Bản án về tranh chấp di sản thừa kế số 49/2024/DS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 49/2024/DS-ST NGÀY 04/09/2024 VỀ TRANH CHẤP DI SẢN THỪA KẾ

Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 114/2024/TLST-DS17/6/2024về “Tranh chấp di sản thừa kế theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QDXXST-DS ngày 14/8/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

1. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965. Địa chỉ: Ấp G, xã H, huyện T, tỉnh Long An. (Có mặt)

2. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969. Địa chỉ: Ấp R, xã T, huyện V, tỉnh Long An. (Có mặt)

3. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1971. Địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện V, tỉnh Long An. (Có mặt)

4. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1973. Địa chỉ: Ấp S, xã K, huyện V, tỉnh Long An. (Có mặt)

5. Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1976. Địa chỉ: Ấp R, xã V, huyện V, tỉnh Long An. (Có mặt)

6. Bà Nguyễn Thị S1, sinh năm 1980. Địa chỉ: Ấp S, xã K, huyện V, tỉnh Long An. (Có mặt)

7. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện V, tỉnh Long An. (Có mặt)

8. Ông Nguyễn Trọng H1, sinh năm 1984. Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Long An. (Có mặt)

9. Bà Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1986. Địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Long An. (Có mặt)

- Bị đơn:

1. Ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1975. Địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện V, tỉnh Long An. (Có mặt)

2. Bà Trần Thị Kim S2, sinh năm 1981. Địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện V, tỉnh Long An. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân huyện V. Địa chỉ: Đường C, khu phố M, thị trấn V, huyện V, tỉnh Long An. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn C1 - Chủ tịch. (Xin vắng mặt) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ủy ban nhân dân huyện V: Ông Trần Hữu H4 - Trưởng Phòng T6. (Xin vắng mặt)

- Những người làm chứng:

1. Bà Nguyễn Thị C2, sinh năm 1954. Địa chỉ: ẤP H, xã H, huyện T, tỉnh Long An. (Xin vắng mặt)

2. Ông Phan Văn P, sinh năm 1963. Địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện V, tỉnh Long An. (Xin vắng mặt)

3. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1962. Địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện V, tỉnh Long An. (Xin vắng mặt)

4. Ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1970. Địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện V, tỉnh Long An. (Xin vắng mặt)

5. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1962. Địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện V, tỉnh Long An. (Xin vắng mặt)

6. Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1962. Địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện V, tỉnh Long An. (Xin vắng mặt)

7. Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1955. Địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện V, tỉnh Long An. (Xin vắng mặt)

8. Ông Nguyễn Thanh D, sinh năm 1971. Địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện V, tỉnh Long An. (Xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 12/6/2024 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án các đồng nguyên đơn trình bày:

Các ông bà là con ruột của cụ Nguyễn Văn T4 sinh năm 1944 đã chết năm 1997 và cụ Âu Thị S3 sinh năm 1945 đã chết năm 1999. Cụ T4 và cụ S3 có 10 người con gồm Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn S, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thị S1, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Trọng H1, Nguyễn Thị Thu H2 và Nguyễn Văn H3. Cha mẹ của cụ T4, cụ S3 đều đã chết từ rất lâu, ngoài ra cụ T4, cụ S3 không có con nuôi.

Trước khi cụ S3 chết có để lại di chúc chia tài sản là quyền sử dụng đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, riêng phần đất 27.007m2 tại các thửa 949, 772, 792 tờ bản đồ số 10 tọa lạc tại ấp L, xã T, huyện V, tỉnh Long An giáp Campuchia chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không để lại di chúc và chưa chia. Do Nguyễn Văn H3 sống chung với cha mẹ nên sau khi cha mẹ chết H3 là người trực tiếp sử dụng, đến năm 2024 thì nhà nước có thu hồi đất để thực hiện công tác phân giới, cảm mốc biên giới giữa Việt Nam và Campuchia nên được hỗ trợ số tiền 2.066.035.000 đồng (76.500đồng/m2 trong đó 45.000 đồng/m2 là giá hỗ trợ về đất và 31.500 đồng/m2 là hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm). Lúc hòa giải trong gia đình ở nhà thì H3 có nói khai phá 6.000m2 (6 công) nên các ông bà đồng ý chia số tiền hỗ trợ trên diện tích 21.000m2 với giá 76.500đồng/m2 nhưng H3 không đồng ý mà chỉ đồng ý chia với giá 45.000đồng/m2. Sau đó, các ông bà gửi đơn ra UBND xã T nhưng không thành nên các ông bà làm đơn khởi kiện tại Tòa án.

Các ông bà khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn H3 phải chia cho các ông bà số tiền hỗ trợ tính trên diện tích 28.195m2 x 76.500đồng = 2.156.917.500 đồng/10, mỗi người được nhận 215.691.750 đồng.

