5, Phư ng 4, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

4. Ngư i kháng cáo: Bà Võ Thị N là nguyên đơn; bà Võ Thị S và ông Nguyễn Văn X là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Đại diện h p pháp của nguyên đơn, bà D ơng Th Kim L1 trình bày:

Vào năm 2001, bà N định cư tại nước ngoài, có gửi tiền về Vi t Nam nh bà S là em ruột mua và đứng tên giùm một phần đất lúa, tọa lạc tại ấp T6, xã T4, thành phố M, tỉnh Tiền Giang di n tích 1.197m2, thửa 1981, t bản đồ số 01. Hi n bà S đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04214/QSDĐ/235/2001/QĐ-UB ngày 08/3/2001.

Năm 2003, bà N tiếp tục về Vi t Nam có đưa tiền nh bà S mua và đứng tên giùm phần đất vư n di n tích 399m2 thuộc thửa 268, t bản đồ số 06 với giá 300.000.000 đồng. Hi n bà S đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04057/QSDĐ/1148/26.11.03/QĐUB H) do Ủy ban nhân dân thành phố M cấp ngày 09/12/2003. Do bà N là ngư i định cư ở nước ngoài, không có đủ điều ki n đứng tên quyền sử dụng đất tại Vi t Nam nên bà có nh em ruột là Võ Thị S đứng tên giùm, hai bên chỉ thỏa thuận mi ng. Vì là chị em ruột nên bà N tin tưởng không làm giấy t nhưng trong gia đình mọi ngư i đều biết. Bà S hứa khi nào bà cần lấy lại đất hoặc chuyển như ng cho ngư i khác thì bà S giao trả vô điều ki n. Hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên bà S đưa bà N cất giữ.

Tháng 02/2019, do cần tiền làm ăn, bà N yêu cầu bà S chuyển như ng giúp bà N phần trên, bà S ra điều ki n: Khi chuyển như ng bà N phải cho bà S 150.000.000 đồng và bà N đồng ý. 2 Tuy nhiên, khi có ngư i đồng ý nhận chuyển như ng thì bà S cố tình né tránh, không tiến hành thủ tục chuyển như ng theo quy định, chỉ có chồng bà S là ông Nguyễn Văn X đồng ý ký tên, nên không tiến hành thủ tục sang tên đư c, từ đó phát sinh tranh chấp.

Những vấn đề cụ thể nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết bao gồm:

Buộc bà Võ Thị S và ông Nguyễn Văn X giao trả: phần đất di n tích 1.197m2 hi n bà S đứng tên Giấy chứng nhận QSDĐ số 04214/QSDĐ/235/2001/QĐUB ngày 08/3/2001 thửa 1981, t bản đồ số 01;

phần đất di n tích 399m2 hi n bà S đứng tên Giấy chứng nhận QSDĐ số 04057/QSDĐ/1148/26.11.03/QĐUB H) do UBND thành phố M cấp ngày 09/12/2003 thuộc thửa 268, t bản đồ số 06. Hai phần đất tọa lạc ấp T6 và ấp T3 xã T4, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Bà N đồng ý giao cho bà S và ông X số tiền 150.000.000 đồng là tiền đứng tên giùm, công sức giữ gìn làm tăng giá trị đất theo th i điểm hi n nay.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi ki n, yêu cầu bị đơn trả giá trị hai thửa đất 1981 và 268, trong đó có 56m2 đất ở đô thị.

Quá trình giải quyết vụ án, tại văn bản trình bày ý kiến ngày 25/5/2019, ngày 11/11/2019, b đơn Võ Th S trình bày:

