TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
BẢN ÁN 111/2024/DS-PT NGÀY 12/04/2024 VỀ TRANH CHẤP ĐÒI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Ngày 12 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 122/2023/TLPT-DS ngày 22 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 148/2023/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 150/2024/QĐXXPT-DS ngày 04 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Bà Trần Thị H, sinh năm 1959; đăng ký HKTT: Tổ B, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội; Nơi thường trú: Số H, ngách C, ngõ A phố T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội;
2. Ông Kim Xuân G, sinh năm 1955; đăng ký HKTT: Thôn Đ, xã B, huyện S, thành phố Hà Nội; Nơi thường trú: Số H, ngách C, ngõ A phố T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội;
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị H, ông Kim Xuân G: Ông Ngô Gia H1, sinh năm 1960; Nơi thường trú: Phòng 76 - C8, khu tập thể K, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội. (Theo Giấy ủy quyền ngày 21-7-2023);
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Trần Thị H, ông Kim Xuân G: Ông Nguyễn Tự Q - Luật sư Công ty L, Đoàn Luật sư Thành phố H; Nơi thường trú: Phòng 101, số A đường N, phường D, quận C, thành phố Hà Nội;
- Bị đơn: Bà Hoàng Thị V, sinh năm 1954; Nơi thường trú: Tổ dân phố số A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định;
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Anh Nguyễn Đức Đ, sinh năm 1983; Nơi thường trú: Tổ dân phố số A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định. (Theo giấy ủy quyền ngày 04-10-2023).
- Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1981;
2. Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1974;
Cùng nơi thường trú: Tổ dân phố số A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định.
- Người kháng cáo: Bà Hoàng Thị V1 là bị đơn trong vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Có mặt ông Ngô Gia H1, ông Nguyễn Tự Q, bà Hoàng Thị V, anh Nguyễn Đức Đ; vắng mặt bà Trần Thị H, ông Kim Xuân G, anh Nguyễn Văn Đ1, anh Nguyễn Văn H2.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện ngày 15-5-2023, các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng của nguyên đơn bà Trần Thị H, ông Kim Xuân G và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Trần Thị H và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Ngô Gia H1 thống nhất trình bày:
Ngày 22-11-2007, bà Trần Thị H, ông Kim Xuân G nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Nguyễn Văn Đ2 (đã chết năm 2010) và bà Hoàng Thị V thửa đất số 332, tờ bản đồ số 43, diện tích 285m2 (gồm đất ở đô thị 60m2, đất trồng cây lâu năm 225m2) có địa chỉ tại tổ dân phố số A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định với giá 170.000.000 đồng. Có lập giấy viết tay do ông Đ2 tự viết, sau đó ông Đ2, bà V và người làm chứng là ông Nguyễn Minh Đ3 (đã chết) là Tổ trưởng tổ dân phố số 17 và anh Nguyễn Văn Đ1 (con trai bà V, ông Đ2) cùng ký tên. Bà H, ông G đã thanh toán xong tiền mua đất cho ông Đ2, bà V và nhận bàn giao đất sử dụng nhưng do chưa xây dựng nên ông Đ2, bà V hỏi mượn lại để trồng rau thơm nhưng chỉ nói miệng. Đến ngày 02-7-2008, hai bên ký hợp đồng theo mẫu có chứng thực của UBND thị trấn T, ngày 19-9-2008 bà H và ông G được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên. Do bị mất giấy chứng nhận nên bà H, ông G đã làm thủ tục xin cấp lại. Ngày 28-12-2022 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH 193783 mang tên bà Trần Thị H, ông Kim Xuân G.
Đến tháng 01 năm 2023 bà H, ông G có ý định chuyển nhượng thửa đất số 332 cho người khác thì bị bà Hoàng Thị V ngăn cản nói lý do chưa được nhận tiền. Bà V đã tự ý xây tường rào xung quanh thửa đất, xây chuồng chăn nuôi lợn và trồng cây trên đất. Bà H, ông G đã đề nghị UBND thị trấn T hòa giải với bà V nhưng không thành.
