Bản án về tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 859/2024/DS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 859/2024/DS-PT NGÀY 26/09/2024 VỀ TRANH CHẤP ĐÒI LẠI TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ HỦY GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 535/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2023/DS-ST ngày 23/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2865/2024/QĐ-PT ngày 06/9/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Quách Thành T (tên thường gọi: C), sinh năm 1951; Địa chỉ: Số F, đường C, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1963; Địa chỉ: Trường mầm non S2, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Vũ Thị Kim N là Luật sư của Văn phòng L3 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Huỳnh Văn N1, sinh năm 1950; HKTT: Số B Hồ T, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên lạc: Số F (31/2/40) U, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của ông N1: Ông Bùi Khắc T1, sinh năm 1972; Địa chỉ liên lạc: Số E Đ, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Nguyễn Thị Thanh P, sinh năm 1954; HKTT: Số B Hồ T, phường N, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên lạc: Số F (31/2/40) U, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bà P: Ông Bùi Khắc T1, sinh năm 1972; Địa chỉ liên lạc: Số E Đ, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

3.2. Ông Huỳnh Văn C1, sinh năm 1944 (vắng mặt);

3.3. Ông Đặng Văn D, sinh năm 1956 (có mặt);

3.4. Bà Dương Thị C2, sinh năm 1956 (vắng mặt);

3.5. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1951 (vắng mặt);

3.6. Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1964 (vắng mặt);

3.7. Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1967 (vắng mặt);

3.8. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1968 (vắng mặt);

3.9. Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1974 (vắng mặt);

3.10. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1971 (vắng mặt);

3.11. Ông Ngô Văn S1, sinh năm 1966 (vắng mặt);

3.12. Ông Ngô Văn T4, sinh năm 1969 (vắng mặt);

3.13. Anh Ngô Ngọc L1, sinh năm 1971 (vắng mặt);

Cùng địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai

3.14. Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

3.15. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ (vắng mặt).

4. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Quách Thành T; bị đơn ông Huỳnh Văn N1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh P.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 20/10/2012 và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn ông Quách Thành T có đại diện ủy quyền là bà Nguyễn Thị Ngọc H trình bày:

Vào năm 1993, ông Quách Thành T có nhờ ông Huỳnh Văn N1 đứng ra thay mặt ông T nhận chuyển nhượng diện tích đất khoảng 10.000m2 (loại đất trồng cây lâu năm) tại xã L.

Mục đích nhận chuyển nhượng là để sau này nghỉ hưu, ông T sẽ định cư sinh sống tại Việt Nam. Lúc này, vợ chồng ông N1 nói với ông T: vợ chồng ông đã mua được 3 mẫu đất sát nhau ở L, huyện L nên muốn nhượng lại cho ông T 01 mẫu đất với giá 4 lượng vàng, ý muốn sau này hai gia đình sẽ cắt nhà ở cạnh nhau. Lúc đó vợ chồng ông N1 đưa cho vợ chồng ông T xem nguồn gốc đất muốn bán lại cho ông T là hai tờ giấy viết tay của ông Đặng Văn D và ông Huỳnh Văn C1 sang nhượng lại đất rẫy cho vợ chồng ông N1 nhưng chưa sang tên, chưa có chủ quyền chính thức, chỉ có xác nhận của UBND xã L chuyển nhượng thành quả lao động phần đất của ông C1 là 5.000m2 rẫy, ông D là 5.500m2 rẫy. Ông T đồng ý mua hiện trạng đất như trên. Do không có quốc tịch Việt Nam nên ông T không đứng tên mua đất được, vì là chỗ thân tình nên ông T tin tưởng nhờ ông N1 đứng ra thay ông T nhận chuyển nhượng (hợp thức hóa đất) của ông D và ông C1.

Do không ở Việt Nam thường xuyên nên ông T để ông N1 trông coi đất dùm.

Giữa ông T và ông N1 có làm tờ giấy biên nhận ngày 14/10/1993 với nội dung “Tôi tên Huỳnh Văn N1, sinh ngày 19/8/1950. CMND số 020037xxx có nhận của anh Quách Thành T, sinh ngày 28/01/1951 tại B, Chợ L một số tiền là bốn lượng vàng nhẫn loại 9 tuổi rưỡi để thay mặt anh T đúng tên sang lại một mẫu đất (10.000m) trồng điều tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Đây là đất của ông Đặng Văn D và T5, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Đây là đất của ông Đặng Văn D và ông Huỳnh Văn C1 khai hoang trồng điều nên chưa có chủ quyền chính thức, chỉ có giấy xác nhận thành quả lao động của chính quyền xã và anh T đồng ý với hiện trạng đất như trên” (biên nhận ông N1 giao cho ông T giữ có đính kèm theo 02 tờ giấy sang nhượng đất rẫy của ông D và ông C1).

Ông N1 có nhận của ông T 04 lượng vàng nhẫn (loại 9 tuổi rưỡi) để thay mặt ông T đứng tên sang lại phần đất trên của ông D, ông C1.

Sau đó, ông N1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất 12.201m2 (loại đất trồng cây lâu năm), thửa số 91 tờ bản đồ 52 xã L, huyện N.