Các thửa đất gồm 1981, 268 có nguồn gốc do bà nhận chuyển như ng mà có. Bà đư c Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang cấp 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các giấy chứng nhận bà cất giữ. Trong đó, bà có giao 01 Giấy chứng nhận số 04214/QSDĐ/235/2001/QĐUB ngày 08/3/2001 đối với thửa 1981, t bản đồ số 01 cho bà Võ Thị N vào ngày 08/8/2007 để thế chấp làm tin mư n số tiền 10.000 bảng Anh. Th i gian gần đây, bà phát hi n bị mất bản chính hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04057/ QSDĐ/1148/26.11.03/QĐUB H) ngày 09/12/2003 thuộc thửa 268, t bản đồ số 06 và số 00322 ngày 27/5/2005 do Ủy ban nhân dân thành phố M cấp cho bà. Bà hỏi ngư i thân trong nhà không ai thấy, không ai cất giữ nên bà nghĩ là mất hoặc thất lạc đâu đó trong nhà nhưng không ng bà N lấy của bà. Nay bà N khởi ki n bà đòi quyền sử dụng đất các thửa đất nói trên bà không đồng ý bởi bà không đứng tên giùm bà N ba thửa đất trên. Bà không đưa bản chính hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04057/QSDĐ/1148/26.11.03/QĐUB H) ngày 09/12/2003 cấp quyền sử dụng đất thửa 268, t bản đồ số 06, loại đất vư n và số 00322 ngày 27/5/2005 cấp quyền sử dụng đất thửa 268, di n tích 56m2 đất thổ cư cho bà N.

Bà có yêu cầu phản tố: yêu cầu bà Võ Thị N trả lại cho bà bản chính hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm:

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04057/QSDĐ/1148/26.11.03/ QĐUB H) do Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 09/12/2003 cho bà, đối với phần đất thuộc thửa 268, t bản đồ số 06, di n tích 399m2.

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số (H) 00322 do Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 27/5/2005 cho bà, đối với phần đất thuộc thửa 268, t bản đồ số 06, di n tích 56m2.

Hai phần đất cùng tọa lạc ấp T6, xã T4, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện h p pháp của ông Nguyễn Văn X trình bày: Giấy xác nhận ngày 22/3/2019 do ông X viết và ký tên nhưng trong hoàn cảnh bị đe dọa, ép buộc, dụ dỗ vì bà N hứa cho ông 50.000.000 đồng và giúp đỡ điều ki n kinh tế cho ông có tiền sống đến già. Sau đó, ông đã gửi đơn đến Công an xã T4 để trình báo sự vi c trên nhằm hủy bỏ Giấy xác nhận. Hai phần đất thuộc hai thửa 1981 và 268 là tài sản riêng của bà S, ông không có đóng góp công sức hay tiền bạc để tạo lập nên. ng xác định, ông và bà S không đứng tên giùm đất cho bà N nên không đồng ý với yêu cầu của bà N. ng đồng ý với yêu cầu phản tố của bà S về vi c đòi bà N trả hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Bản án dân sự sơ thẩm số 74/2019/DS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2019 của Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang đã quyết định:

1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi ki n của bà Võ Thị N.

Buộc bà Võ Thị S trả cho bà N 1.207.198.800 đồng (một tỷ hai trăm lẻ bảy tri u một trăm chín mươi tám nghìn tám trăm đ ồng). Thực hi n khi án có hi u lực pháp luật.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án nếu bên phải thi hành án chậm thực hi n theo nội dung quyết định này thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và th i gian chậm thi hành án.

2/ Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà S:

Buộc bà Võ Thị N và Võ Thị H2 có nghĩa vụ trả cho bà S hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà S có số vào sổ cấp Giấy chứng nhận 04057/QSDĐ/1148/26.11.03/QĐUB H) ngày 09/12/2003 đối với phần đất di n tích 399m2, thửa 268, t bản đồ số 06; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp Giấy chứng nhận H) 00322 ngày 27/5/2005 đối với phần đất di n tích 56m2, thửa 268, t bản đồ số 06, cùng tọa lạc ấp T6, T4, thành phố M, Tiền Giang.

Thực hi n khi án có hi u lực pháp luật.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật. 4 Ngày 02/12/2019, bà Võ Thị S là bị đơn và ngày 09/12/2019 ông Nguyễn Văn X là bị đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị sửa án theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn.

