Bản án về tranh chấp đòi lại tài sản số 470/2026/DS-PT ngày 13/07/2026

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 470/2026/DS-PT NGÀY 13/07/2026 VỀ TRANH CHẤP ĐÒI LẠI TÀI SẢN

Trong các ngày 06 và 13 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 171/2026/TLPT-DS ngày 24 tháng 4 năm 2026 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 83/2026/DS-ST ngày 16 tháng 3 năm 2026, của Tòa án nhân dân thành Khu vực 4 – Cà Mau bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 358/2026/QĐ-PT ngày 21 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn:

1.1.Ông Hồ Văn T, sinh năm 1971 (có mặt).

1.2.Bà Lê Thị H, sinh năm 1973 (có mặt). Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau.

2.Bị đơn: Ông Lê Minh V, sinh năm 1972. Địa chỉ: Ấp N, xã T, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1979. Địa chỉ: Số A, đường Đ, khóm A, phường A, tỉnh Cà Mau. SĐT: 0913.10xxxxxxx (Văn bản uỷ quyền ngày 09/6/2026) (vắng mặt khi khai mạc phiên toà, có mặt khi tuyên án).

3.Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1.Bà Hồ Kim C, sinh năm 1976.

Địa chỉ: Ấp N, xã T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

3.2.Chị Hồ Hồng M.

Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

3.3.Anh Lê Minh L, sinh năm 1997.

Địa chỉ: Ấp N, xã T, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Người kháng cáo: Bị đơn ông Lê Minh V; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Kim C, anh Lê Minh L.

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Theo nguyên đơn ông Hồ Văn T, bà Lê Thị H trình bày: Ngày 20/11/2023, ông, bà đã cho ông V mượn 52 chỉ vàng 24k và 150.000.000 đồng, thỏa thuận tháng 06 năm 2025 sẽ trả, không thỏa thuận lãi suất. Sau khi hết hạn, ông, bà đã nhiều lần yêu cầu ông V trả số nợ trên, nhưng đến nay vẫn không trả. Nay, ông, bà yêu cầu ông V, bà C trả 52 chỉ vàng 24k và 150.000.000 đồng.

*Theo bị đơn ông Lê Minh V trình bày: Ông thừa nhận có mượn của nguyên đơn 52 chỉ vàng 24k và 150.000.000 đồng, nhưng không thỏa thuận thời hạn trả. Phía nguyên đơn đã liên hệ ông trả số nợ trên và ông đã hứa đến tháng 6 năm 2026 sẽ trả đủ. Nay, ông đồng ý trả cho nguyên đơn 52 chỉ vàng 24k và 150.000.000 đồng vào tháng 6 năm 2026 âm lịch.

*Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Kim C trình bày: Bản án dân sự sơ thẩm số 83/2026/DS-ST ngày 16/3/2026 của Toà án nhân dân khu vực 4 - Cà Mau buộc bà và ông V trả cho ông T và bà H 52 chỉ vàng 24k và 150.000.000 đồng là không đúng, ảnh hưởng đến quyền lợi của bà.

*Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Minh L trình bày: Trong số vàng 52 chỉ vàng 24k và 150.000.000 đồng ông T, bà H cho ông V mượn có 40 chỉ vàng 24k và 30.000.000 đồng là tài sản chung của anh và chị M. Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết liên quan đến 40 chỉ vàng 24k và 30.000.000 đồng nêu trên.

* Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hồ Hồng M trình bày: Trong số vàng 52 chỉ vàng 24k, ông T, bà H cho ông V mượn có 20 chỉ vàng 24k là tài sản chung của chị và anh L. Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết liên quan đến 20 chỉ vàng 24k nêu trên.

Từ nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 83/2026/DS-ST ngày 16

tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cà Mau.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Văn T, bà Lê Thị H. Buộc ông Lê Minh V, bà Hồ Kim C trả cho ông Hồ Văn T, bà Lê Thị H 52 chỉ vàng 24k và số tiền 150.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về lãi suất trong giai đoạn thi hành án, án phí, quyền thoả thuận thi hành án, quyền kháng cáo.

Ngày 30/3/2026, bị đơn ông Lê Minh V, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Kim C, anh Lê Minh L kháng cáo yêu cầu không chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Lê Minh V, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Kim C vắng mặt lần thứ 2, không có lý do; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Minh L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa:

-Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử; Thư ký và các đương sự thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

-Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử đối với kháng cáo của bị đơn ông Lê Minh V, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Kim C; không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Minh L; Áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 83/2026/DS-ST ngày 16 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cà Mau. Đương sự phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến tranh luận của đương sự và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau, sau khi thảo luận, nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về tố tụng:

[1.1] Xét đơn kháng cáo của bị đơn ông Lê Minh V, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Kim C, anh Lê Minh L hợp lệ. Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau thụ lý và giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm, quy định tại Điều 272, Điều 273, Điều 276, Điều 278, Điều 280 và Điều 285 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Người kháng cáo bị đơn ông Lê Minh V, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Kim C được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt không có lý do thì bị coi như từ bỏ việc kháng cáo, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông V, bà C, theo quy định tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2]Về nội dung vụ án: Nguyên đơn yêu cầu ông Lê Minh V, bà Hồ Kim C trả 52 chỉ vàng 24k và 150.000.000 đồng.