Nay bà H, ông G khởi kiện yêu cầu: Buộc bà Hoàng Thị V phải trả lại thửa đất số 332, tờ bản đồ số 43, diện tích 285m2 tại Tổ dân phố số A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DH 193783 ngày 28-12-2022 đứng tên bà Trần Thị H và ông Kim Xuân G do bà V đang chiếm giữ trái phép. Đối với công trình tường rào, chuồng chăn nuôi do bà V xây dựng trên đất và công sức san lấp cát tuy bà V tự ý làm nhưng bà H, ông G đồng ý thanh toán giá trị tài sản theo kết quả định giá của Hội đồng định giá, còn cây cối trên đất thì bà V phải tự di chuyển đi.
* Tại văn bản ngày 12-7-2023, các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng của bị đơn bà Hoàng Thị V và tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của bị đơn chị Nguyễn Thị H3 thống nhất trình bày:
Bà V công nhận ngày 22-11-2007 vợ chồng bà có ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất vườn phía sau nhà cho vợ chồng bà H, ông G với giá 170.000.000 đồng. Bà H không đưa tiền mà hỏi vay lại cộng với số nợ cũ bà H vay từ trước 50.000.000 đồng và 80.000.000 đồng bà H còn nợ mua xe ô tô của gia đình bà V tổng cộng bà H đã vay 300.000.000 đồng, hứa trả lãi mỗi tháng là 4.500.000 đồng. Việc cho vay tiền do ông Nguyễn Văn Đ2 là chồng bà V và bà H bàn bạc với nhau, bà V không được biết. Sau này bà V được ông Đ2 nói đã nhận 02 tháng lãi của bà H trả là 9.000.000 đồng. Đến năm 2010, ông Đ2 chết đột tử không để lại giấy tờ gì về việc cho bà H vay nợ. Năm 2012 bà H bị bắt do lừa đảo vay tiền của nhiều người, bà V đòi nợ thì được ông G trả cho 01 chiếc tủ gỗ với giá 65.000.000 đồng và 01 bộ bàn ăn giá 15.000.000 đồng. Từ đó bà H, ông G không trả khoản tiền nào cho bà V nữa. Từ khi ký chuyển nhượng đất cho bà H, ông G đến nay thì gia đình bà V vẫn sử dụng đất để trồng rau, chăn nuôi. Đến tháng 02 năm 2023, bà V san lấp đất làm vườn trồng cây ăn quả và xây tường bao xung quanh thửa thì bà H về tranh chấp và gửi đơn đến UBND thị trấn T yêu cầu hòa giải tranh chấp.
Đến nay bà V yêu cầu bà H, ông G muốn lấy lại đất thì phải trả cho bà V số tiền mua đất còn nợ gốc là 170.000.000 đồng và phải trả lãi của số tiền gốc trên theo pháp luật quy định tính từ ngày 22-11-2007 đến nay, trừ đi 02 tháng đã trả lãi trước đây là 9.000.000 đồng và còn phải thanh toán giá trị tường rào xung quanh thửa, giá trị san lấp cát cho bà V theo giá trị đã định giá. Còn nếu không muốn trả tiền thì có thể trả đất cho bà V tương đương 1/3 diện tích thửa đất ở vị trí phía Đông để bà V làm lối đi ra phía sau nhà.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 17-7-2023, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, người làm chứng anh Nguyễn Văn Đ1 trình bày: Anh là con trai của ông Nguyễn Văn Đ2 (đã chết năm 2010) và bà Hoàng Thị V. Anh có biết việc bà H, ông G mua đất của bố mẹ anh. Anh công nhận có ký tên trong Đơn đề nghị ngày 22-11-2007 của bố mẹ anh cùng với ông Nguyễn Minh Đ3 là Tổ trưởng Tổ dân phố số 17 (đã chết) nhưng anh khẳng định khi mọi người ký thì chưa có dòng chữ “tổng số tiền tôi đã nhận đủ là 170.000.000 đồng (một trăm bảy mươi triệu chẵn)” ở phía trên chữ ký của anh, ai đã viết thêm thì anh không biết. Đến nay anh muốn hai bên hoà giải, đề nghị bà H, ông G phải thanh toán số tiền còn nợ mua đất gồm tiền gốc và tiền lãi theo yêu cầu của mẹ anh thì gia đình sẽ bàn giao đất cho bà H, ông G.