Ngày 10/12/2019 bà Võ Thị N kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị buộc bà Võ Thị S và ông Nguyễn Văn X trả lại cho bà 02 phần đất. Trong trư ng h p không thể nhận đất thì bà đề nghị nhận bằng giá trị đất theo biên bản định giá.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại di n cho bà Võ Thị N, bà Võ Thị S và ông Nguyễn Văn X vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, ngư i khởi ki n vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi ki n, yêu cầu phản tố, các đương sự không tự thỏa thuận đư c với nhau về vi c giải quyết vụ án.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hi n đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: nguồn gốc thửa đất tranh chấp do nguyên đơn là ngư i Vi t Nam định cư tại nước ngoài, đưa tiền nh em ruột là Võ Thị S mua và đứng tên giùm hai phần đất gồm: phần đất di n tích 1.197m2, thửa 1981, t bản đồ số 01, hi n bà S đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04214/QSDĐ/235/2001/QĐUB ngày 08/3/2001; phần đất di n tích 399m2 thuộc thửa 268, t bản đồ số 06, do bà S đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04057/QSDĐ/1148/26.11.03/QĐUB H) do Ủy ban nhân dân thành phố M cấp ngày 09/12/2003. Hai phần đất cùng tọa lạc tại ấp T6, xã T4, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Chứng cứ bà Nđưa ra chứng minh cho yêu cầu khởi ki n là Giấy xác nhận ngày 22/3/2019 do ông Nguyễn Văn X, chồng bà Võ Thị S viết và ký tên với nội dung: ông X biết bà N có mua hai miếng đất ở T6, T3 và nh Võ Thị S v ông đứng tên giùm.

Ông X trình bày ông viết xác nhận là do bị đe dọa, ép buộc. Sau khi viết giấy xác nhận trên, ông đã gửi đơn hủy bỏ văn bản này đến Công an xã T4. Tuy nhiên, theo nội dung đoạn clip do chị Hoa cung cấp, đư c mở tại phiên tòa sơ thẩm thể hi n: ông X viết nội dung xác nhận trên tại nhà của ông và hoàn toàn tự nguy n, không bị ép buộc. Ngoài ra, theo xác minh ngày 17/10/2019 tại Công an xã T4, Công an xã xác nhận không nhận đư c đơn như trình bày của của ông Nguyễn Văn X (bút lục 135), xác minh tại Bưu cục Mỹ Phong ngày 16/10/2019 thể hi n, Bưu cục không ghi nội dung trên phiếu báo phát đề ngày 27/3/2019 do đại di n bị đơn cung cấp, không sửa ngày, tháng, năm trên dấu do Bưu cục đóng bút lục 134). Như vậy, không có cơ sở xác định ông X bị ép buộc, đe dọa khi viết biên nhận ngày 22/3/2019 như trình bày của ông.

Bà Võ Thị H2, là em của bà S và bà N cũng xác định, bà S là ngư i đứng tên giùm bà N ba thửa đất, thửa đất có nhà phía trước thửa 1981, thửa 1981, thửa 268. L i trình bày của ông Cao Hữu N2, ngư i chuyển như ng đất thửa 1981 cho bà S. Ông N2 xác định, khi giao dịch mua bán đất với ông, ông “có nghe bà S nói tiền là của bà chị gửi về mua đất, ch chị gửi tiền về để trả tiền mua đất” bút lục 161). L i trình bày của bà H2 phù h p với các tài li u chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là Giấy xác nhận của ông X, l i trình bày của ông N2.

Bà S không chứng minh đư c nguồn gốc số tiền mua đất: thu nhập của bà S là công nhân Công ty Thủy sản, bà ly hôn năm 1992, phải nuôi hai con nhỏ thì khả năng bà dành dụm tiền để mua đất là không có cơ sở. Bà S có cung cấp một bản trình bày và xác nhận của ông P là trưởng phòng tổ chức Xí nghi p liên h p thủy sản T7, công ty bà S làm công nhân trước đây, có nội dung bà nghỉ thôi vi c một lần vào năm 2002. Tuy nhiên, bà không có chứng cứ chứng minh khi nghỉ vi c bà đư c lãnh tr cấp một lần 60.000.000 đồng, trong khi phần đất thuộc thửa 1981 đư c mua vào năm 2000 bút lục 112).

Vì vậy, bà Võ Thị S đứng tên giùm bà Võ Thị N thửa đất số 1981 và 268 tọa lạc ấp T6 và T3, xã T4, thành phố M, Tiền Giang..

Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Án l số 02 để giải quyết. Bà N là ngư i đã bỏ tiền ra để bà S nhận chuyển như ng đất. Đồng th i, sau khi nhận chuyển như ng đất, bà S là ngư i trực tiếp quản lý, sử dụng đất, bà làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất lên đất ở 56m2 tại thửa 268 vào năm 2005 nên có cơ sở xác định bà là ngư i có công sức trong vi c bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị đất. Tòa án cấp sơ thẩm xác định số tiền chênh l ch giữa giá chuyển như ng đất ban đầu và giá trị đất vào th i điểm xét xử là l i nhuận chung của bà N và bà S như Án l 02/2016/AL và xác định bà N và bà S có công sức ngang nhau khi chia l i nhuận chung là có l i cho bà N, bà S. Bà N kháng cáo không có căn cứ.

Đối với kháng cáo của bị đơn: Bà S không cung cấp chứng cứ nguồn gốc tiền mua đất, trình bày mâu thuẫn trong vi c giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà N quản lý vì nhà bà S sử dụng thuộc quyền sở hữu của bà N. Kháng cáo của bị đơn không có cơ sở chấp nhận.

Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn, giữ nguyên án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan h pháp luật tranh chấp, thụ lý và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét kháng cáo của bà Võ Thị N, bà Võ Thị S và ông Nguyễn Văn X, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Nguồn gốc đất tranh chấp:

Phần đất di n tích 1.197m2, thửa 1981, t bản đồ số 01 tại ấp T6, xã T4, thành phố M, tỉnh Tiền Giang bà S đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04214/QSDĐ/235/2001/QĐUB ngày 08/3/2001 là do bà S nhận chuyển như ng của ông Cao Hữu N2, bà Phạm Thị L2 theo H p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất ngày 03/7/2000 với giá 12.000.000 đồng, di n tích 800 m2.

Phần đất di n tích 399m2 thuộc thửa 268, t bản đồ số 06, do bà S đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04057/QSDĐ/1148/26.11.03/QĐUB H) do Ủy ban nhân dân thành phố M cấp ngày 09/12/2003 là do bà S nhận chuyển như ng của bà Mạch Thị D1 theo H p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất lập ngày 16/7/2003 với giá 25.000.000 đồng, di n tích 380 m2. Ngày 27/5/2005 bà Võ Thị S đư c UBND thành phố M công nhận 56 m2 đất ở của thửa đất số 268, tở bản đồ số 6 trong di n tích 399m2 thuộc thửa 268, t bản đồ số 06.

[2.2] Trích sao Bản án hôn nhân sơ thẩm số 16/HNST ngày 21/10/1992 thì bà Võ Thị S và ông Mai Văn X1 ly hôn, bà S đư c sở hữu tài sản giá trị là 01 lư ng 02 chỉ vàng 24K và 432.000 đồng.

[2.3] Giấy mư n n có thế chấp tài sản ngày 08/8/2007 thì ông Nguyễn Văn X và bà Võ Thị S xác nhận :" Căn nhà 424 ấp T8, xã T4, thành phố M, tỉnh Tiền Giang là do bà Võ Thị N - Vi t Kiều Anh mua cho ở vì Nhà nước không cho ngư i nước ngoài đứng tên nên v chồng ông X, bà S đứng tên giùm bà N, xác nhận có mư n của bà N số tiền 10.000 bản Anh (số tiền này gồm những khoản tiền mư n có viết biên nhận trước đây), tiền mư n không lãi suất. V chồng ông X, bà S giao lại căn nhà ở địa chỉ trên cho bà N có quyền sử dụng căn nhà đó, ông X, bà S chỉ là ngư i ở coi nhà cho bà N, không có quyền sang như ng hay bán lại cho ai, có giao cho bà N một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04214 QSDĐ/235/2001/QĐ-UB ngày 08/3/2001 do UBND thành phố M cấp cho bà Võ Thị S đứng tên (bản chính) để bà Nl àm tin.

Trong giấy t này không có đề cập gì hai thửa đất mà bà N cho rằng đưa tiền cho bà S nh bà S đứng tên giùm.

[2.4] Nội dung Giấy xác nhận ngày 22/3/2019 thể hi n: ông Nguyễn Văn X biết bà Võ Thị N có mua hai miếng đất ở ấp T6, T3, xã T4, thành phố M, nh v ông là Võ Thị S đứng tên giùm7 .

Ông Nguyễn Văn X có đơn trình bào gửi Công an xã T4, thành phố M thể hi n do cần tiền tiêu xài, bà N hứa cho ông 50.000.000 đồng và giúp đỡ ông có điều ki n kinh tế có tiền sống đến già nên ông ký xác nhận với nội dung trên (Bút lục 132).

