Bản án về tranh chấp đòi lại tài sản số 96/2024/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

BẢN ÁN 96/2024/DS-ST NGÀY 30/09/2024 VỀ TRANH CHẤP ĐÒI LẠI TÀI SẢN

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 237/2023/TLSTDS ngày 26-10-2023 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 382/2024/QĐXXST-DS, ngày 27-8-2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Cao Thị Minh H, sinh năm 1954; địa chỉ: Số C đường L, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt.

2. Bị đơn: Bà Phạm Thị H1, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; chỗ ở hiện nay: Số A, đường N, tổ B, phường Q, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Theo Đơn khởi kiện ngày 13-6-2023, Đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 11-9-2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Cao Thị Minh H trình bày:

Vào ngày 19-12-2022, bà (Cao Thị Minh H) có đóng góp 100.000.000 đồng với bà Phạm Thị H1 để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà gắn liền với đất tại thửa đất số 467, tờ bản đồ 24 tại thôn A, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; sau đó bà có góp thêm 40.000.000 đồng để mua vật liệu xây dựng sửa chữa ngôi nhà trên đất. Khi làm thủ tục nhận chuyển nhượng, thì bà được biết bà Phạm Thị H1 đứng tên riêng đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất trên, vì vậy bà không đồng ý và yêu cầu bà Phạm Thị H1 cho bà cùng đứng tên, nhưng bà Phạm Thị H1 không đồng ý và cam kết sẽ trả lại cho bà 140.000.000 đồng và 12.000.000 là số tiền bà Phạm Thị H1 tự nguyện trả thêm để thỏa thuận chấm dứt việc nhận chuyển nhượng chung đất và tài sản gắn liền với đất.

Ngày 09-01-2023, bà Phạm Thị H1 có làm giấy ủy quyền cho bà giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) nhằm tránh trường hợp bà Phạm Thị H1 bán tài sản trên. Ngày 18-3-2023, bà Phạm Thị H1 có viết giấy xác nhận thiếu nợ bà 152.000.000 đồng, mượn lại GCNQSDĐ để vay ngân hàng nhưng bà không đồng ý cho mượn vì sợ bà H1 bán cho người khác hoặc trốn tránh trách nhiệm trả nợ. Vào các ngày 17-4-2023 và 15-5-2023, bà Phạm Thị H1 có chuyển tiền trả nợ cho bà 16.000.000 đồng. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, bà Phạm Thị H1 chuyển trả cho bà 80.000.000 đồng, như vậy bà Phạm Thị H1 còn chiếm giữ bất hợp pháp của bà số tiền 56.000.000 đồng.

Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Phạm Thị H1 trả cho bà số tiền là 56.000.000 đồng; rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 80.000.000 đồng.

2. Bị đơn bà Phạm Thị H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa; không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

3. Ý kiến của Kiểm sát viên:

3.1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật, xác định tư cách đương sự, tống đạt văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, thời gian gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, trình tự thủ tục phiên tòa; nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự.

3.2. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Phạm Thị H1 trả cho bà Cao Thị Minh H số tiền 56.000.000 đồng; đình chỉ giải quyết yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả số tiền 80.000.000 đồng; bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng:

[1.1] Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bị đơn bà Phạm Thị H1 vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[1.2] Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Cao Thị Minh H rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 80.000.000 đồng. Xét việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện, căn cứ Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận, đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện mà bà Cao Thị Minh H đã rút.

[2] Về nội dung:

[2.1] Bà Phạm Thị H1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các văn bản tố tụng khác của Tòa án nhưng trong thời hạn luật định không có văn bản trình bày ý kiến phản đối những tình tiết, yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị Minh H, không đến Tòa án để làm việc, hòa giải, xét xử. Căn cứ vào khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

[2.2] Theo Giấy mua chung căn nhà ngày 22-12-2022, Giấy mượn tiền (kèm hợp đồng mượn số đỏ vay ngân hàng) ngày 18-3-2023 giữa bà Cao Thị Minh H và bà Phạm Thị H1 và trình bày của bà Cao Thị Minh H thể hiện bà Cao Thị Minh H có góp tiền 140.000.000 đồng với bà Phạm Thị H1 để cùng nhận chuyển nhượng thửa đất số 467, tờ bản đồ 24 tại thôn A, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi và sửa chữa nhà gắn liền với đất; tuy ghi là Giấy mượn tiền, nhưng bản chất là hai bên thỏa thuận chấm dứt việc cùng nhận chuyển nhượng thửa đất trên, bà Phạm Thị H1 xác nhận có thiếu bà Cao Thị Minh H số tiền 152.000.000 đồng, trong đó có 140.000.000 đồng là tiền góp vốn, còn 12.000.000 đồng là bà Phạm Thị H1 tự nguyện trả thêm cho bà Cao Thị Minh H để chấm dứt việc nhận chuyển nhượng chung tài sản, sau đó trả nhiều lần được 16.000.000 đồng.

[2.3] Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, mặc dù không đến Tòa án để làm việc, hòa giải, nhưng bà Phạm Thị H1 có chuyển trả cho bà Cao Thị Minh H số tiền 80.000.000 đồng.

[2.4] Như vậy, xuất phát từ việc góp vốn cùng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, sau đó bà Cao Thị Minh H và bà Phạm Thị H1 đã thỏa thuận chấm dứt việc cùng nhận chuyển nhượng thể hiện bằng việc bà Phạm Thị H1 đồng ý trả lại tiền cho bà Cao Thị Minh H và thực tế đã trả được một phần tiền. Việc bà Cao Thị Minh H khởi kiện đòi lại tài sản là số tiền bà Phạm Thị H1 chiếm hữu không có căn cứ pháp luật là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc bà Phạm Thị H1 có nghĩa vụ trả cho bà Cao Thị Minh H số tiền 56.000.000 đồng.

[2.5] Án phí: Bà Phạm Thị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 2.800.000 đồng (cách tính: 56.000.000 đồng x 5%) theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[3] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 164, 166, 275, 357, 385, 422, 468, 579 của Bộ luật Dân sự; các Điều 147, 227, 228, 244, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị Minh H về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản”;

2. Buộc bà Phạm Thị H1 có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Cao Thị Minh H số tiền 56.000.000 đồng (năm mươi sáu triệu đồng).

3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự.

4. Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị Minh H về việc buộc bà Phạm Thị H1 trả số tiền 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng).

5. Bà Phạm Thị H1 phải chịu 2.800.000 đồng (hai triệu, tám trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

6. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

44
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp đòi lại tài sản số 96/2024/DS-ST

Số hiệu:96/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quảng Ngãi
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:30/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về