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, người làm chứng anh Nguyễn Văn H2 trình bày: Anh là con trai Nguyễn Văn Đ2 (đã chết năm 2010) và bà Hoàng Thị V. Anh có biết bố mẹ anh chuyển nhượng đất cho bà H, ông G nhưng anh được biết bà H, ông G chưa thanh toán tiền cho bố mẹ anh. Đến nay anh muốn hai bên hoà giải theo ý kiến của mẹ anh nêu ra. Nếu bà H, ông G không đồng ý thì đề nghị Toà án giải quyết theo pháp luật.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn có quan điểm: Việc bà H và ông G nhận chuyển nhượng thửa đất số 332, tờ bản đồ số 43, diện tích 285m2 tại tổ dân phố số A, thị trấn T, huyện H của vợ chồng bà V, ông Đ2 có lập hợp đồng bằng văn bản ngày 02-7-2008, có chứng thực của UBND thị trấn T, huyện H ngày 02-7-2008 (ghi trên hợp đồng là 75.000.000 đồng nhưng thực tế hai bên thỏa thuận giá 170.000.000 đồng). Sau khi ký hợp đồng bà H, ông G đã thanh toán xong được thể hiện tại Đơn đề nghị chuyển nhượng đất viết tay ngày 22- 11-2007 mà bà H khẳng định do chính ông Đ2 viết đã nhận đủ tiền, nếu bà V không công nhận thì có quyền yêu cầu giám định. Sau khi hợp đồng được chứng thực, bà H và ông G đã được đăng ký sang tên ngày 19-9-2008 và được cấp lại ngày 28-12- 2022. Việc cấp giấy chứng nhận cho bà H, ông G đã được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật và được niêm yết công khai nhưng gia đình bà V không có ý kiến gì. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013; các Điều 500, 501, 503 của Bộ luật Dân sự năm 2015, buộc bà Hoàng Thị V trả cho bà H, ông G thửa đất số 332 do bà V đang quản lý, nguyên đơn đồng ý thanh toán giá trị tài sản trên đất cho bị đơn theo kết quả định giá tài sản.
* Từ nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 148/2023/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu đã quyết định: Căn cứ vào các Điều 164, 166, 288 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H và ông Kim Xuân G đối với bị đơn bà Hoàng Thị V về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất.
Buộc bà Hoàng Thị V phải trả cho bà Trần Thị H và ông Kim Xuân G thửa đất số 332, tờ bản đồ số 43, diện tích 285m2 (gồm đất ở đô thị 60m2, đất trồng cây lâu năm 225m2) tại Tổ dân phố số A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DH 193783 ngày 28-12-2022 đứng tên bà Trần Thị H và ông Kim Xuân G).
Bà Trần Thị H và ông Kim Xuân G được quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất do bà Hoàng Thị V xây dựng gồm 01 tường rào xây gạch bi diện tích 46m2 trị giá 26.634.000 đồng; 01 hàng rào bằng lưới B40 trên tường rào gạch bi diện tích 59,8m2 trị giá 12.199.000 đồng; 01 mái tôn liên doanh diện tích 9m2 trị giá 3.762.000 đồng; 01 đoạn tường gạch bi dưới mái tôn liên doanh diện tích 10,2m2 trị giá 5.905.000 đồng và giá trị san lấp cát 76,95m³ có trị giá 13.081.000 đồng. Tổng cộng trị giá tài sản trên đất là 61.581.000đ (Sáu mươi mốt triệu năm trăm tám mươi mốt nghìn đồng).
Buộc bà Trần Thị H và ông Kim Xuân G phải liên đới trả cho bà Hoàng Thị V trị giá tài sản trên đất là 61.581.000đ (Sáu mươi mốt triệu năm trăm tám mươi mốt nghìn đồng).