Tại phiên đối chất ngày 14/10/2019 và bản tự khai ngày 19/11/2019, ông Xtrình bày ông viết xác nhận là do bị đe dọa, ép buộc. Sau khi viết giấy xác nhận trên, ông đã gửi đơn hủy bỏ văn bản này đến Công an xã T4. Tuy nhiên, theo nội dung đoạn clip do bà H2 cung cấp, đư c mở tại phiên tòa sơ thẩm thể hi n: ông X viết nội dung xác nhận trên tại nhà của ông và hoàn toàn tự nguy n, không bị ép buộc. Ngoài ra, theo xác minh ngày 17/10/2019 tại Công an xã T4, Công an xã xác nhận không nhận đư c đơn như trình bày của của ông Nguyễn Văn X (bút lục 135), xác minh tại Bưu cục Mỹ Phong ngày 16/10/2019 thể hi n, Bưu cục không ghi nội dung trên phiếu báo phát đề ngày 27/3/2019 do đại di n bị đơn cung cấp, không sửa ngày, tháng, năm trên dấu do Bưu cục đóng bút lục 134).

Tuy nhiên, ông X và bà S sống chung như v chồng, không đăng ký kết hôn. Tài sản tranh chấp là của bà S đứng tên nên vi c căn cứ vào xác nhận của ông X để cho rằng tài sản tranh chấp của bà N là không vững chắc.

[2.5] Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng bà S không chứng minh đư c nguồn gốc số tiền mua đất: thu nhập của bà S là công nhân Công ty Thủy sản, bà ly hôn năm 1992, phải nuôi hai con nhỏ là không đúng. Nghĩa vụ chứng minh có đưa tiền cho bà S mua đất là của bà N. Bà N không có chứng cứ chứng minh vi c bà giao tiền hay chuyển tiền cho bà S để mua đất trên. Khi ly hôn, bà S đư c chia tài sản và đi làm có thu nhập.

Mặt khác, chính Giấy mư n n có thế chấp tài sản ngày 08/8/2007 đã đề cập đến số tiền bà S, ông X mư n cũng như đứng giùm căn nhà đang ở, hoàn toàn không có vi c nh đứng tên các thửa đất tranh chấp trên.

L i trình bày của ông Cao Hữu N2, ngư i chuyển như ng đất thửa 1981 cho bà S cũng chỉ “có nghe bà S nói tiền là của bà chị gửi về mua đất, ch chị gửi tiền về để trả tiền mua đất” bút lục 161), chứ không có chứng cứ gì. H p đồng chuyển như ng giữa bà S và ông N2 chỉ có 800 m2 nhưng bà S hi n nay đư c Nhà nước công nhận nhiều hơn, 1.197m2, thửa 1981, t bản đồ số 01 tại ấp T6, xã T4, thành phố M, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04214/QSDĐ/235/2001/QĐUB ngày 08/3/2001.

Các lần mư n tiền giữa bà N và bà S đều có giấy biên nhận và đến năm 2007 thì viết tổng kết lại số tiền bà N cho bà S mư n. Vi c vay n có giấy t mà đưa tiền cho bà S mua đất không có viết giấy t gì xác nhận là có mâu thuẫn. [2.6] Quyết định số 35/2019/QĐST-DS ngày 01/8/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang đã công nhận sự thỏa thuận của các đương sự buộc bà S và ông X trả lại cho bà N số tiền 10.000 bảng Anh tương đương 290.000.000 đồng tiền Vi t Nam, thực hi n trong bốn tháng kể từ khi quyết 8 định có hi u lực pháp luật và bà N có trách nhi m trả cho bà S 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04214/QSDĐ/235/2001/QĐUB ngày 08/3/2001 do UBND thành phố M, tỉnh Tiền Giang cấp cho bà S.