Cuối năm 2011 ông T yêu cầu ông N1 làm thủ tục chuyển giao quyền sử dụng đất lại cho ông T nhưng ông N1 không đồng ý, do vậy ngày 20/10/2012 ông T nộp đơn khởi kiện.

Ông T thường về Việt Nam thăm bà con và vợ chồng ông N1 đã nhiều lần dẫn ông T đến thăm đất. Ông T có đề cập đến tiền công giữ đất thì ông N1 nói cho người giữ đất thu hoa lợi trên đất nên không phải trả tiền công Theo Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2014/DSST ngày 18/4/2014 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch và Bản án phúc thẩm số 157/2014/DSPT ngày 19/8/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử buộc vợ chồng ông Huỳnh Văn N1 và bà Nguyễn Thị Thanh P phải trả lại cho ông Quách Thành T quyền sử dụng diện tích đất 8.713m2 thuộc thửa số 91 tờ bản đồ 52 xã L, in huyện N, tỉnh Đồng Nai và ông Quách Thành T có nghĩa vụ đăng ký kê khai diện tích đất 8.713m2 theo quy định pháp luật.

Ông T đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 327011 ngày 03/4/2015 (thửa 190 tờ bản đồ 52).

Đến ngày 03/9/2015 theo quyết định Giám đốc thẩm số 03/2015/DS-GĐT Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định hủy toàn bộ hai bản án dân sự sơ thẩm và phúc thẩm về vụ án “Tranh chấp đòi lại tài sản” giữa nguyên đơn ông Quách Thành T và bị đơn ông Huỳnh Văn N1 về cho TAND huyện Nhơn Trạch xét xử sơ thẩm lại.

Ngày 10/11/2016 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ đã ban hành quyết định số 2060/QĐ-STNMT về việc thu hồi quyết định số 449/QĐ- STNMT ngày 03/4/2015 của Sở T và thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 327011 cấp ngày 03/4/2015 cho ông Quách Thành T.

Tại bản án số 01/2017/DSST ngày 18/01/2017 đã tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn ông T; Buộc ông N1, bà P phải trả cho T quyền sử dụng diện tích đất 8.713m2 thuộc thửa số 91 tờ bản đồ 52 xã L, huyện N.

Sau đó bà P, ông N1 kháng cáo bản án đến ngày 15/12/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đưa vụ án ra xét xử. Tại bản án số 175/DS-PT ngày 15/12/2017 đã tuyên xử hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 01/2017/DSST ngày 18/01/2017 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, chuyển hồ sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Sau đó Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch thụ lý lại và chuyển Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai theo thẩm quyền.

Đối với thửa đất số 190 diện tích đất 8.713m2 và thửa 91 diện tích đất 2.000m2 tờ bản đồ số 52 xã L theo trích lục và đo hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 1033/2023 ngày 10/04/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ được giới hạn bởi các mốc (1, 2, 3, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 1) và đồng ý với diện tích đất nêu trên làm cơ sở giải quyết vụ án. Các đương sự đồng ý với Chứng thư thẩm định giá số 1455/CT-ĐNI ngày 16/5/2023 của Công ty cổ phần T6 làm cơ sở giải quyết vụ án.

Nay bà H đại diện cho ông Quách Thành T yêu cầu ông Huỳnh Văn N1, bà Nguyễn Thị Thanh P phải trả lại diện tích đất 8.713m2 thuộc thửa 91 tờ bản đồ 52 xã L cho ông T, đồng thời đề nghị Tòa án công nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho ông T, còn lại thửa 91 diện tích đất 2.000m2 tờ bản đồ số 52 xã L giao lại cho ông N1, bà P sử dụng.

Đối với diện tích đất 1.488m2 (đo đạc thực tế) đã bị thu hồi trong dự án khu dân cư P - L, ông T không tranh chấp.

Việc ông N1 nhờ ông T mua máy tính là một giao dịch khác hoàn toàn không liên quan gì đến phần tranh chấp đất đai này.

Đối với yêu cầu phản tố của ông N1, bà không có ý kiến gì, đề nghị giải quyết theo pháp luật.

Theo các bản khai, đơn khởi kiện phản tố ngày 28/3/2016 và tại phiên tòa bị đơn ông Huỳnh Văn N1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh P (ông N1 ủy quyền cho bà P) trình bày:

Năm 1993, vợ chồng ông Quách Thành T là Việt Kiều sống tại Thụy Sĩ từ năm 1970 biết vợ chồng ông có lô đất nông nghiệp trồng điều tại xã L, huyện L (nay là huyện N - lô đất này ông bà nhận chuyển nhượng của ông Đặng Văn D, ông Huỳnh Văn C1, bà Dương Thị C2hánh và ông Ngô Văn K từ năm 1992), ông T cũng muốn mua đất về đầu tư vì tại thời điểm đó đất nông nghiệp tại L rất rẻ. Vì vậy, trước khi trở lại Thụy Sĩ, ông T có nhờ vợ chồng ông tim mua dùm một lô đất khoảng 10.000m2 gần với lô đất của ông và nhờ vợ chồng ông trông coi dùm. Vợ chồng ông cũng nhờ ông T mua giúp một máy tính chuyên dùng Amiga Macintosh để phục vụ công việc.