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, nghĩa vụ bàn giao, chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và biện pháp đảm bảo thi hành án của các đương sự.
* Ngày 04 tháng 10 năm 2023 bà Hoàng Thị V1 là bị đơn trong vụ án có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 148/2023/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Hải Hậu với nội dung: Toà án chưa xem xét làm rõ nội dung chữ viết giả của bà Trần Thị H, ông Kim Xuân G trong đơn xin chuyển nhượng đất ngày 22-11-2007 cũng chưa làm rõ việc nguyên đơn thanh toán tiền mua đất cho bị đơn. Vợ chồng bà H, ông G đã tự ghi thêm vào đơn chuyển nhượng đất với nội dung “tổng số tiền tôi đã nhận đủ là 170.000.000đ (Một trăm bảy mươi triệu đồng chẵn)”. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án theo đúng pháp luật, cho giám định dòng chữ “tổng số tiền tôi đã nhận đủ là 170.000.000đ (Một trăm bảy mươi triệu đồng chẵn)” trong đơn đề nghị chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22-11-2007 có phải chữ viết của ông Nguyễn Văn Đ2 hay không, làm rõ bà H, ông G đã thực hiện việc thanh toán tiền mua đất của vợ chồng bà V thì giao tiền cho ai nhận, giao thời điểm nào, có giấy biên nhận không, buộc bà H, ông G phải thanh toán tiền mua đất chưa trả cho bà V.
* Tại đơn đề nghị trưng cầu giám định ngày 20-01-2024 bà Hoàng Thị V đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Nam Định cho giám định dòng chữ “tổng số tiền tôi đã nhận đủ là 170.000.000đ (Một trăm bảy mươi triệu đồng chẵn)” trong đơn đề nghị chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22-11-2007 có phải chữ viết của ông Nguyễn Văn Đ2 viết hay không.
* Tại bản kết luận giám định số 51/KL-KTHS ngày 05-3-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Chữ viết “tổng số tiền . . . . . . chẵn)” trên mẫu cần giám định so với chữ viết đứng tên ông Nguyễn Văn Đ2 trên mẫu so sánh là do cùng một người viết ra.
* Tại phiên toà phúc thẩm: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị H, ông Kim Xuân G là ông Ngô Gia H1 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên ý kiến đã trình bày tại Toà án cấp sơ thẩm, không chấp nhận lý do kháng cáo của bà Hoàng Thị V2, đề nghị cấp phúc thẩm giải quyết giữ nguyên như bản án sơ thẩm, bà Hoàng Thị V và người đại diện theo ủy quyền là anh Nguyễn Đức Đ4 giữ nguyên ý kiến đã trình bày tại Toà án cấp sơ thẩm, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của bà V, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H, ông Kim Xuân G, các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, những người tham gia tố tụng chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, quyền lợi của các đương sự được bảo đảm.
Về nội dung kháng cáo: Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì thấy rằng năm 2007 vợ chồng bà Trần Thị H và ông Kim Xuân G nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Nguyễn Văn Đ2 và bà Hoàng Thị V thửa đất số 332, tờ bản đồ số 43, diện tích 285m2 (gồm đất ở đô thị 60m2, đất trồng cây lâu năm 225m2) có địa chỉ tại tổ dân phố số A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định với giá 170.000.000 đồng. Đến ngày 02-7-2008, hai bên ký hợp đồng theo mẫu có chứng thực của UBND thị trấn T, ngày 19-9-2008 bà H và ông G được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Toà án cấp sơ thẩm đã xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H và ông Kim Xuân G đối với bà Hoàng Thị V về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất là có cơ sở, đảm bảo đúng pháp luật. Vì vậy, kháng cáo của bà V là không có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 giữ nguyên bản án sơ thẩm. Về án phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Trần Thị H và ông Kim Xuân G vắng mặt tại phiên toà nhưng đã ủy quyền cho ông Ngô Gia H1 nên việc xét xử vắng mặt bà H, ông G không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà H, ông G. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà H, ông G.