Các ông bà thống nhất Quyết định số 1403/QĐ-UBND ngày 05/4/2024 của UBND huyện V về việc thu hồi đất của hộ ông Nguyễn Văn H3 để thực hiện phân giới cắm mốc trên thực địa biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và V Campuchia trên địa bàn huyện V, thống nhất Quyết định số 654/QĐ-UBND ngày 28/02/2024 của UBND huyện V về việc phê duyệt Phương án hỗ trợ cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bị ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống khi thực hiện phân giới cắm mốc trên thực địa biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và V Campuchia trên địa bàn huyện V. Các ông bà đồng ý để ông Nguyễn Văn H3 nhận tiền hỗ trợ về chia đều cho 10 anh chị em trong gia đình.

Tại phiên tòa, các đồng nguyên đơn cho rằng diện tích đất tại thửa 772, 792 (khu lúa mùa) từ cha mẹ còn sống nói là 1,8ha nhưng không có đo đạc cụ thể, trong quá trình canh tác đất ông H3 không có khai phá thêm nên khi nhà nước đo đạc và hỗ trợ tiền với diện tích 20.186m2 thì các ông bà yêu cầu chia số tiền hỗ trợ trên diện tích đất này. Còn diện tích đất tại thửa 949 (Bàu Ông Tý) diện tích 6.821m2 cũng có từ khi cha mẹ còn sống, ông H3 không có khai phá thêm nên các ông bà yêu cầu chia số tiền hỗ trợ trên diện tích đất này. Các đồng nguyên đơn cho rằng diện tích 27.007m² là do cha mẹ để lại nên tất cả các khoản hỗ trợ đều là của cha mẹ nên phải chia đều cho các anh chị em bao gồm cả ông H3. Các ông bà rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu chia di sản thừa kế đối với số tiền hỗ trợ là 90.882.000 đồng đối với thửa 588 diện tích 1.188m2, yêu cầu được chia di sản thừa kế là số tiền hỗ trợ tính trên diện tích 27.007m2 x 76.500đồng = 2.066.035.500 đồng/10 = 206.603.550 đồng, do ông Nguyễn Văn H3 cùng vợ là bà Trần Thị Kim S2 đã sử dụng số tiền này nên yêu cầu ông H3 và bà S2 chia cho mỗi người số tiền 206.603.550 đồng.

Bị đơn ông Nguyễn Văn H3 trình bày:

Ông thống nhất lời trình bày của các đồng nguyên đơn về mối quan hệ nhân thân do các đồng nguyên đơn trình bày. Ông đã nhận tiền hỗ trợ từ nhà nước số tiền 2.066.035.500 đồng đối với diện tích 27.007m2 tại các thửa 949, 772, 792 tờ bản đồ số 10 tọa lạc tại ấp L, xã T, huyện V, tỉnh Long An giáp Campuchia chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong diện tích 27.007m2 tại các thửa 949, 772, 792 nêu trên thì ông chỉ thống nhất đất do cha mẹ để lại diện tích 21.000m2 còn lại diện tích 6.007m2 là do trong quá trình sử dụng 03 thửa đất nêu trên ông tự khai phá ra thêm, cụ thể ở các thửa 772, 792 (khu lúa mùa) trước đây chỉ có diện tích 18.000m2ông đã khai phá thêm diện tích 2.186m2 nên mới được diện tích 20.186m2, còn thửa 949 (Bàu Ông T) trước đây chỉ có diện tích 3.000m2 ông đã khai phá thêm diện tích 3.821m2 nên mới được diện tích 6.821m2. Khi mẹ ông còn sống thì mẹ ông có nói cho ông các diện tích đất trên nên ông đã trực tiếp canh tác diện tích đất trên cùng các em trong gia đình khi còn sống chung với nhau, lần lượt các em ra ở riêng, người cuối cùng là năm 2004 thì một mình ông canh tác đến khi đất bị thu hồi. Đến khi nhà nước có chủ trương thu hồi, ông đã đi kê khai, đăng ký thì các anh em đều biết và cũng không có ai có ý kiến gì. Do mong muốn thỏa thuận tại nhà và tại UBND xã nên ông đồng ý chia số tiền được hỗ trợ trên diện tích 21.000m2 x 45.000 đồng = 945.000.000 đồng/10, tức mỗi người được chia 94.500.000 đồng. Nhưng các anh em không đồng ý mà kiện ra Tòa nên nay ông không đồng ý chia nữa, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Nếu yêu cầu ông chia bao nhiêu thì ông chia bấy nhiêu.

