Bản án về tranh chấp đòi lại tài sản là tiền đặt cọc số 27/2023/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 27/2023/DS-ST NGÀY 20/09/2023 VỀ TRANH CHẤP ĐÒI LẠI TÀI SẢN LÀ TIỀN ĐẶT CỌC

Trong ngày 20 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 113/2023/TLST-DS ngày 22 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản là tiền đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2023/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2023 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 07/2023/QĐST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2023 giữa:

- Nguyên đơn: Ông Lê Ngọc Đ, sinh năm: 1975 (Có mặt)

Địa chỉ thường trú: 361/60/475 ấp F, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Chỗ ở hiện nay: 608, Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Đỗ Văn Q, sinh năm: 1971 (Có mặt) Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Trần Kim T, sinh năm: 1984 (Vắng mặt) Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Ông Đỗ Văn B, sinh năm: 1964 (Có mặt) Địa chỉ: A ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người làm chứng:

1. Bà Lê Thị Thu H, sinh năm: 1985 (Có mặt) Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Ông Nguyễn Trung H1, sinh năm: 1981 (Có mặt) Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Lê Ngọc Đ trình bày:

Do có nhu cầu mua đất, được người quen giới thiệu nên ngày 17/02/2022 ông Đ đã mua của ông Q phần đất diện tích khoảng 150 m² ngang 5m, dài 30m, thuộc thửa 667, tờ bản đồ số 17 tọa lạc tại xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, với giá là 1.100.000.000 đồng. Sau khi ký hợp đồng ông Đ đã đặt cọc cho ông Quân số tiền là 300.000.000 đồng, ngày 28/3/2022 ông Đ đặt cọc thêm số tiền là 110.000.000 đồng, ngày 21/4/2022 ông Đ đặt cọc thêm số tiền là 90.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền ông Đ đã đặt cọc cho ông Q là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng).

Trong thời gian nhận đặt cọc ông Q cam kết trước ngày 30/4/2023 sẽ hoàn thành thủ tục tách thửa để sang tên chuyển nhượng phần đất trên cho ông Đ. Sau đó, ông Đ biết được phần đất trên chưa thể tách thửa được nên vào ngày 30/10/2022 giữa ông Đ với ông Q đã làm Giấy kết thúc hợp đồng mua bán đất, ông Q cam kết vào ngày 30/4/2023 sẽ trả lại cho ông Đ số tiền là 500.000.000 đồng.

Tuy nhiên đến ngày hẹn trả tiền nhưng ông Q viện nhiều lý do mà không có thiện chí trả tiền lại cho ông Đ nên ông Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đỗ Văn Q phải hoàn trả lại cho ông số tiền là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Trả một lần ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Ông Đ cho biết số tiền mua bán đất này là tiền của ông, ngoài ra không liên quan gì đến vợ ông hoặc người nào khác, tại đơn từ chối tham gia vụ án của bà Lê Thị H2 (vợ ông Q) cũng thừa nhận như nội dung này.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Đỗ Văn Q trình bày:

Ngày 17/02/2022 ông Q có làm hợp đồng đặt cọc với ông Đ để mua bán phần đất diện tích là 150 m² (trong diện tích 395m²) tại thửa số 667, tờ bản đồ số 17 tọa lạc tại xã B, huyện C theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số H01393 của UBND huyện C cấp ngày 06/6/2005, với số tiền bán là 1.100.000.000 (Một tỷ một trăm triệu) đồng, thỏa thuận ký hợp đồng chuyển nhượng trước ngày 30/4/2023, cùng ngày ông Q đã nhận đặt cọc của ông Đ là 300.000.000 (Ba trăm triệu) đồng. Đến ngày 28/3/2022 ông Q đã nhận tổng số tiền đặt cọc của ông Đ là 500.000.000 (năm trăm triệu đồng).

Do thủ tục làm tách thửa không được nên vào ngày 30/10/2022 ông Q với ông Đ có làm giấy kết thúc hợp đồng mua bán đất trên và ông Q cam kết sẽ trả lại số tiền 500.000.000 đồng cho ông Đ trước ngày 30/4/2023.

Ông Q cho biết phần đất bán cho ông Đ là đất của ông B (là anh ruột của ông Q) do trước đây ông Q đã bán cho ông B bằng giấy tay, sau khi nhận tiền cọc của ông Đ thì ông Q đã đưa cho ông B số tiền 390.000.000 (Ba trăm chín mươi triệu đồng) ông Q giữ lại 110.000.000 đồng để làm giấy tờ.

Hiện nay ông B không đưa lại ông Quân số tiền 390.000.000 đồng nên ông Q không đủ tiền để trả lại cho ông Đ được. Ông Q yêu cầu ông Đ cho ông Q thêm thời gian khi nào ông bán được phần đất của ông B hoặc ông B đưa lại tiền cho ông Q thì ông Q sẽ trả tiền 500.000.000 đồng cho ông Đ. Ngoài ra ông Q không có yêu cầu gì khác để cùng giải quyết trong vụ án này.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn B trình bày: Ngày 11/6/2012 ông B có mua ông Q phần đất 150 m² (trong diện tích 395m²) tại thửa số 667, tờ bản đồ số 17 tọa lạc tại xã B, huyện C theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H01393 của UBND huyện C cấp ngày 06/6/2005, với số tiền 150.000.000 đồng.