[2] Xét kháng cáo của bà Hoàng Thị V làm trong thời hạn luật định phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 272; khoản 1 Điều 273; Điều 276 Bộ luật Tố tụng Dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết.
[3] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Trần Thị H và ông Kim Xuân G khởi kiện yêu cầu bà Hoàng Thị V trả lại thửa đất số 332, tờ bản đồ số 43, diện tích 285m2 tại Tổ dân phố số A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH 193783 ngày 28-12-2022 mang tên bà Trần Thị H, ông Kim Xuân G). Đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất”. Căn cứ quy định tại khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Toà án cấp sơ thẩm đã thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
[4] Xét kháng cáo của bà Hoàng Thị V kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 148/2023/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Hải Hậu. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm cho giám định dòng chữ “tổng số tiền tôi đã nhận đủ là 170.000.000đ (Một trăm bảy mươi triệu đồng chẵn)” trong đơn đề nghị chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22-11-2007 có phải chữ viết của ông Nguyễn Văn Đ2 hay không, làm rõ bà H, ông G đã thực hiện việc thanh toán tiền mua đất của vợ chồng bà V thì giao tiền cho ai nhận, giao thời điểm nào, có giấy biên nhận không, buộc bà H, ông G phải thanh toán tiền mua đất chưa trả cho bà V thấy rằng: Đối với yêu cầu kháng cáo của bà V đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giám định dòng chữ “tổng số tiền tôi đã nhận đủ là 170.000.000đ (Một trăm bảy mươi triệu đồng chẵn)” trong đơn đề nghị chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22-11-2007, thì thấy tại bản kết luận giám định số 51/KL-KTHS ngày 05-3-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Chữ viết “tổng số tiền . . . . . . chẵn)” trên mẫu cần giám định so với chữ viết đứng tên ông Nguyễn Văn Đ2 trên mẫu so sánh là do cùng một người viết ra. Vì vậy, đã có đủ cơ sở để khẳng định dòng chữ “tổng số tiền tôi đã nhận đủ là 170.000.000đ (Một trăm bảy mươi triệu đồng chẵn)” trong đơn đề nghị chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22-11-2007 là của ông Nguyễn Văn Đ2 viết ra, không phải là chữ viết giả của bà Trần Thị H, ông Kim Xuân G cho nên nội dung kháng cáo này của bà V không có cơ sở chấp nhận.
[5] Xét yêu cầu đòi quyền sử dụng đất của nguyên đơn: Căn cứ lời trình bày thống nhất của các đương sự, người làm chứng và hồ sơ địa chính do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H và UBND thị trấn T thì nguồn gốc thửa đất số 332, tờ bản đồ số 43, diện tích 285m2 (gồm đất ở đô thị 60m2, đất trồng cây lâu năm 225m2) tại tổ dân phố số A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định là của vợ chồng bà Hoàng Thị V, ông Nguyễn Văn Đ2 (ông Đ2 đã chết ngày 01-11-2010). Ngày 22-11- 2007, ông Đ2 và bà V đã lập giấy viết tay thoả thuận chuyển nhượng thửa đất trên cho bà H, ông G; văn bản có chữ ký của người làm chứng là anh Nguyễn Văn Đ1 (con trai bà V, ông Đ2) và ông Nguyễn Minh Đ3 là tổ trưởng tổ dân phố số 17 (đã chết). Ngày 02-7-2008, ông Đ2, bà V và bà H, ông G ký hợp đồng chuyển nhượng đất theo mẫu, có chứng thực của UBND thị trấn T. Đến ngày 19-9-2008, bà H và ông G được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 292365, số vào sổ H00066; đến ngày 28-12-2022, được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH 193783, số vào sổ CS08946. Sau khi nhận chuyển nhượng, bà H và ông G chưa sử dụng đất mà vẫn để cho gia đình bà V sử dụng. Xét thấy việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà H, ông G và ông Đ2, bà V đã thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật. Từ khi bà H, ông G được cấp giấy chứng nhận năm 2008, cấp đổi lại giấy chứng nhận năm 2022 cho đến nay, gia đình bà V, ông Đ2 không có khiếu nại hoặc tranh chấp gì, đến nay bà V không đồng ý trả lại đất chỉ vì lý do là bà H, ông G chưa trả tiền mua đất theo thoả thuận. Do đó, có căn cứ xác định bà H, ông G có quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất số 332, tờ bản đồ số 43, diện tích 285m2 tại tổ dân phố số A, thị trấn T là phù hợp với quy định tại các Điều 122, Điều 689, Điều 690, Điều 692, Điều 697 của Bộ luật Dân sự năm 2005 và khoản 20 Điều 4, Điều 106, Điều 127 của Luật Đất đai năm 2003.
