TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
BẢN ÁN 95/2026/DS-PT NGÀY 09/07/2026 VỀ TRANH CHẤP DI SẢN THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT
Ngày 09 tháng 7 năm 2026, tại Hội trường xét xử, Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 44/2026/DS-PT ngày 23/4/2026 về việc “Tranh chấp di sản thừa kế theo pháp luật”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2026/DS-ST ngày 18/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 87/2026/QĐ-PT ngày 09 tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Xuân P, sinh năm 1986 (có mặt) Địa chỉ thường trú: TDP M, phường B, tỉnh Thái Nguyên.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1984; Địa chỉ: Tổ C, phường P, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1955 (có mặt)
Địa chỉ thường trú: TDP M, phường B, tỉnh Thái Nguyên.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Bà Đỗ Quỳnh H, sinh năm 1998; Địa chỉ: Tổ B, phường P, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Phạm Ngọc A - Văn phòng L4- Đoàn Luật sư tỉnh T. Có mặt
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
-Ông Nguyễn Minh N, sinh năm 1951; Địa chỉ: Tổ A, phường S, tỉnh
Thái Nguyên (vắng mặt).
-Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1964; Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường B, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).
-Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1967; Địa chỉ: Tổ dân phố B, phường S, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).
-Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1971; Địa chỉ: TDP N, phường S, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).
-Ông Lưu Đức T1, sinh năm 1938; Địa chỉ: TDP M, phường B, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền của ông T1: Bà Đỗ Quỳnh H, sinh năm 1998; Địa chỉ: Tổ C, phường P, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).
-Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1989; Địa chỉ: Xóm N, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).
-Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1961; Địa chỉ: TDP M, phường B, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt)..
-Bà Lê Thị T2, sinh năm 1968; Địa chỉ: TDP M, phường B, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).
-Anh Nguyễn Đình L2, sinh năm 1988; Địa chỉ: TDP M, phường B, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).
-Chị Nguyễn Thị Kim L3, sinh năm 1990; Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường P, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).
-Anh Nguyễn Công Đ1, sinh năm 1993; Địa chỉ đăng ký thường trú: TDP M, phường B, tỉnh Thái Nguyên. Hiện nay đang sinh sống tại Nhật Bản (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn trình bày:
Cụ Nguyễn Văn X (sinh năm 1921, chết ngày 29/01/1996) và cụ Dương Thị M2 (Sinh năm 1932, chết ngày 25/6/2008) kết hôn và sinh được 07 người con chung gồm: Ông Nguyễn Minh N, sinh năm 1951; bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1955; ông Nguyễn Minh H1, sinh năm 1958 (ông H1 đã chết năm 2009, vợ ông H1 là bà Nguyễn Thị Đ; ông H1, bà Đ có hai người con là Nguyễn Xuân P, sinh năm 1986; Nguyễn Thị L1, sinh năm 1989), ông Nguyễn Minh Đ2, sinh năm 1960 (ông Đ2 đã chết năm 2014; ông Đ2 có vợ là Lê Thị T2; ông Đ2 bà T2 có 3 người con là Nguyễn Đình L2, sinh năm 1988; Nguyễn Thị Kim L3, sinh năm 1990; Nguyễn Công Đ1, sinh năm 1993); bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1964; bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1971. Ngoài 07 người còn chung nêu trên, cụ X và cụ M2 không có người con nuôi, con riêng nào khác. Các cụ thân sinh của cụ X và cụ M2 cũng đều chết trước cụ X và cụ M2.
Khi cụ X, cụ M2 chết đều không để lại di chúc. Tài sản là đất đai do các cụ để lại hiện nay mỗi người quản lý một phần. Phần di sản là đất đai do bố mẹ anh P (ông H1, bà Đ) đứng tên và quản lý đã được Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên giải quyết tại bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 19/4/2024. Còn lại phần đất đai do ông Đ2 bà T2 và phần do bà L quản lý chưa chia. Đối với phần nhà ông Đ2 bà T2 thì sau khi ông Đ2 chết bà T2 và các con tiếp tục quản lý sử dụng. Phần đất do ông Đ2 bà T2 quản lý sử dụng ổn định từ nhiều năm anh P không có tranh chấp, không yêu cầu giải quyết.