Khi ông T nhờ tìm mua đất giúp, ông N1 có gọi điện cho ông Nguyễn Văn N2 (T) là người đã môi giới cho ông N1 mua đất của ông Đặng Văn D và ông Huỳnh Văn C1. Sau khi trao đổi, ông N2 cho biết ông D và ông C1 vẫn còn nhiều đất và còn nhiều người khác gần lô đất của ông bà và họ đều muốn bán nên ông N2 đồng ý giới thiệu.

Mặc dù không nhận 04 lượng vàng từ ông T nhưng để làm tin và để ông T mua giúp máy tính, ông bà đã viết cho ông T một giấy biên nhận ngày 14/10/1993 với nội dung: “Tôi tên Huỳnh Văn N1, sinh ngày 19/8/1950. CMND số 020037xxx cá nhân của anh Quách Thành T, sinh ngày 28/01/1951 tại B, Chợ L một số tiền là bốn lượng vàng nhẫn loại 9 tuổi rưỡi để thay mặt anh T đứng tên sang lại một mẫu đất (10.000m2) trồng điều tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Đây là đất của ông Đặng Văn D và ông Huỳnh Văn C1 khai hoang trồng điều nên chưa có chủ quyền chính thức, chỉ có giấy xác nhận thành quả lao động của chính quyền xã và anh T đồng ý với hiện trạng đất như trên”.

Mục đích viết biên bản giao nhận ngày 14/10/1993 để thay mặt ông T mua dùm đất là vì ông T muốn mua đất bên cạnh ông bà.

Trong biên nhận có ghi “…mua lại đất của ông D, ông C1…” vì ông N2 cho biết ông D và ông C1 còn đất kế bên đất ông bà muốn bán nên có dự định mua phần đất đó cho ông T để gần đất ông bà. Do ông T yêu cầu mua đất dùm thì phải để tên mua của ai, phải để tên người bán đất nên ông bà nghĩ nếu ông D và ông C1 không còn đất thì sẽ mua đất khác (bên cạnh) cho ông T nên mới viết như vậy. Vợ chồng ông bà chỉ lập biên bản giao nhận, không đưa kèm 02 tờ giấy nhận sang nhượng đất từ ông D và ông C1 cho ông T.

Thực tế, ông T có mua máy vi tính giúp ông bà nhưng là máy cũ, bị hư, không dùng được nên ông T có nói gửi sang Thụy Sĩ để sửa, nhưng do chi phí gửi qua Thụy Sĩ cao nên ông T yêu cầu ông bà không gửi máy nữa mà ông T sẽ gửi máy mới về nhưng ông T đã không gửi. Việc mua máy tính không thành nên ông bà không thực hiện theo biên nhận ngày 14/10/1993.

Ông bà đã thông báo cho ông N2 về việc không tiếp tục mua bán đất nữa ông N2 bán đất cho người khác. Suốt 20 năm qua, mặc dù về Việt Nam nhiều lần nhưng ông T không gặp ông bà, cũng không để cập gì đến chuyên mua đất nữa. Ông bà đã nhiều lần đề nghị trả lại cho ông bà biên nhận ngày 14/10/1993 nhưng ông T không trả.

Do không thực hiện theo biên nhận ngày 14/10/1993 nên không có việc ông bà đứng mua dùm đất cho ông T và ông bà không có “Giấy xác nhận thành quả lao động của chính quyền xã đối với diện tích khai hoang” mà ông bà dự định mua giúp cho ông T để cung cấp cho Tòa án.

Trong diện tích đất 12.201m2 thừa 91 tờ bản đồ 52 xã L (hiện nay ông T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp theo 2 bản án đã bị hủy) thừa 44 diện tích 9.586m2 có nguồn gốc ông bà mua của ông C1, ông D còn thừa 45 diện tích 3.381m ông bà mua của ông Ngô Văn K.

Khi làm đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất ông bà chỉ đăng ký đủ số thừa đất và diện tích đất là được, còn nguồn gốc do mua của nhiều người nên không nhớ kê khai phần đất nhận chuyển nhượng của ông K. Kênh phát sinh tranh chấp (năm 2012) thì vợ chồng ông bà chưa nhận được cuốn sổ diện tích 12.201m2 (được cấp đổi sổ mới thửa 91 tờ bản đồ 52 xã L).

Từ năm 1992 ông bà đã trồng trên đất hàng chục ngàn cây bạch đàn, cây keo và thu hoạch được rất nhiều lần. Khi phát sinh tranh chấp cho tới nay, ông bà tiếp tục quản lý đất, vẫn trồng tràm và thu hoạch tràm.

Nay ông Quách Thành T yêu cầu ông bà trả lại diện tích đất 8.713m2 thừa 91 tờ bản đồ 52 xã L và yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất cho ông T, ông bà không đồng ý.

Ông, bà giữ nguyên yêu cầu phản tố “Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” mà Sở Tài nguyên và Môi trường cấp cho ông T mặc dù ngày 10/11/2016 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ đã ban hành Quyết định số 2060/QĐ-STNMT về việc thu hồi quyết định số 449/QĐ-STNMT ngày 03/4/2015 của Sở T và thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 327011 cấp ngày 03/4/2015 cho ông Quách Thành T.