[6] Đối với yêu cầu kháng cáo của bà Hoàng Thị V yêu cầu vợ chồng bà H, ông G thực hiện việc thanh toán tiền mua đất thì thấy: Theo lời trình bày của bà Trần Thị H, sau khi lập giấy chuyển nhượng đất viết tay ngày 22-11-2007 có người làm chứng là anh Nguyễn Văn Đ1 (con bà V, ông Đ2) và ông Nguyễn Minh Đ3 (Tổ trưởng Tổ dân phố số 17), vợ chồng bà đã giao đủ số tiền 170.000.000đ đồng cho ông Đ2, bà V và đã được ông Đ2 viết xác nhận với nội dung “tổng số tiền tôi đã nhận đủ là 170.000.000đ (một trăm bảy mươi triệu đồng chẵn)”. Vợ chồng bà đã nhận bàn giao đất nhưng do chưa xây dựng nên cho vợ chồng bà V mượn để trồng rau thơm nhưng hai bên chỉ nói miệng. Bà Hoàng Thị V thì cho rằng do bà H, ông G chưa trả tiền nên vợ chồng bà chưa giao đất; bà không công nhận chữ viết “tổng số tiền tôi đã nhận đủ là 170.000.000đ (một trăm bảy mươi triệu đồng chẵn)” trong đơn đề nghị ngày 22-11-2007 là do vợ chồng bà H tự viết. Hội đồng xét xử xét thấy, theo các tài liệu, chứng cứ do các bên đương sự cung cấp và được thu thập có trong hồ sơ thì tại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 02-7-2008 có chứng thực của UBND thị trấn T là cơ sở để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H, ông G thì tại mục 3 Điều 2 của Hợp đồng chỉ ghi “Việc thanh toán do hai bên tự thực hiện và chịu trách nhiệm trước pháp luật” .Như vậy, các bên không có thoả thuận cụ thể về số tiền phải thanh toán và thời hạn thanh toán. Tại đơn đề nghị chuyển nhượng đất viết tay ngày 22-11-2007 do bà H cung cấp bản gốc có chữ ký của ông Đ2, bà V và người làm chứng là anh Đ1 (con bà V, ông Đ2), ông Đ3 (là tổ trưởng Tổ dân phố số 17, hiện đã chết) thì phần nội dung văn bản ở phía trên chữ ký của bà V, ông Đ2 có ghi “ ... Hai bên tự thỏa thuận nhất trí chuyển đổi thửa đất đã nói trên, giá đã thỏa thuận và bên mua trả hết tiền thì giao đất cho ông bà Giáp H4 và thuế trước bạ do ông bà Giáp H4 chịu trách nhiệm...”; còn phần nội dung phía dưới chữ ký của ông Đ2, bà V và phía trên chữ ký của hai người làm chứng thì có ghi dòng chữ “tổng số tiền tôi đã nhận đủ là 170.000.000đ (một trăm bảy mươi triệu đồng chẵn)”. Như ở phần trên đã phân tích trong bản kết luận giám định đã kết luận dòng chữ “tổng số tiền tôi đã nhận đủ là 170.000.000đ (Một trăm bảy mươi triệu đồng chẵn)” là của ông Nguyễn Văn Đ2 viết ra. Như vậy, ngay sau khi lập giấy chuyển nhượng đất viết tay ngày 22-11-2007 vợ chồng bà H4, ông G đã thanh toán hết số tiền cho vợ chồng bà V, ông Đ2, yêu cầu kháng cáo này của bà V không được chấp nhận.