[2.7] Tòa án cấp sơ thẩm xem xét thẩm định tại chỗ ngày 23/5/2019, phần đất bà N yêu cầu bà S trả lại gồm hai thửa: thửa 1981 có di n tích thực tế là 1150,4m2, hi n trạng sử dụng vào mục đích trồng cây lâu năm, tọa lạc ấp T3, xã T4, thành phố M; thửa 268 có di n tích thực tế là 393,8m2 trong đó có 56m2 đã đư c chuyển mục đích sử dụng lên thổ cư đư c cấp Giấy chứng nhận QSDĐ số H 00322 ngày 27/5/2005), tọa lạc ấp T6, xã T4, thành phố M, Tiền Giang. Đất tranh chấp hi n nay, bà S vẫn quản lý sử dụng. Bà N là ngư i Vi t Nam định cư tại nước ngoài, không thuộc trư ng h p có quyền sử dụng đất tại Vi t Nam.

Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng Án l 02/2016/AL buộc bà S trả lại một phần giá trị đất trên là không đúng nên kháng cáo của bà S, ông X đư c Hội đồng xét xử chấp nhận. Kháng cáo của bà S và yêu cầu khởi ki n của bà S không có cơ sở.

Bà H2 là ngư i quản lý hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà S đối với phần đất di n tích 399,3m2, thửa 268, t bản đồ số 06 và (H) 00322 ngày 27/5/2005 đối với phần đất di n tích 56m2, thửa 268, t bản đồ số 06 cùng tọa lạc ấp T6, xã T4, thành phố M, Tiền Giang nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà H2 cùng có trách nhi m với bà N trả hai Giấy chứng nhận trên cho bà S là có căn cứ nên giữ nguyên.

[3] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà S, ông X, không chấp nhận kháng cáo của bà N, sửa một phần án sơ thẩm.

Các chi phí tố tụng như xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá đã thực hi n xong, các đương sự tự chịu, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm: Bà N là ngư i cao tuổi nên đư c miễn án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào các Điều 26, 37, 244 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 166, 357 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Điều 186 Luật đất đai;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội về vi c quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Võ Thị N; Chấp nhận kháng cáo của bà Võ Thị S và ông Nguyễn Văn X; Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 74/2019/DS-ST ngày 29/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang cụ thể như sau: 9 1. Không chấp nhận yêu cầu khởi ki n của bà Võ Thị N về vi c yêu cầu bà Võ Thị S và ông Nguyễn Văn X trả lại cho bà Võ Thị N phần đất di n tích 1.197m2 hi n bà S đứng tên Giấy chứng nhận QSDĐ số 04214/QSDĐ/235/2001/QĐUB ngày 08/3/2001 thửa 1981, t bản đồ số 01;

phần đất di n tích 399m2 hi n bà S đứng tên Giấy chứng nhận QSDĐ số 04057/QSDĐ/1148/26.11.03/QĐUB H) do UBND thành phố M cấp ngày 09/12/2003 thuộc thửa 268, t bản đồ số 06. Hai phần đất tọa lạc ấp T6 và ấp T3 xã T4, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà S.

Buộc bà Võ Thị N và Võ Thị H2 có nghĩa vụ trả cho bà S hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà S có số vào sổ cấp Giấy chứng nhận 04057/QSDĐ/1148/26.11.03/QĐUB H) ngày 09/12/2003 đối với phần đất di n tích 399m2, thửa 268, t bản đồ số 06; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp Giấy chứng nhận H) 00322 ngày 27/5/2005 đối với phần đất di n tích 56m2, thửa 268, t bản đồ số 06, cùng tọa lạc ấp T6, T4, thành phố M, Tiền Giang.

Thực hi n khi án có hi u lực pháp luật.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà N đư c miễn án phí.

Hoàn tạm nộp án phí cho bà N số tiền 4.050.000 đồng theo biên lai thu số 00892 ngày 24/4/2019 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Tiền Giang.

Hoàn tạm nộp án phí cho ông Phạm Ngọc D đại di n cho bà Võ Thị S) đã nộp số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 00953 ngày 05/6/2019 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Tiền Giang.

3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà N đư c miễn án phí.

Hoàn tạm nộp án phí cho bà N số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001205 ngày 11/12/2019 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Tiền Giang.

Hoàn tạm nộp án phí cho ông X số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001193 ngày 09/12/2019 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Tiền Giang.

Hoàn tạm nộp án phí cho bà S số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001190 ngày 09/12/2019 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Tiền Giang.

Trư ng h p bản án, quyết định đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngư i đư c thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, th i hi u thi hành đư c thực hi n theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hi u lực thi hành kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

64
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất số 260/2020/DS-PT

Số hiệu:260/2020/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:22/07/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về