Nay ông bà đồng ý trả lại cho ông T 04 lượng vàng với lý do ông bà đã nhận máy vi tính của ông T.

Tại bản khai ngày 11/12/2012 và các bản khai tiếp theo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn C1 trình bày tại hồ sơ:

Năm 1992, ông có chuyển nhượng cho ông Huỳnh Văn N1 5.000m2 đất. Ngoài diện tích đất trên thì ông không chuyển nhượng cho ông N1 diện tích đất nào khác. Ông N2 cũng không môi giới cho ông bán đất vì ông không còn đất ở gần bên cạnh. Thời điểm chuyển nhượng đất cho ông N1 chưa thành lập bản đồ địa chính nên ông không biết đất thuộc thừa nào, ông chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo ông được biết, cùng thời điểm ông chuyển nhượng đất cho ông N1 thì ông D cũng chuyển nhượng đất cho ông N1. Tổng diện tích của ông và ông D chuyển nhượng cho ông N1 khoảng 10.000m2.

Ông xác định không tranh chấp với ông T, ông N1, bà P và cũng không liên quan gì đến vụ án nên xin vắng mặt trong các lần làm việc, hòa giải và xét xử.

Tại bản khai ngày 05/11/2013 và bản khai tiếp theo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn D và bà Dương Thị C2 trình bày tại hồ sơ:

Vào năm 1992 vợ chồng ông bà có chuyển nhượng cho ông Trần Minh N3 5.000m2 đất rẫy trồng điều (ông N3 mua giùm cho vợ chồng ông N1). Khi ông bà chuyển nhượng đất thì chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng, thời điểm đó chưa thành lập bản đồ địa chính nên bây giờ ông bà không biết đất thuộc thừa nào. Thực tế ông bà không còn thừa đất nào liền kề với thừa đất trên, mà có 11.000m2 cách đó khoảng 100m và cũng đã chuyển nhượng cho người khác. Không lần nào ông bà nghe ông N3 nói sẽ môi giới cho ông bà bán đất tiếp.

Ông bà xác định không tranh chấp với ông T, ông N1, bà P và cũng không liên quan gì đến vụ án nên xin vắng mặt.

Tại bản khai ngày 01/4/2014 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T2, bà Nguyễn Thị S, ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị H1, anh Nguyễn Văn T3, anh Nguyễn Văn L trình bày tại hồ sơ:

Các ông bà là con ruột của ông Nguyễn Văn N4 (mất năm 2012) và bà Phạm Thị Đ (mất năm 2003). Ông N4, bà Đ có 06 người con gồm: bà Nguyễn Thị T2, bà Nguyễn Thị S, ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị H1, anh Nguyễn Văn T3, anh Nguyễn Văn L.

Vào năm 1978 ông N4 có khai phá được một phần đất rẫy trồng điều nằm ở gốc lô 7, thuộc xã L, phần đất này giáp với đất ông Nguyễn Ngọc N5. Theo các ông bà được biết khoảng năm 1992 ông N4 có chuyển nhượng cho ông Trần Minh N3 diện tích đất khoảng 6 công 8 nằm trong phần đất khai hoang trên. Khi đó chưa thành lập bản đồ địa chính nên lúc đó và bây giờ không biết thuộc thừa nào. Việc ông N3 có chuyển nhượng lại cho ông N1 diện tích đất trên hay không thì các ông bà không biết. Diện tích đất này cách xa diện tích đất của ông C1 và ông D chuyển nhượng cho ông N1 khoảng 01km, nên thừa đất số 45 có diện tích 3.381m2 không phải là đất Nhiên chuyển nhượng cho ông N3. Tờ giấy chuyển nhượng đất rẫy điều lập ngày 02/8/1992, ông N4 chuyển nhượng cho ông N1 6.827m2 không rõ có phải chữ ký của ông N4 không. Sau khi chuyển nhượng diện tích đất trên thì ông N4 còn khoảng hơn 03 công đất.

Các ông bà xác định không có liên quan gì trong vụ án này, nên không tranh chấp hay yêu cầu gì. Do bận công việc gia đình nên các ông bà xin vắng mặt trong các lần làm việc và xét xử.

Tại văn bản số 253/UBND-TD ngày 20/01/2014 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện N trình bày tại hồ sơ:

Ông Huỳnh Văn N1 được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 366771 ngày 31/3/2003 đối với diện tích 3.381m2 thuộc thừa 45 tờ bản đồ 28 xã L và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA 129763 cấp ngày 03/9/2004 đối với diện tích 9.586m2 thuộc thừa 44 tờ bản đồ 28 xã L.

Năm 2008, Sở T tổ chức đo đạc lại bản đồ địa chính xã L, qua đó thửa đất số 44, 45 tờ bản đồ 28 xã L (bản đồ địa chính cũ) được xác lập thành thửa 91 tờ bản đồ 52 xã L có diện tích 12.201m2 (bản đồ địa chính mới).