Nhưng riêng phần đất do bà L quản lý được UBND thị xã S trước đây cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ 22907 QSDĐ/Q3 ngày 11/02/1991 tổng cộng 6 thửa đất. Trong đó có thửa 55 tờ bản đồ số 50-III diện tích 480m2 vẫn nằm cùng thửa 55 mà bố anh P đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 229639 ngày 11/02/1991. Nguồn gốc các thửa đất mà bà L đang sử dụng đều là do ông bà nội anh P (cụ X, cụ M2) khai phá, khi còn sống chưa tặng cho ai. Việc bà L kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất này là không đúng quy định pháp luật. Do đó anh P đề nghị Tòa án tiếp tục chia phần di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn X và cụ Dương Thị M2 chưa được giải quyết trong bản án trước là các thửa đất bà L đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1991 cho những người được hưởng thừa kế của cụ X cụ M2 theo quy định pháp luật, cụ thể là các thửa đất tại tổ dân phố M, phường B, tỉnh Thái Nguyên gồm:
Thửa số 55 tờ bản đồ 50-III diện tích 480 m2 (400 m2 thổ cư và 80 m2 đất màu); Thửa số 28 tờ bản đồ 50-III diện tích 268 m2 đất 1 lúa; Thửa số 38 tờ bản đồ 50-III diện tích 460 m2 đất 1 lúa; Thửa số 35 tờ bản đồ 50-III diện tích 582 m2 đất 1 lúa; Thửa số 138 tờ bản đồ 50-III diện tích 389 m2 đất 2 lúa; Thửa số 189 tờ bản đồ 50-III diện tích 455 m2 đất 2 lúa.
* Tại bản tự khai, các biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn trình bày:
Về quan hệ gia đình và quan hệ huyết thống và thời điểm cụ X, cụ M2, ông H1, ông Đ2 chết như nguyên đơn trình bày nêu trên là đúng. Toàn bộ di sản của cụ X cụ M2 đã được Toà án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái
Nguyên giải quyết, phân chia xong tại bản án số 10/2024/DS-ST ngày 19/4/2024 và nay đã được thi hành án xong.
Nay anh P lại cho rằng toàn bộ diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà L năm 1991 cũng là di sản thừa kế của cụ X cụ M2, bà L không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh P. Vì:
Đất ở, đất vườn của bà được bố mẹ bà (cụ X, cụ M2) cho từ khoảng năm 1983 - 1984, khi đó các cụ đều còn sống, bà là con gái lớn, do muộn chồng, anh chị em trong nhà vẫn còn nhỏ nên bố mẹ bà cho mảnh đất để bà làm nhà ở riêng. Khoảng năm 1984 bà đã làm nhà tranh vách đất tại đây để ăn ở riêng, còn ruộng bà được Hợp tác xã chia do bà là lao động chính. Từ năm 1984 đến nay bà vẫn sinh sống tại mảnh đất này, đã xây thêm nhà bếp, chuồng lợn, chuồng gà…, sửa sang nhà chính nhưng không ai có tranh chấp gì.
Khoảng năm 1989 bà làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chủ trương chung của toàn xã hội thời điểm đó hầu hết các thông tin về thửa đất, diện tích là các hộ dân tự khai, đến năm 1991 thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ đó đến nay bà cũng chưa cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần nào.
Khi Toà án thành phố S giải quyết vụ án tranh chấp thừa kế giữa ông N và bà Đ (mẹ anh P) bà là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng xuất phát từ suy nghĩ mình đã được bố mẹ tặng cho đất ở, đất vườn nên bà đã từ chối nhận kỷ phần thừa kế của mình, đề nghị chia cho các anh chị em khác theo luật. Nay anh P lại cho rằng đất ở, đất vườn, đất ruộng của bà cũng là di sản của cụ X, cụ M2 để lại là không đúng, bà không nhất trí. Vì vậy bà đề nghị Toà án xem xét không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh P.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh chị em ruột, em dâu của bà
L gồm: ông N, bà M, bà M1, bà O, bà T2 trình bày:
Về mối quan hệ huyết thống trong gia đình, thời điểm cụ X và cụ M2 chết, ông Đ2, ông H1 chết như nguyên đơn trình bày như trên là đúng. Nhưng ông N, bà M, bà M1, bà O, bà T2 không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của anh P. Vì đất đai bà L đang sử dụng đã được bố mẹ (cụ X, cụ M2) cho từ năm 1984 khi đó bà L đã làm nhà tranh vách đất ở riêng từ đó đến nay. Toàn bộ di sản thừa kế của cụ X và cụ M2 đã được Toà án giải quyết xong trong vụ án khác, vì vậy đề nghị Toà án xem xét.