[7] Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà sơ thẩm, phiên toà phúc thẩm hôm nay thì bà V khai lý do chưa nhận tiền là do bà H4 đã hỏi vay lại số tiền nhận chuyển nhượng đất để trả lãi, cộng với tiền nợ cũ bà H4 vay từ trước còn nợ 50.000.000 đồng và bà H4 mua xe ô tô của gia đình bà V còn nợ 80.000.000 đồng, tổng cộng số tiền bà H4 đã vay nợ của vợ chồng bà V là 300.000.000 đồng, hứa trả lãi mỗi tháng là 4.500.000 đồng nhưng mới trả được 02 tháng lãi là 9.000.000 đồng thì không trả nữa; người làm chứng anh Nguyễn Văn Đ1 cũng thống nhất với lời trình bày trên của bà V. Như vậy, nếu lời khai trên của bà V là đúng thì phải xác định bà H4, ông G đã thanh toán xong tiền đất và chỉ phát sinh nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng vay tài sản nhưng đến nay bà V cũng không đưa ra được chứng cứ chứng minh bà H4, ông G vay số tiền trên. Ngoài ra, bà V có cung cấp 01 hợp đồng bảo lãnh bằng tài sản số 8086/HDBL ngày 17-8-2009 (là bản phô tô) và 01 Thông báo xử lý tài sản bảo đảm tiền vay số 332/NHNo-TD ngày 21-7-2010 (là bản phô tô) có nội dung bà V, ông Đ2 bảo lãnh cho anh Kim Xuân T (con bà H4) và bà Trần Thị H vay số tiền 450.000.000 đồng tại Ngân hàng N - Chi nhánh T1 bằng thửa đất số 138, tờ bản đồ số 43, diện tích 1.155m2 tại tổ dân phố số A, thị trấn T của bà V, ông Đ2 (liền kề thửa đất tranh chấp) nhưng đến nay thì bà V và bà H, ông G không có tranh chấp về hợp đồng bảo lãnh này. Bà H có cung cấp 01 Biên bản làm việc ngày 10-5-2012 tại Công an thị trấn T (là bản phô tô) có nội dung ghi nhận việc bà H có mượn tổng số tiền của gia đình bà V (theo 02 giấy nhận nợ) là 115.000.000 đồng, đến ngày 10-5-2012 bà H đã thanh toán trả đầy đủ số tiền trên, nếu còn giấy tờ gì liên quan đến 02 giấy vay nợ trên thì không còn giá trị (thực tế bà H đã trả bằng tài sản là 01 tủ gỗ 03 ngăn và 01 bộ bàn ăn trị giá 80.000.000 đồng; trả tiền mặt 35.000.000 đồng). Như vậy, trong biên bản làm việc ngày 10-5-2012 thì hai bên cũng không nói gì đến việc bà H còn khoản vay nào khác đối với gia đình bà V. Tại phiên toà sơ thẩm, bà Hoàng Thị V trình bày, do chồng bà (ông Đ2) có tính gia trưởng, quản lý hết kinh tế, bảo làm gì thì bà chỉ biết làm theo, khi ông Đ2 chết đột tử không giao lại giấy tờ vay nợ của bà H nên bà không có để giao nộp cho Toà án nhưng lời trình bày trên của bà V cũng không có tính thuyết phục vì ông Đ2 chết năm 2010, cho đến nay là khoảng 13 năm nhưng bà V chưa lần nào có đơn từ đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc đòi nợ bà H, ông G.