Ngày 07/9/2009, ông Huỳnh Văn N1 và bà Nguyễn Thị Thanh P có đơn xin cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 12.201m2 thuộc thửa 91 tờ bản đồ 52 xã L (bản đồ địa chính mới). Ngày 28/12/2010, UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 272294 đối với diện tích 12.201m2 thuộc thửa 91 tờ bản đồ 52 xã L cho ông Huỳnh Văn N1 và bà Nguyễn Thị Thanh P. Nhận thấy UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Văn N1 được thực hiện đúng quy định.

Đối với việc giải quyết hồ sơ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Huỳnh Văn N1, theo báo cáo của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh Đồng Nai - chi nhánh N6 từ thời điểm năm 2005 đến nay chưa cập nhật văn bản Thông báo thu hồi đất năm 2008 và Quyết định thu hồi đất số 2736/QĐ-UBND ngày 26/7/2005 của UBND tỉnh Đ (thu hồi tổng thể) dẫn đến việc Phòng T7 tham mưu UBND huyện cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Văn N1 và bà Nguyễn Thị Thanh P là không đúng quy định.

Tại bản khai ngày 01/8/2016 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ có đại diện ủy quyền ông Nguyễn Thành Đ1 trình bày:

Ngày 25/02/2015, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - chi nhánh N6 có tiếp nhận hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Quách Thành T, biên nhận số 2327 từ bộ phận tiếp nhận và trả kết quả UBND huyện N. Căn cứ theo bản án số 17/2014/DSST ngày 18/4/2014 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch và bản án số 157/2014/DSPT ngày 19/8/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản” giữa ông Quách Thành T và ông Huỳnh Văn N1, theo Điều 99 Luật đất đai năm 2013 và theo Điều 84 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai, việc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - chi nhánh N6 thẩm tra hồ sơ, lập thủ tục chuyển Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ tham mưu Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 327011 ngày 03/4/2015 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cho ông Quách Thành T đối với thửa đất số 190 (tách 01 phần thửa 91), diện tích 8.713m2 tờ bản đồ số 52 xã L (BĐĐC thành lập năm 2008) là đúng theo quy định.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông không có ý kiến và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Ngày 10/11/2016, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ đã ban hành Quyết định số 2060/QĐ-STNMT về việc thu hồi quyết định số 449/QĐ-STNMT ngày 03/4/2015 và thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 327011 cấp ngày 03/4/2015 cho ông Quách Thành T. Do hiện nay đối tượng khởi kiện không còn nên đề nghị đình chỉ yêu cầu phân tố của ông Huỳnh Văn N1.

Ông xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại bản khai ngày 25/5/2016 và bản khai ngày 12/8/2016 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Văn S1 trình bày tại hồ sơ:

Ông là con ruột của ông Ngô Văn K. Cha ông sinh năm 1938 và đã chết vào tháng 7/2000. Khi còn sống cha ông có 01 miếng đất rẫy giáp với đất ông Huỳnh Văn C1 được sử dụng trồng điều. Ông có nghe nói phần đất rẫy này đã bán cho người ta nhưng không biết là bán cho ai. Theo tờ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/01/2000 giữa ông Ngô Văn K và ông Huỳnh Văn N1 đối với thửa đất 45 tờ bản đồ 28 xã L, do cha ông chết đã lâu không có giấy tờ nào còn chữ ký, chữ viết để so sánh nên ông không xác định được có phải chữ ký, chữ viết của cha ông không. Ông cũng không rõ thửa đất của cha mẹ có phải thửa 45 hay không. Ông xác định không tranh chấp gì với ông T, ông N1, bà P. Ông xin vắng mặt trong các buổi làm việc hòa giải và xét xử.

Tại bản khai ngày 12/8/2016 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Văn T4 trình bày tại hồ sơ:

Ông là con ruột của ông Ngô Văn K. Cha ông sinh năm 1938 và đã chết vào tháng 7/2000. Ông thống nhất với ý kiến của anh trai ông (Ngô Văn S1) tại bản khai ngày 25/5/2016. Việc mua bán đất giữa ông K và ông N1 ông hoàn toàn không biết. Thực tế ông đi làm ăn xa (ở Cần Thơ), sau khi mẹ ông mất (năm 2014) ông mới về L sống cho đến nay. Ông không biết ông T, ông N1, bà P là ai và cũng không tranh chấp. Vì bận đi làm nên ông xin vắng mặt trong các buổi hòa giải, làm việc và xét xử.

Ông Ngô Ngọc L1 (con trai ông Ngô Văn K) đã được niêm yết hợp lệ nhưng không cung cấp bản khai, cũng không đến Tòa án để giao nộp chứng cứ.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2023/DS-ST ngày 23/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã căn cứ: Điều 26, Điều 34, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 227, Điều 288, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 5, Điều 166, Điều 169 và Điều 203 Luật Đất đai; Điều 137, Điều 235 Bộ luật dân sự 2005; Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Quách Thành T về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện N cấp cho ông Huỳnh Văn N1, bà Nguyễn Thị Thanh P ngày 28/12/2010 (đối với thửa đất số 91 tờ bản đồ 52 xã L).

2. Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Quách Thành T về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” đối với bị đơn ông Huỳnh Văn N1 và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh P.

