Bản án về tranh chấp đòi lại tài sản số 657/2026/DS-PT ngày 26/06/2026

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

BẢN ÁN 657/2026/DS-PT NGÀY 26/06/2026 VỀ TRANH CHẤP ĐÒI LẠI TÀI SẢN

Ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án thụ lý số 641/2026/TLPT-DS ngày 28 tháng 4 năm 2026 về việc “tranh chấp đòi lại tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 101/2025/DS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Cần Thơ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 743/2026/QĐ-PT ngày

13 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Tổng Công ty Cổ phần B (PJ); Địa chỉ: Tầng B, Tòa nhà M, số B, phố T, phường K, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

1.Ông Bùi Phi L (có mặt)

2.Ông Bùi Văn H (vắng mặt)

3.Bà Nguyễn Thúy H1 (có mặt)

4.Bà Phan Thị Kiều D (vắng mặt)

5.Bà Trần Hồng N (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Tầng B, Tòa nhà M, số B, phố T, phường K, thành phố Hà Nội.

-Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1984; Địa chỉ: số A, đường V, phường M, thành phố Cần Thơ (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Bà Huỳnh Ánh T1 và bà Huỳnh Thị T2 - Văn phòng Luật sư Huỳnh Ánh T1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố C; Địa chỉ: Số G, đường N, phường P, thành phố Cần Thơ (có mặt)

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1.Ông Quách Văn T3; Địa chỉ: Số I đường L, phường P, thành phố Cần Thơ (xin vắng mặt).

2.Bà Lê Thị P, sinh năm 1971; Địa chỉ: Số G Ninh Bình, Khóm D, phường B, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

-Người kháng cáo:

1.Tổng Công ty Cổ phần B.

2.Ông Nguyễn Hoàng T là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn Tổng công ty cổ phần B (gọi tắt là PJ) trình bày nội dung và yêu cầu khởi kiện như sau: Ông Nguyễn Hoàng T làm việc tại PJ theo Hợp đồng lao động số 342 ngày 17/02/2009 với loại hợp đồng lao động là 01 năm bắt đầu từ ngày 01/03/2009. Ngày 20/01/2012, ông Nguyễn Hoàng T được bổ nhiệm giữ chức vụ Trưởng phòng Bảo hiểm khu vực Bạc Liêu – Chi nhánh P3 với nhiệm kỳ 03 năm kể từ ngày 01/02/2012.

Ngày 06/06/2014, ông T được bổ nhiệm giữ chức vụ Trưởng phòng kinh doanh – Công ty B1 nhiệm kỳ 03 năm kể từ ngày 10/06/2014. Sau đó, ngày 21/3/2016 Tổng Giám đốc PJ đã ký Quyết định số 142/PJ-QĐ- TGĐ về việc bổ nhiệm chức vụ Phó Giám đốc B1 và giao nhiệm vụ tạm thời đối với ông Nguyễn Hoàng T kể từ ngày 01/04/2016. Trong quá trình làm việc và điều hành từ năm 2014-2017, theo số liệu thống kê của kế toán, ông Nguyễn Hoàng T đã phát sinh công nợ tại PJ với tổng số tiền là 1.703.839.430 đồng, cụ thể:

Đối với khoản tiền tạm ứng là 260.194.921 đồng: Căn cứ vào biên bản làm việc ngày 14/6/2014 trong đó có Đại diện các công ty thành viên gồm P3, PJ B, PJ T (trong đó có Giám đốc P3 và Trưởng phòng kế toán Quách Văn T3) và Đại diện Phòng Kế toán của Tổng Công ty đã cùng nhau lập Biên bản làm việc thống nhất một số nội dung, cụ thể: Tạm ứng cá nhân Nguyễn Hoàng T: 359.281.500 đồng. Tạm ứng chi phí khai thác 31/12/2013 PC 6356:

87.281.500 đồng. Tạm ứng chi phí khai thác BHXD Dự án xây dựng đường Trung tâm, bệnh viện L1, bệnh viện tâm thần tính dự kiến phí 1.100 triệu (tỷ lệ tạm ứng 23%) 05/05/2014 PC 1089: 250.000.000 đồng. Tạm ứng chi phí khai thác 31/05/2014 PC 1938: 22.000.000 đồng.