Vào đầu năm 2022 ông B có bán lại cho ông Q phần đất trên với số tiền là 800.000.000 (tám trăm triệu đồng). Được biết ông Q có bán phần đất của ông cho ông Đ, sau khi nhận tiền cọc ông Đ 500.000.000 đồng thì ông Q có đưa cho ông B số tiền 390.000.000 đồng. Việc thỏa thuận mua bán đất là giữa ông Đ với ông Q thì ông B không có liên quan gì nên không có ý kiến. Ngoài ra ông B không có yêu cầu gì khác để cùng giải quyết trong vụ án này.

Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Kim T trình bày: Việc mua bán đất giữa ông Q (là chồng của bà) và ông Đ thì bà không có ý kiến gì, mọi vấn đề giải quyết trong vụ án này là do ông Q (là chồng của bà) quyết định, bà không có yêu cầu gì trong việc giải quyết vụ án này. Ngoài ra, bà T có đơn xin không tham gia vụ án này và xin vắng mặt trong các lần giải quyết vụ án của Tòa án.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người làm chứng ông Nguyễn Trung H1 trình bày: Vào ngày 30/10/2022 ông có chứng kiến việc kết thúc hợp đồng mua bán đất giữa ông Đ với ông Q, ông không có ý kiến gì thêm.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người làm chứng bà Lê Thị Thu H trình bày: Ngày 17/02/2022 bà có chứng kiến việc đặt cọc mua bán đất giữa ông Đ với ông Q, được giao dịch tại nhà ông Q, bà không có ý kiến gì thêm.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn ông Lê Ngọc Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ban đầu. Bị đơn ông Q và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông B vẫn giữ nguyên ý kiến ban đầu và không có yêu cầu phản tố hay yêu cầu độc lập gì trong vụ án này. Các người làm chứng bà H, ông H1 vẫn trình bày như nội dung theo bản lời khai của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Ngọc Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Việc thỏa thuận mua bán đất giữa ông D với ông Q được xác lập tại hợp đồng đặt cọc ngày 17/02/2022, ông D đặt cọc cho ông Quân số tiền 500.000.000 đồng, do không thể tách thửa mua bán đất được nên vào ngày 30/10/2022 giữa hai ông đã làm Giấy kết thúc hợp đồng mua bán đất, theo thỏa thuận ông Q đồng ý trả lại cho ông D số tiền là 500.000.000 đồng, thời hạn trả tiền đến hết ngày 30/4/2023, tuy nhiên ông Q không trả tiền như thỏa thuận nên ông D đã khởi kiện yêu cầu ông Q trả lại số tiền 500.000.000 đồng. Xét thấy giữa ông D, ông Q đã làm Giấy kết thúc hợp đồng mua bán đất nên giao dịch đặt cọc đã chấm dứt theo sự thỏa thuận này của các bên, vì vậy quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp đòi lại tài sản là tiền đặt cọc” được quy định tại Điều 166 Bộ luật Dân sự. Bị đơn cư trú tại ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về tố tụng:

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Kim T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn vắng mặt, từ chối tham gia vụ án nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T là đúng quy định pháp luật tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Theo lời trình bày của ông Đ, ông Q cùng thừa nhận ngày 17/02/2022 giữa các ông có thỏa thuận mua bán phần đất có diện tích 150 m² ngang 5m, dài 30m, thuộc thửa 667, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Đ đặt cọc cho ông Quân số tiền 500.000.000 đồng, đến ngày 30/4/2023 các bên sẽ ra công chứng, do đất không tách thửa được nên vào ngày 30/10/2022 ông Đ, ông Q làm Giấy kết thúc hợp đồng đặt cọc, ông Q đồng ý trả lại 500.000.000 đồng cho ông Đ, trước ngày 30/4/2023. Do hết thời hạn trả tiền ông Q không trả nên ông Đ khởi kiện yêu cầu ông Q trả lại số tiền trên.

Xét nội dung khởi kiện của ông Đ yêu cầu ông Q trả lại số tiền 500.000.000 đồng, ngoài ra ông Đ1 không yêu cầu người nào khác cùng liên đới trả tiền và cũng không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm, dựa trên chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa thì yêu cầu của ông Đ là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Ngoài ra trong vụ án này: Ông Q với ông B có trình bày phần đất ông Q bán cho ông Đ là đất của ông B, tiền ông Q nhận từ ông Đ thì ông Q đã đưa cho ông B 390.000.000 đồng, đây là ý kiến của các đương sự nhưng các đương sự không có yêu cầu giải quyết gì trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Do yêu cầu khởi kiện của ông Đ được chấp nhận nên ông Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên xét thấy ông Q thuộc diện hộ nghèo có mã số hộ: 27667060331HN (có xác nhận UBND xã B) nên ông Q được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 68, Điều 92, khoản 3 Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 166, 280, 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ các Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Ngọc Đ: Buộc ông Đỗ Văn Q phải trả cho ông Lê Ngọc Đ số tiền là 500.000.000 (Năm trăm triệu đồng), thực hiện trả tiền một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong cho người được thi hành án thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Đỗ Văn Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 24.000.000 (Hai mươi bốn triệu đồng). Do ông Q thuộc diện hộ nghèo có mã số hộ: 27667060331HN (có xác nhận UBND xã B) nên ông Q được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả lại cho ông Lê Ngọc Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2021/0046367 ngày 22 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền kháng cáo:

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày, kể từ ngày đương sự nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

178
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp đòi lại tài sản là tiền đặt cọc số 27/2023/DS-ST

Số hiệu:27/2023/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cần Giờ - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:20/09/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về