-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Đ, chị Nguyễn Thị L1 (là mẹ và em gái của anh P) trình bày ý kiến, quan điểm nhất trí với yêu cầu khởi kiện của anh P. Đề nghị Toà án xem xét theo quy định của pháp luật.
-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị L3, anh L2, anh Đ1 (là con ông Đ2 đã chết) không có ý kiến trình bày.
Tại Bản án sơ thẩm số 10/2026/DS-ST ngày 18/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2-Thái Nguyên đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 157, Điều 165; Điều 227, Điều 228, các Điều 244, 246, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 609, 610, 611, 612, 613, 620, 623, 649, 650, 651, 660 và 688 của Bộ luật dân sự năm 2015, các Điều 100, 166, 167 và 203 ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Xuân P về việc yêu cầu phân chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn X và cụ Dương Thị M2 đối với các thửa đất bà Nguyễn Thị L đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1991 (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 02907/QSDĐ/Q3 ngày 11/02/1991 do UBND thị xã S) gồm: Thửa số 55, tờ bản đồ số 50-III, diện tích 480 m² (400 m² đất ở, 80 m² đất màu); Thửa số 28, tờ bản đồ số 50-III, diện tích 268 m²; Thửa số 38, tờ bản đồ số 50-III, diện tích 460 m²; Thửa số 35, tờ bản đồ số 50-III, diện tích 582 m²; Thửa số 138, tờ bản đồ số 50-III, diện tích 389 m²;Thửa số 189, tờ bản đồ số 50-III, diện tích 455 m².
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 31/3/2026 nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị cấp phúc thẩm xét xử vụ án theo đúng quy định.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Nguyên đơn anh Nguyễn Xuân P và người đại diện theo ủy quyền giữ nguyên nội dung kháng cáo, không nhất trí với bản án sơ thẩm, đề nghị HĐXX phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với lý do:
Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá tài liệu chứng cứ, áp dụng quy định pháp luật chưa phù hợp:
Phần diện tích đất thuộc thửa đất số 55 là của cụ X và cụ M2, ông Nguyễn Minh H1 là người trực tiếp làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà L không phải là người làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận nên việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà L là không đúng nên phải xác định là di sản của cụ X và cụ M2 chưa chia.
Phần diện tích đất tại thửa đất số 55 cấp cho ông Nguyễn Minh H1 cũng có nguồn gốc của cụ X và cụ M2 thì được xác định là di sản thừa kế và được chia di sản thừa kế trong vụ án mà Tòa án nhân dân thành phố Sông Công giải quyết năm 2024 nhưng vụ án này lại không được chia do đó không có sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật.
Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết theo yêu cầu của nguyên đơn. Tại đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải chữ ký của bà L, việc giám định chữ ký, chữ viết của bà L là cần thiết để xác định nên việc cấp giấy chứng nhận cho bà L là không đúng. Đề nghị HĐXX phúc thẩm chấp nhận đề nghị giám định chữ ký, chữ viết.