[8] Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 332, tờ bản đồ số 43, diện tích 285m2 tại tổ dân phố số A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định giữa bà V, ông Đ2 và bà H, ông G đã có hiệu lực pháp luật, đã được đăng ký sang tên bà H, ông G ngày 19-9-2008; đến nay bà V không đưa ra được chứng cứ chứng minh bà H, ông G còn nợ tiền chuyển nhượng đất nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu đòi thanh toán tiền chuyển nhượng đất của bà Hoàng Thị V; cũng không có căn cứ xác định bà H, ông G vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của hợp đồng theo quy định tại Điều 425 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Do đó, yêu cầu đòi quyền sử dụng đất của bà H, ông G đối với bà V là có căn cứ chấp nhận.
[9] Đối với tài sản trên đất và công sức quản lý, cải tạo đất: Bà Hoàng Thị V đã quản lý sử dụng thửa đất tranh chấp từ khi chuyển nhượng cho bà H, ông G đến nay nhưng đã khai thác đất trồng cấy rau màu, chăn nuôi để làm kinh tế cho gia đình có thu nhập; bà V chỉ cải tạo san lấp thêm cát và xây dựng tường rào xung quanh. Đến nay bà H và ông G đồng ý thanh toán trị giá công trình xây dựng, công san lấp cát cho bà V nên được ghi nhận. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản thì tài sản trên đất do bà V xây dựng gồm có 01 tường rào xây gạch bi diện tích 46m2 trị giá 26.634.000 đồng; 01 hàng rào bằng lưới B40 trên tường rào gạch bi diện tích 59,8m2 trị giá 12.199.000 đồng; 01 mái tôn liên doanh diện tích 9m2 trị giá 3.762.000 đồng; 01 đoạn tường gạch bi dưới mái tôn liên doanh diện tích 10,2m2 trị giá 5.905.000 đồng và giá trị san lấp cát 76,95m[3] có trị giá 13.081.000 đồng. Tổng cộng trị giá tài sản trên đất là 61.581.000đ (Sáu mươi mốt triệu năm trăm tám mươi mốt nghìn đồng). Do đó, giao cho bà H, ông G được sở hữu các tài sản trên đất và có trách nhiệm thanh toán giá trị tài sản cho bà Hoàng Thị V là phù hợp. Đối với các cây cối do bà V đang trồng trên đất gồm 01 cây sung cảnh, 01 cây bàng, 02 cây xanh cảnh trên chậu, 01 cây hoa Ngọc An, 01 cây hoa giấy thì cần buộc bà V phải di chuyển để trả đất cho bà H, ông G.
[10] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; đo đạc đất và định giá tài sản tổng cộng là 4.426.000 đồng. Bà H, ông G đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng tại Tòa án và đã chi xong. Tại phiên toà sơ thẩm bà H nhận chịu toàn bộ chi phí tố tụng, không yêu cầu bà Hoàng Thị V hoàn trả nên được ghi nhận.
[11] Qua những phân tích nêu trên đã cho thấy những kết luận trong bản án sơ thẩm là hoàn toàn phù hợp với những quy định của pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự được pháp luật bảo vệ không bị xâm hại. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm bà Hoàng Thị V3 không đưa ra được các chứng cứ và lí lẽ để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo là có căn cứ và hợp pháp. Vì vậy, yêu cầu kháng cáo của bà V4 được chấp nhận cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
[12] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Hoàng Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo pháp luật. Nguyên đơn bà Trần Thị H và ông Kim Xuân G phải liên đới chịu án phí dân sự có giá ngạch đối với số tiền phải thanh toán cho bị đơn. Tuy nhiên bà V, bà H và ông G đều là người cao tuổi và đã có đơn xin miễn nộp án phí nên thuộc trường hợp được miễn án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
[13] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Hoàng Thị V5 không được chấp nhận nên bà V phải nộp án phí dân sự phúc thẩm nhưng hiện nay bà V là người cao tuổi theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì bà V được miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm.
[14] Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 148; khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 164; Điều 166; Điều 288 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166; Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 26; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Giữ nguyên Quyết định bản án sơ thẩm số 148/2023/DS-ST ngày 25-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu.
2. Án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Hoàng Thị V.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người phải thi hành án dân sự bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất số 111/2024/DS-PT
| Số hiệu: | 111/2024/DS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Nam Định |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 12/04/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về