Theo đó, ngày 01/07/2014, B1 nhận bàn giao từ P3 với số công nợ tài khoản 141 của ông T là 359.281.500 đồng (theo Phiếu kế toán ngày 000001 ngày 01/07/2014). Quá trình làm việc tại PJ B, ông T đã tiếp tục tạm ứng tiền và cũng đã hoàn ứng một phần. Tại thời điểm lập Biên bản bàn giao giám đốc Công ty B1 ngày 04/05/2020, ông T đã ký xác nhận (ký nháy từng trang) vào Biên bản về việc có khoản công nợ tạm ứng cá nhân là 269.676.621 đồng (tại trang 6 của Biên bản, có danh sách thu chi đính kèm). Tuy nhiên, sau thời điểm này ông T mới chỉ nộp về PJ Bạc Liêu số tiền công nợ tạm ứng TK 141 theo phiếu kế toán ngày 29/06/2021 số tiền: 5.800.000 đồng và 3.681.700 đồng. Do đó, số tiền công nợ tạm ứng ông Nguyễn Hoàng T còn nợ PJ Bạc Liêu là 269.676.621 đồng - 5.800.000 đồng - 3.681.700 đồng = 260.194.921 đồng.

Về khoản công nợ 1.443.644.509 đồng: Căn cứ theo Biên bản làm việc số 08 ngày 09/07/2015 thể hiện rõ, công nợ phải thu thuộc TK 1388 (trang 5) đối với số tiền nợ 1.067.161.995 đồng, số tiền nợ 360.087.578 đồng và 16.394.936 đồng, mặc dù có đối tượng nợ là bà Lê Thị P nhưng đây là “chi phí chưa được thanh toán tại Sóc Trăng. Cán bộ Nguyễn Hoàng T chịu trách nhiệm,” và ông T cũng đã ký xác nhận vào Biên bản này. Tại Bản xác nhận công nợ ngày 31/03/2016, ông Nguyễn Hoàng T cũng đã xác nhận ông là cán bộ quyết toán đối với những khoản công nợ này, do đó ông Nguyễn Hoàng T phải có trách nhiệm hoàn trả PJ. Nay PJ yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Nguyễn Hoàng T hoàn trả cho PJ số tiền 1.703.839.430 đồng.

*Trước yêu cầu khởi kiện của PJ, bị đơn ông Nguyễn Hoàng T có ý kiến và yêu cầu phản tố như sau:

Đối với khoản công nợ phí bảo hiểm: 1.443.644.509 đồng PJ đòi ông trả là hoàn toàn không có căn cứ bởi vì, trước khi ông được bổ nhiệm là Phó giám đốc Công ty B1 vào ngày 21/3/2016 thì ngày 09/7/2016 PJ tổ chức thanh tra nội bộ thì số công nợ này đã có, đối tượng nợ là bà Lê Thị P được ghi rõ trong biên bản làm việc số 08. Ngày 01/4/2016 ông nhận bàn giao từ ông Võ Xuân V – nguyên Quyền giám đốc Công ty B1 thì trong biên bản bàn giao cũng có số công nợ này, đối tượng nợ vẫn là bà Lê Thị P (tại biên bản bàn giao ngày 01/4/2016). Ông chỉ là người được phân công quyết toán doanh thu phát sinh của bà P, đối với đối tượng nợ của ông thì ông đã trả xong vào tháng 4/2016. Vì vậy, số công nợ này không phải của ông mà là của bà P.

Đối với số tiền tạm ứng mà PJ đòi ông là 260.194.921đồng là không chính xác. Vì ông không có bất kỳ khoản tạm ứng nào như vậy. Ông chỉ có tạm ứng vào ngày 01/7/2014 số tiền 269.676.621 đồng và lý do của việc tạm ứng này là ông dùng vào việc khai thác bảo hiểm. Tại giai đoạn năm 2012 đến năm 2014, ông có làm việc cùng bà Lê Thị P. Ông và bà P lao động đóng góp doanh thu cho PJ tương đối lớn, được ghi nhận doanh số tại Công ty P3 (vì lúc này Công ty B1 chưa được thành lập) và được Công ty T4 chi phí lợi nhuận đáng được hưởng của ông và bà P1 tổng cộng là 1.849.659.007 đồng nhưng phía PJ chưa chỉ trả cho ông và bà P, có nguyên Trưởng phòng kế toán – tổng hợp Công ty P3 ký xác nhận ngày 26/6/2015.