Quá trình giải quyết tại sơ thẩm người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Đ1, anh L2, chị L3 không có ý kiến về việc giải quyết vụ án và cũng không được triệu tập tham gia phiên tòa là vi phạm thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa phía bị đơn cung cấp nội dung tin nhắn của những người này đều là bản phô tô nên không đáp ứng điều kiện là chứng cứ, đề nghị HĐXX ngừng phiên tòa xác minh làm rõ ý kiến của những người này.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày ý kiến: Không nhất trí với nội dung kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm với các lý do: Bà L sử dụng đất từ 1984 đến nay nên không phải di sản thừa kế. Không có tài liệu chứng cứ chứng minh chữ ký, chữ viết không phải của bà L. Giả sử không phải chữ ký của bà L hoặc đó là chữ ký của ông H1 thì cũng thay đổi bản chất vụ án nên không cần thiết phải giám định. Việc nguyên đơn cho rằng áp dụng pháp luật không thống nhất là không có căn cứ do ông H1 bà Đ ở cùng cụ X và cụ M2 còn bà L đã được tặng cho riêng nên quá trình quản lý sử dụng đất không giống nhau. Anh Đ1, anh L2, chị L3 là những người hưởng thừa kế của ông Đ2, quá trình giải quyết tại sơ thẩm họ đều được biết nội dung khởi kiện và quyết định của bản án và đều không có ý kiến gì nên phải xác định những người này đã từ bỏ quyền lợi.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà M1, bà M đều nhất trí với ý kiến của bị đơn.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Các đương sự thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 10/20236/DS-ST ngày 18/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2-Thái Nguyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[I]Về thủ tục tố tụng:
[1]. Xét kháng cáo của đương sự: Làm trong thời hạn luật định là hợp lệ nên được xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
[2]. Về việc vắng mặt của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nên HĐXX căn cứ vào Điều 296 BLTTDS xét xử vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[3]. Tại phiên tòa nguyên đơn đề nghị ngừng phiên tòa để xác minh ý kiến của anh Đ1, anh L2, chị L3. HĐXX phúc thẩm xét thấy bà Lê Thị T2 là mẹ của anh L2, anh Đ1, chị L3 có mặt tại phiên tòa xác định không cung cấp được địa chỉ của anh Đ1 tại nước ngoài và bà T2 có cung cấp hình ảnh nội dung tin nhắn của anh L2, anh Đ1, chị L3 về việc những người này đều biết việc khởi kiện của nguyên đơn, biết nội dung, quyết định của bản án sơ thẩm và đều không có ý kiến gì và cũng không liên quan gì đến quyền lợi trong vụ án này do đó không cần thiết phải xác minh ý kiến của những người này.
[II]. Về nội dung:
[2.1]. Xét kháng cáo của nguyên đơn:
- Về nội dung kháng cáo Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá tài liệu chứng cứ, áp dụng quy định pháp luật chưa phù hợp, HĐXX phúc thẩm xét thấy:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp, về thời hiệu khởi kiện, diện và hàng thừa kế bản án sơ thẩm đã xác định đúng quy định của pháp luật.
Về yêu cầu chia di sản thừa kế của nguyên đơn, HĐXX thấy rằng thửa đất số 55 tờ 50-III nay là thửa 332 tờ bản đồ 43 (bản đồ địa chính 2019) bà L đang quản lý có cùng số thửa 55 tờ bản đồ 50-III do ông H1 đứng tên. Tại bản án số 10/2024/DS-ST ngày 19/4/2024 của TAND thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã giải quyết yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất tại thửa đất số 55 tờ bản đồ 50-III do ông H1 đứng tên. Phần diện tích đất tại thửa đất số 55 tờ bản đồ 50-III do bà L đứng tên chưa được giải quyết. Đối với phần diện tích đất này bà Nguyễn Thị L và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà M, bà M1, bà O, ông N, bà T2 đều xác định được bố mẹ bà L là cụ X, cụ M2 cho từ khoảng năm 1984, đã ra ở riêng, xây dựng nhà ở và sử dụng ổn định từ thời điểm đó đến nay. Bản thân bà Đ là mẹ anh P cũng khai bà kết hôn với ông H1 năm 1985, khi bà về làm dâu thì bà L, bà M, bà O đều chưa lấy chồng, do bà L là con gái lớn nhưng muộn chồng nên bố mẹ chồng bà (cụ X, cụ M2) đã cho bà L ở riêng ra mảnh đất ở bên cạnh và có làm 01 nhà cấp 4 nhỏ để bà L ở. Khi bà L ở riêng có được bố mẹ cho mấy sào ruộng để cấy trồng. Đến khoảng năm 1993 – 1994 bà L kết hôn với ông T1…