[3]Xét kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Minh L:

[3.1] Các đương sự ông Hồ Văn T, bà Lê Thị H và ông Lê Minh V thống nhất ông V có nhận của ông T, bà H 52 chỉ vàng 24k và 150.000.000 đồng, thuộc tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3.2] Tại bản tự khai của ông Lê Minh V (bút lục 17): Ông V thừa nhận có mượn của ông T và bà H 52 chỉ vàng 24k và 150.000.000 đồng và hẹn trả trong vòng 03 năm. Lời khai của ông V tại biên bản hoà giải ngày 01/12/2025 (bút lục 19), ông V lại cho rằng hạn trả nợ đến tháng 6/2026. Tuy nhiên, căn cứ theo biên nhận ngày 20/11/2023 (bút lục 01), nội dung biên nhận chỉ thể hiện ông V có mượn của ông T, bà H số tiền và vàng như trên, không ghi thời hạn trả. Tại Đơn kháng cáo của ông V, ông V không đồng ý trả nợ theo yêu cầu của ông T, bà H mà không nêu rõ lý do.

[3.3] Căn cứ vào lời khai của ông V và chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, có căn cứ xác định bị đơn có vay của nguyên đơn 52 chỉ vàng 24k và 150.000.000 đồng và đây là hợp đồng vay không kỳ hạn, không lãi suất. Nguyên đơn đã nộp đơn khởi kiện từ tháng 8/2025 đến nay, bị đơn vẫn chưa trả nợ, được xem là báo cho nhau trước một thời gian hợp lý, theo quy định tại khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

[3.4] Anh L cho rằng trong số tiền, vàng ông T và bà H cho ông V vay, có 40 chỉ vàng 24k, 30.000.000 đồng của anh và chị M (con gái ông T và bà H) được ông T và bà H cho (bút lục 80). Tuy nhiên, do anh L không yêu cầu giải quyết (bút lục 42), nên Toà án cấp sơ thẩm không xem xét là có căn cứ. Nay, anh kháng cáo yêu cầu không chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn là không có cơ sở chấp nhận, như nhận định tại mục [3]. Song, nếu anh L có tranh chấp quyền sở hữu 40 chỉ vàng 24k và 30.000.000 đồng với ông T và bà H, anh L được quyền khởi kiện một vụ án dân sự khác, theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3.5] Từ những phân tích trên, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo nhưng không có cơ sở chấp nhận, cần giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[4]Các phần khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[5]Án phí dân sự phúc thẩm:

Bị đơn ông Lê Minh V, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Kim C từ bỏ kháng cáo, anh Lê Minh L không được chấp nhận kháng cáo, nên mỗi người phải chịu 300.000 đồng, theo quy định tại khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6]Các quan điểm đề xuất của Kiểm sát viên tại phiên tòa có căn cứ, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148, khoản 2 Điều 92, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 466, Điều 469 của Bộ luật Dân sự 2015; điểm b, c khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị đơn ông Lê Minh V, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Kim C.

Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Minh L.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 83/2026/DS-ST ngày 16 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cà Mau.

Tuyên xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Văn T, bà Lê Thị H. Buộc ông Lê Minh V, bà Hồ Kim C trả cho ông Hồ Văn T, bà Lê Thị H 52 (Năm mươi hai) chỉ vàng 24k (Hai mươi bốn kara) và số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành.

2.Về án phí dân sự:

2.1.Án phí sơ thẩm:

Ông Hồ Văn T, bà Lê Thị H không phải chịu, đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm 9.546.000 đồng (Chín triệu năm trăm bốn mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai số 0004323 ngày 10 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được nhận lại.

Buộc bị đơn ông Lê Minh V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Kim C phải chịu 42.864.000 đồng (Bốn mươi hai triệu tám trăm sáu mươi bốn nghìn đồng).

2.2.Án phí phúc thẩm:

Buộc bị đơn ông Lê Minh V, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Kim C, anh Lê Minh L mỗi người phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Ngày 30/3/2026, ông Lê Minh V đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003221; bà Hồ Kim C đã nộp tạm ứng án phí 300.00đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003222; anh Lê Minh L đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003223 cùng của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển thu án phí.

3.Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

63
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp đòi lại tài sản số 470/2026/DS-PT ngày 13/07/2026

Số hiệu:470/2026/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:13/07/2026
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về