Đến khi ông nghỉ việc vào cuối năm 2021 cho đến nay PJ cũng chưa trả số tiền chi phí khai thác, lợi nhuận nêu trên cho ông và bà P. Vì vậy, ông không có chi phí để hoàn ứng số tiền tạm ứng 269.676.621 đồng. Do đó, ông phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết:

1.Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì ông không có công nợ đối với PJ. Ông không có trách nhiệm phải trả.

2.Buộc PJ thanh toán cho ông và bà Lê Thị P chi phí khai thác (thù lao, lợi nhuận) chưa được thanh toán tại giai đoạn năm 2012 đến năm 2014 là 1.849.659.007 đồng nhưng yêu cầu phản tố bị đơn đã rút tại phiên tòa sơ thẩm.

*Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

-Đối với bà Lê Thị P từ khi thụ lý đến giải quyết luôn vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến của bà.

-Ông Quách Văn T3 trình bày: Vào ngày 26/6/2015 giữa ông và ông T có ký bảng tổng hợp chi phí chưa được thanh toán năm 2012; 2013 và 2014. Các khoản chi phí khai thác bảo hiểm chưa được thanh toán ông có tổng hợp đối chiếu với ông T, ông T phải có trách nhiệm trình giám đốc Công ty P3 phê duyệt thanh toán theo quy định của PJ. Ông chỉ có trách nhiệm đối chiếu các khoản nguồn chi phí khai thác bảo hiểm chưa được quyết toán theo văn bản giao chi phí khai thác bảo hiểm và các chỉ đạo của Giám đốc Công ty P3 trong các năm 2012; 2013 và năm 2014.

*Vụ việc hòa giải không thành nên được đưa ra xét xử sơ thẩm công khai. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 101/2025/DS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Cần Thơ xét xử và quyết định như sau:

1.Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Tổng công ty cổ phần B. Buộc ông Nguyễn Hoàng T có trách nhiệm trả cho Tổng công ty cổ phần B số tiền là: 276.589.857 đồng.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2.Đình chỉ đối với yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Hoàng T đối với yêu cầu nguyên đơn về việc: Buộc Tổng công ty Cổ phần B thanh toán chi phí khai thác (thù lao, lợi nhuận) số tiền là 1.849.659.007 đồng.

3.Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Tổng công ty cổ phần B: Buộc ông Nguyễn Hoàng T có trách nhiệm trả cho Tổng công ty cổ phần B số tiền là: 1.427.249.573 đồng.

4.Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí dân sự, quyền kháng cáo của các đương sự.

*Ngày 27 tháng 11 năm 2025, nguyên đơn PJ kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

*Ngày 01 tháng 12 năm 2025, bị đơn ông T kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

*Tại phiên tòa phúc thẩm:

-Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo vì với chức danh quản lý thì ông T phải có nghĩa vụ trả số tiền này cho công ty.

-Bị đơn không đồng ý với kháng cáo của nguyên đơn và đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

-Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Hoàng T là bà Huỳnh Ánh T1 trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của PJ, vì thời điểm ông T phát sinh công nợ là Trưởng phòng kinh doanh thì bị đơn đã ứng để thanh toán số tiền chi phí khai thác cho bà P, được Giám đốc Chi nhánh đồng ý và chỉ làm thủ tục hợp thức hóa hoạt động kinh doanh. Về khoản công nợ phí bảo hiểm: 1.443.644.509 đồng thì đối tượng nợ là bà Lê Thị P được ghi rõ trong biên bản làm việc số 08, bị đơn chỉ là người được phân công quyết toán doanh thu phát sinh của bà P, ông T không phải là đối tượng nợ phải có nghĩa vụ. Công nợ này có trước ngày 01/4/2016. Việc bị đơn chịu trách nhiệm ở đây về công tác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh chứ không phải chịu trách nhiệm về công nợ của người khác. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của PJ và chấp nhận kháng cáo của ông T

-Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm:

+ Về tố tụng: Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.