Như vậy lời khai của bị đơn phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà M, bà M1, bà O, ông N, bà T2, bà Đ và có cơ sở xác định bà Nguyễn Thị L đã được bố mẹ đẻ là cụ X, cụ M2 tặng cho đất ở, đất vườn, làm nhà tạm để ở riêng từ khoảng năm 1984 trên vị trí đất tranh chấp hiện nay. Việc bố mẹ cho con đất để ra ở riêng là phù hợp với quy định của pháp luật, với phong tục tập quán địa phương, đúng ý chí nguyện vọng của cụ X và cụ M2. Việc tặng cho đất này mặc dù không có văn bản giấy tờ nhưng thực tế việc đã chuyển giao đất cho bà L đã hoàn thành từ năm 1984. Hơn nữa, suốt từ khoảng năm 1984 đến khi hai cụ qua đời (năm 1996 và 2008) không ai có ý kiến gì đối với phần đất đã cho bà L. Bà L đã sử dụng thửa đất từ năm 1984 đến nay một cách liên tục, công khai, ổn định; đã thực hiện kê khai, đăng ký và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1991 theo đúng chủ trương, chính sách của Nhà nước về đất đai tại thời điểm đó.
Theo quy định tại Điều 609 và Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015, di sản thừa kế chỉ bao gồm tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của người chết tại thời điểm mở thừa kế. Trường hợp tài sản đã được người để lại di sản chuyển giao cho người khác khi còn sống thì không còn là di sản để chia thừa kế. Do thửa đất nêu trên không còn thuộc quyền sử dụng của cụ X và cụ M2 tại thời điểm chết nên không phải là di sản thừa kế.
Đối với các thửa đất ruộng gồm thửa 28 tờ bản đồ 50 -III diện tích 268m2 và thửa 35 tờ 50 –III diện tích 582m2 và 01 diện tích 329m2 ở ven kênh đào (không có số lô số thửa) (năm 2019 bà L có được đền bù 01 thửa ruộng diện tích 102m2 nhưng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) đã được UBND thị xã S cấp giấy chứng nhận QSD đất có số vào sổ 22907 QSDĐ/Q3 ngày 11/02/1991 đứng tên bà Nguyễn Thị L đều có nguồn gốc do bà L được Hợp tác xã giao khoán nên không phải do cụ X và cụ M2 tặng cho do đó không phải là di sản thừa kế của cụ X, cụ M2.
Đối với nội dung kháng cáo về việc Tòa án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu đề nghị giám định chữ ký, chữ viết của bà L trong hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn đề nghị HĐXX phúc thẩm chấp nhận yêu cầu giám định chữ viết, chữ ký của bà L. Bà L khẳng định là chữ ký, chữ viết của bà L và không đề nghị giám định. Hơn nữa việc bà L được cụ X, cụ M2 tặng cho quyền sử dụng đất từ năm 1984 là đúng ý chí của cả bên tặng cho và bên nhận tặng cho nên việc giám định chữ ký, chữ viết của bà L không làm thay đổi bản chất vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn cũng không cung cấp được mẫu giám định. Do đó không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn về việc đề nghị giám định chữ viết, chữ ký.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã thu thập, đánh giá đầy đủ chứng cứ và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ gì mới làm thay đổi bản chất vụ án do đó kháng cáo của nguyên đơn là không có căn cứ để chấp nhận, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2026/DS-ST ngày 18/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thái Nguyên.
[III]. Về án phí:
Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nguyên đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 26, Điều 38, Điều 148, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1.Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn anh Nguyễn Xuân P, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 10/2026/DS-ST ngày 18/3/2026 ngày 18/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Thái Nguyên.
2.Về án phí dân sự phúc thẩm:
Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001515, ngày 13 tháng 4 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
3.Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tranh chấp di sản thừa kế theo pháp luật số 95/2026/DS-PT ngày 09/07/2026
| Số hiệu: | 95/2026/DS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thái Nguyên |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 09/07/2026 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về