- Buộc ông Huỳnh Văn N1 và bà Nguyễn Thị Thanh P phải thanh toán lại cho ông Quách Thành T số tiền là 10.113.600.000 đồng (Mười tỷ một trăm mười ba triệu sáu trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Công nhận cho ông Huỳnh Văn N1 và bà Nguyễn Thị Thanh P được quyền sử dụng phần đất tranh chấp có diện tích 8.713m2 thửa 190 và thửa 91 có diện tích 2.000m2 tờ bản đồ 52 xã L, huyện N. Theo trích lục và đo hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 1033/2023 ngày 10/04/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ được giới hạn bởi các mốc (1, 2, 3, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 1).

- Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật ông Huỳnh Văn N1 và bà Nguyễn Thị Thanh P liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến chi phí tố tụng, án phí, quyền, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, Ngày 04/9/2023, bị đơn là ông Huỳnh Văn N1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh P làm đơn kháng cáo với cùng lý do: Bản án sơ thẩm xét xử là không khách quan, đề nghị phúc xử theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

Ngày 06/9/2023, nguyên đơn ông Quách Thành T kháng cáo bản án sơ thẩm với lý do: Bản án sơ thẩm xác định công sức của bị đơn chiếm 50% giá trị tài sản đồng thời giao toàn bộ diện tích đất tranh chấp cho bị đơn là chưa phù hợp. Đề nghị phúc xử theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là được công nhận quyền sử dụng phần đất tranh chấp.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Nguyên đơn ông Quách Thành T ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Ngọc H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Huỳnh Văn N1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh P; chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là được công nhận quyền sử dụng phần đất tranh chấp.

Bị đơn ông Huỳnh Văn N1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh P ủy quyền cho ông Bùi Khắc T1, vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Quách Thành T, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Huỳnh Văn N1.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn cũng phân tích toàn bộ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, bác yêu cầu kháng cáo của bị đơn; sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Các đương sự cũng không có cung cấp hay bổ sung thêm chứng cứ gì mới, và cũng không có thỏa thuận gì với nhau, chỉ yêu cầu Tòa xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Tòa án cấp phúc thẩm và các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung vụ án: Vị kiểm sát viên cũng phân tích các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xét yêu cầu kháng cáo của các đương sự nguyên đơn ông Quách Thành T, bị đơn ông Huỳnh Văn N1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh P, vị kiểm sát viên cho rằng không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự xử bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của các đương sự, giữ nguyên quyết định bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Đơn Kháng cáo của nguyên đơn ông Quách Thành T; bị đơn ông Huỳnh Văn N1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh P trong hạn luật định và hợp lệ được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án và xét yêu cầu kháng cáo của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Nguyên đơn ông Quách Thành T khởi kiện yêu cầu ông Huỳnh Văn N1 trả lại cho ông T thửa đất số 190 diện tích đất 8.713m2 và thửa 91 diện tích đất 2.000m2 tờ bản đồ số 52 xã L theo trích lục và đo hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 1033/2023 ngày 10/04/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ được giới hạn bởi các mốc (1, 2, 3, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 1) và đồng ý với diện tích đất nêu trên làm cơ sở giải quyết vụ án. Các đương sự đồng ý với Chứng thư thẩm định giá số 1455/CT-ĐNI ngày 16/5/2023 của Công ty cổ phần T6 làm cơ sở giải quyết vụ án.

Về việc xác định diện tích đất đang tranh chấp thấy rằng, ông N1 có mua của nhiều người nhưng các đương sự đã xác định và qua xác minh thì phần đất tranh chấp có diện tích 8.713m2 thửa 190 và thửa 91 có diện tích 2.000m2 tờ bản đồ 52 xã L là tài sản tranh chấp. Theo biên nhận ngày 14/10/1993 thể hiện ông T nhờ vợ chồng ông N1, bà P mua giùm 01 lô đất diện tích 10.000m2 có giá trị 04 lượng vàng. Như vậy, khi giải quyết tranh chấp thì xác định diện tích là 10.000m2 để làm cơ sở giải quyết vụ án.

[2.2] Về nguồn gốc diện tích đất 12.201m2 (đất trồng cây lâu năm) thửa 91 tờ bản đồ 52 xã L là của ông Huỳnh Văn C1 chuyển nhượng cho ông N1 diện tích 5.000m2 vào ngày 10/11/1992 và ông Đặng Văn D, bà Dương Thị C2 chuyển nhượng cho ông N1 diện tích 5.500m2 vào ngày 18/4/1992 (diện tích đất này chỉ ước lượng, không đo đạc chính xác, 02 tờ sang nhượng đất rẫy có xác nhận của UBND xã L). Ngày 31/3/2003 và 03/9/2004 ông Huỳnh Văn N1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (thửa 45 diện tích 3.381m2; thửa 44 diện tích 9.586m2), đến năm 2010 được cấp đổi thành thửa 91 tờ bản đồ 52.