+ Về nội dung: Qua tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm và xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ, thấy rằng, cấp sơ thẩm xét xử đúng quy định nên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]Về tố tụng: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Quách Văn T3 có yêu cầu đề nghị xét xử vắng mặt, bà Lê Thị P đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]Xét kháng cáo của nguyên đơn công ty B1:

[2.1] Qua diễn biến tranh tụng tại phiên tòa hôm nay và xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ, thấy rằng, bị đơn có làm việc cho nguyên đơn qua nhiều giai đoạn và với những chức vụ khác nhau. Quá trình làm việc, thì phía bị đơn và nguyên đơn có lập nhiều biên bản để giải quyết công nợ với nhau, trong đó có Biên bản làm việc số 08 lập ngày 09/7/2015 (ngày chính xác là 09/7/2016) giữa đại diện PJ và bị đơn là Giám đốc công ty, nguyên giám đốc là ông Võ Xuân V, tại trang 5 có ghi nhận: “Công nợ phải thu khác 1388” tại mục đối tượng nợ ghi Lê Thị P, số tiền nợ 1.067.161.995 đồng và Lê Bích P2, số tiền nợ 360.087.578 đồng, “Công nợ này là chi phí chưa được thanh toán tại Sóc Trăng. Cán bộ Nguyễn Hoàng T chịu trách nhiệm”, qua nội dung làm việc rõ ràng có căn cứ xác định nợ là do bà Lê Thị P tạm ứng chi phí khai thác, nhưng không xác định rõ ông Nguyễn Hoàng T phải chịu trách nhiệm như thế nào là phải chịu trách nhiệm trả hay chỉ là người phụ trách hồ sơ quyết toán công nợ, đồng thời, qua lời khai của ông Quách Văn T3: “ông T phải có trách nhiệm trình giám đốc công ty P3 phê duyệt thanh toán theo quy định của Công ty”, nên có căn cứ xác định ông Nguyễn Hoàng T không phải là người tạm ứng chi phí nên không có nghĩa vụ phải trả nợ cho chi phí tạm ứng của bà Lê Thị P cho nguyên đơn số tiền 1.427.249.573 đồng là đúng. Vì vậy, kháng cáo của PJ là không có căn cứ chấp nhận.

[3]Xét kháng cáo của bị đơn ông T: Xét, biên bản bàn giao Giám đốc Công ty B1 ngày 04/5/2020, Biên bản làm việc số 08 lập ngày 09/7/2015 (ngày chính xác là 09/7/2016) đều có bị đơn xác nhận từng trang và ký ghi rõ họ tên, kèm theo các tài liệu khác về thu chi tạm ứng nhưng được bị đơn ký mục người nhận, xác định số tiền là 269.676.621 đồng, sau khi trừ khoản tiền bị đơn nộp về PJ Bạc Liêu 5.800.000 đồng và 3.681.700 đồng thì đủ cơ sở xác định công nợ TK141: bị đơn phải nộp trả lại cho nguyên đơn số tiền 260.194.921 đồng. Đối với công nợ 1388 thì rõ ràng xác định là công nợ của bị đơn là chi phí tạm ứng chưa thanh toán nên bị đơn phải có nghĩa vụ nộp trả lại cho nguyên đơn số tiền 16.394.936 đồng. Do đó, yêu cầu kháng cáo của bị đơn không đồng ý trả khoản này cho nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận.

[4]Đối với việc đình chỉ phản tố của bị đơn không ai kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

[5]Với những nhận định trên nên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, đúng quy định pháp luật. Cấp sơ thẩm đánh giá chứng cứ và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng nên giữ nguyên.

[6]Về phần án phí:

[6.1] Sơ thẩm: giữ nguyên như án sơ thẩm

[6.2] Phúc thẩm: Nguyên đơn, bị đơn đều phải chịu do kháng cáo không

được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

*Căn cứ: - Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

-Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

*Tuyên xử:

-Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Tổng công ty cổ phần B.

-Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Hoàng T.

-Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 101/2025/DS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Cần Thơ.

-Về án phí phúc thẩm:

Nguyên đơn phải chịu 300.000đ, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012093 ngày 11/12/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.

Bị đơn phải chịu 300.000đ, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011129 ngày 01/12/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

45
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp đòi lại tài sản số 657/2026/DS-PT ngày 26/06/2026

Số hiệu:657/2026/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Cần Thơ
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:26/06/2026
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về