[2.3] Xét lời trình bày của các đương sự đều thừa nhận giữa ông T và ông N1 có ký kết tờ biên nhận ngày 14/10/1993. Nội dung tờ biên nhận ghi rõ: “Tôi tên Huỳnh Văn N1, sinh ngày 19/8/1950. CMND số 020037xxx có nhận của anh Quách Thành T, sinh ngày 28/01/1951 tại B, Chợ L một số tiền là bốn lượng vàng nhẫn loại 9 tuổi rưỡi để thay mặt anh T đứng tên sang lại một mẫu đất (10.000m2) trồng điều tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Đây là đất của ông Đặng Văn D và ông Huỳnh Văn C1 khai hoang trồng điều nên chưa có chủ quyền chính thức, chỉ có giấy xác nhận thành quả lao động của chính quyền xã và anh T đồng ý với hiện trạng đất như trên” (biên nhận ông N1 giao cho ông T có đính kèm theo 02 tờ giấy sang nhượng đất rẫy của ông D và ông C1).

Ông N1 có nhận của ông T 04 lượng vàng nhẫn (loại 9 tuổi rưỡi) để thay mặt ông T đứng tên sang lại phần đất trên của ông D, ông C1.

Sau đó ông N1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất 12.201m2 (loại đất trồng cây lâu năm), thửa số 91 tờ bản đồ 52 xã L, huyện N.

[2.4] Bà H là người đại diện theo ủy quyền của ông T cho rằng biên nhận trên ông N1 ghi rõ, đó chính là diện tích đất mua lại của ông C1, ông D. Vì trước đó năm 1992 ông N1 đã mua đất của ông C1 và ông D, nên năm 1993 ông N1 mới chuyển nhượng đất lại cho ông T.

Bị đơn là ông N1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà P cho rằng sở dĩ có tờ biên nhận ngày 14/10/1993 là vì ông T nhờ vợ chồng bà mua giùm 01 lô đất có giá trị 04 lượng vàng, nhưng thực tế ông bà không nhận vàng, mà số vàng là để nhờ ông T mua giùm 01 máy vi tính trị giá 04 lượng vàng. Trước khi viết biên nhận cho ông T, ông N1 có điện thoại hỏi ông N3 (người môi giới mua bán đất), ông N3 cho biết ông C1 và ông D còn đất ở bên cạnh diện tích đất mà vợ chồng bà đã nhận chuyển nhượng và hứa sẽ môi giới chuyển nhượng đất tiếp nếu có yêu cầu. Vì vậy, để làm tin nên ông N1 ghi tên ông D, ông C1 vào tờ biên nhận trên. Tuy nhiên, do máy vi tính ông T mua bị hỏng không sử dụng được nên ông N1 báo ông Nghĩa L2 không chuyển nhượng đất nữa và thông báo cho ông T biết là chấm dứt việc chuyển nhượng giùm đất, ông T không có ý kiến gì.

Lời trình bày của ông N1, bà P không được bà H thừa nhận. Bà H cho rằng việc mua máy vi tính là 01 giao dịch khác, không liên quan gì đến việc ông N1 viết biên nhận ngày 14/10/1993, đến nay ông N1 vẫn chưa thanh toán hết tiền mua máy tính cho ông T. Như vậy theo nội dung tờ biên nhận trên thì ông N1 có nhận của ông T 04 lượng vàng (loại chín tuổi rưỡi) là có thật. Việc bà P khai ông N1 không nhận vàng của ông T là không có cơ sở.

Tờ biên nhận 14/10/1993 thể hiện: “Đây là đất của ông Đặng Văn D và ông Huỳnh Văn C1 khai hoang trồng điều nên chưa có chủ quyền chính thức, chỉ có giấy xác nhận thành quả lao động của chính quyền xã”. Như vậy tờ biên nhận trên thể hiện ý chí của ông N1 chuyển nhượng lại phần đất ông đã nhận chuyển nhượng của ông C1 và ông D lại cho ông T và ông N1 giao 02 bản photo giấy sang nhượng đất cho ông T là có thật.

Ông N1, bà P cũng thừa nhận ông T nhờ ông tim mua 01 lô đất khoảng 10.000m2 cạnh lô đất của ông bà để tiện chuyển nhượng và tiện bề chăm sóc (bút lục 91), từ đó cho thấy do ở xa nên ông T giao diện tích đất trên cho vợ chồng ông N1 trông coi giùm và để cho ông N1 đứng tên quyền sử dụng đất là có thật. Thực tế thì ông N1, bà P cũng thừa nhận ông bà không trực tiếp quản lý, sử dụng đất mà nhờ ông Nguyễn Văn C3 trông coi giùm.

Việc ông N1, bà P cho rằng trước đây ông bà có nhờ ông T mua giùm 01 máy vi tính nhưng không sử dụng được, đây là 01 giao dịch khác, không có liên quan gì đến vụ án, mặt khác ông N1, bà P cũng không có yêu cầu gì nên không xét.

Do đó, có căn cứ xác định ông T có bỏ tiền ra để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhờ ông N1 đứng tên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hộ mình.

[2.5] Tuy nhiên, ông T là người nước ngoài nên theo quy định tại Điều 5, Điều 169 Luật đất đai năm 2013 ông không thuộc đối tượng được nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất tại Việt Nam. Theo Công văn trả lời số 7289/VPDK-ĐKTK của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ thì ông T không đủ điều kiện để đứng tên, sử dụng đối với phần đất tranh chấp. Do đó, giao dịch giữa ông T và ông N1 là giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại Điều 137, 235 Bộ luật dân sự năm 2005.

Theo Án lệ số 02/2016/AL ngày 06/4/2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: “người định cư ở nước ngoài đã bỏ tiền ra để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhờ người ở trong nước đứng tên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hộ mình, khi giải quyết tranh chấp thì Tòa án phải xem xét và tính công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị quyền sử dụng đất cho người đứng tên hộ; trường hợp không xác định được chính xác công sức của người đó thì cần xác định người thực chất trả tiền để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và người đứng tên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hộ có công sức ngang nhau để chia phần giá trị chênh lệch tăng thêm so với tiền gốc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ban đầu”.

Do đó, áp dụng Án lệ số 02/2016 ngày 06/4/2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để giải quyết vụ án nêu trên là đúng quy định của pháp luật, nên ông T khởi kiện đòi lại tài sản bằng quyền sử dụng đất là có căn cứ chấp nhận một phần.

[2.6] Từ những nhận định trên thì giao dịch dân sự giữa ông T với ông N1 là vô hiệu nên các bên phải giao trả cho nhau những gì đã nhận và giải quyết hậu quả pháp lý do hợp đồng vô hiệu. Các đương sự không xác định được chính xác công sức đóng góp nên các bên có công sức ngang nhau để chia phần giá trị chênh lệch tăng thêm so với tiền gốc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ban đầu và chia cho mỗi bên.

Từ đó Tòa án cấp sơ thẩm xử: Buộc ông N1, bà P phải hoàn trả cho ông T 04 lượng vàng 9,5% quy đổi ra tiền Việt Nam đồng tại thời điểm xét xử giá trung bình là 56.800.000 đồng/lượng x 04 = 227.200.000 đồng là có căn cứ.

Như phân tích ở mục [2.1] thì giá trị quyền sử dụng đất được thẩm định là 2.000.000 đồng/m2 và khi giải quyết hậu quả hợp đồng của các bên thì tính trên số liệu được giao kết của các bên là diện tích đất 10.000m2. Cụ thể như sau: 10.000m2 x 2.000.000đ/m2 = 20.000.000.000 đồng.

Mỗi bên hướng phần giá trị chênh lệch tăng thêm là: 20.000.000.000 đồng - 04 lượng vàng (với số tiền là 227.200.000 đồng) = 19.772.800.000 đồng : 2 = 9.886.400.000 đồng.

Như vậy, tổng cộng ông N1, bà P phải hoàn trả cho ông T (tiền gốc đã nhận) 227.200.000 đồng + 9.886.400.000 đồng (giá trị chênh lệch) = 10.113.600.000 đồng.

Ông N1, bà P được quyền sử dụng toàn bộ diện tích phần đất tranh chấp có diện tích 8.713m2 thửa 190 và thửa 91 có diện tích 2.000m2 tờ bản đồ 52 xã L, huyện N.

[3] Từ những cơ sở phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là có căn cứ và đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn ông Quách Thành T; bị đơn ông Huỳnh Văn N1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh P kháng cáo nhưng cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu của mình, nên không có cơ sở chấp nhận. Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Các phần khác của Bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, nên nguyên đơn ông Quách Thành T; bị đơn ông Huỳnh Văn N1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh P phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Ông T, ông N1, bà P là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

 Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Quách Thành T; bị đơn ông Huỳnh Văn N1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh P.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2023/DS-ST ngày 23/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Áp dụng Điều 26, Điều 34, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 227, Điều 288, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 5, Điều 166, Điều 169 và Điều 203 Luật Đất đai; Điều 137, Điều 235 Bộ luật dân sự 2005; Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Pháp lệnh 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Quách Thành T về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện N cấp cho ông Huỳnh Văn N1, bà Nguyễn Thị Thanh P ngày 28/12/2010 (đối với thửa đất số 91 tờ bản đồ 52 xã L).

2. Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Quách Thành T về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” đối với bị đơn ông Huỳnh Văn N1 và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh P.

2.1. Buộc ông Huỳnh Văn N1 và bà Nguyễn Thị Thanh P phải thanh toán lại cho ông Quách Thành T số tiền là 10.113.600.000 đồng (Mười tỷ một trăm mười ba triệu sáu trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2.2. Công nhận cho ông Huỳnh Văn N1 và bà Nguyễn Thị Thanh P được quyền sử dụng phần đất tranh chấp có diện tích 8.713m2 thừa 190 và thừa 91 có diện tích 2.000m2 tờ bản đồ 52 xã L, huyện N. Theo trích lục và đo hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 1033/2023 ngày 10/04/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ được giới hạn bởi các mốc (1, 2, 3, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 1).

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật ông Huỳnh Văn N1 và bà Nguyễn Thị Thanh P liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Quách Thành T; bị đơn ông Huỳnh Văn N1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh P được miễn án phí phúc thẩm.

4. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị Cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

6. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

131
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 859/2024/DS-PT

Số hiệu:859/2024/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:26/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về