Tại phiên tòa, ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của các đồng nguyên đơn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị đơn bà Trần Thị Kim S2 trình bày: Bà là vợ của ông Nguyễn Văn H3, bà thống nhất lời trình bày của ông H3, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện V trình bày: Về việc thu hồi đất của hộ ông Nguyễn Văn H3 đối với diện tích 27.007m2 tại các thửa 949, 772, 792, (thửa 588, diện tích 1.188m2 không tranh chấp), thuộc tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp L, xã T, huyện V, tỉnh Long An là đúng với quy định pháp luật. Quá trình thu thập thông tin, kê khai đăng ký tại UBND xã và niêm yết phương án chi trả hỗ trợ tại trụ sở các ấp trên địa bàn xã T (thời gian niêm yết 15 ngày từ ngày 09/02/2024 đến ngày 23/02/2024), sau khi kết thúc thời gian niêm yết công khai các trường hợp đủ điều kiện, UBND huyện đã thực hiện chi trả đúng đối tượng trong danh sách niêm yết (có tài liệu kèm theo).

Những người làm chứng trình bày:

Bà Nguyễn Thị C2 trình bày: Bà là em ruột của cụ Nguyễn Văn T4 (anh thứ ba), các đương sự trên kêu bà bằng cô ruột. Bà biết lúc còn sống thì mẹ các cháu là cụ Âu Thị S3 có viết di chúc để lại tài sản cho các con, nhưng viết di chúc đối với các phần đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ S3 nói đất Miên (đất giáp Campuchia) không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì để 10 anh chị em làm chung chứ không cho riêng ai và cũng không viết di chúc vì nói không biết M lấy lại khi nào. Bà có biết nhà anh chị ở L, xã T, huyện V, bà chỉ nghe nói đất M nhưng bà không biết cụ thể vị trí đất ở đâu và diện tích đất bao nhiêu.

Các ông Phan Văn P, Lê Văn Đ, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Thanh D trình bày: Các ông có đất giáp và gần thửa 772, 792 do ông Nguyễn Văn H3 canh tác, các ông biết nguồn gốc diện tích đất tại thửa 772, 792 là của cụ Nguyễn Văn T4 và cụ Âu Thị S3 để lại, sau khi hai cụ chết thì H3 là người trực tiếp canh tác đất cho đến khi bị nhà nước thu hồi. Các ông biết diện tích hai thửa trên khoảng 1,8ha, trong quá trình sử dụng thì H3 có khai phá thêm nhưng bao nhiêu thì các ông không biết.

Các ông Nguyễn Văn H3, ông Nguyễn Văn L trình bày: Các ông có đất giáp và gần thửa 949 do ông Nguyễn Văn H3 canh tác, các ông biết nguồn gốc diện tích đất tại thửa 949 là của cụ Nguyễn Văn T4 và cụ Âu Thị S3 để lại, sau khi hai cụ chết thì H3 là người trực tiếp canh tác đất cho đến khi bị nhà nước thu hồi. Các ông biết trong quá trình sử dụng thì H3 có thuê dân Campuchia khai phá thêm nhưng bao nhiêu thì các ông không biết.

Kiểm sát viên phát biểu:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Tất cả đều tuân theo pháp luật tố tụng.

Về việc giải quyết vụ án:

Các đương sự thống nhất Quyết định số 1403/QĐ-UBND ngày 05/4/2024 và Quyết định số 654/QĐ-UBND ngày 28/02/2024 của U nên đề nghị làm căn cứ xem xét giải quyết trong vụ án.

Xét về nguồn gốc đất 27.007m² tại các thửa 949, 772, 792 tờ bản đồ số 10: Nguyên đơn, bị đơn trình bày các ông bà là con của ông Nguyễn Văn T4 đã chết năm 1997 và bà Âu Thị S3 đã chết năm 1999. Trước khi cha mẹ chết có để lại di chúc chia tài sản là quyền sử dụng đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, riêng phần đất 27.007m² tại các thửa 949, 772, 792 tờ bản đồ số 10 tọa lạc tại ấp L, xã T Trung giáp Campuchia chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không để lại di chúc và chưa chia. Do ông H3 sống chung với cha mẹ nên ông H3 là người trực tiếp sử dụng từ khi cha mẹ mất, đến năm 2024 thì nhà nước có thu hồi đất theo Quyết định số 1403 ngày 05/4/2024 của UBND huyện V để thực hiện công tác phân giới, cắm mốc biên giới giữa Việt Nam và Campuchia nên được đền bù số tiền 2.066.035.000 đồng (76.500đồng/m²), ông H3 đã nhận số tiền này.

Về yêu cầu chia thừa kế là tiền bồi thường diện tích đất bị thu hồi: Nhận thấy các đương sự thống nhất nguồn gốc đất thửa 949, 772, 792 là của cha mẹ (bà S3, ông T4). Mặc dù ông H3 trình bày cha mẹ ông khai phá diện tích 2,1ha; còn lại hơn 6 công là do ông khai phá thêm. Ông cũng cho rằng khi còn sống mẹ ông nói cho ông toàn bộ diện tích đất trên nhưng ông H3 không cung cấp chứng cứ chứng minh có việc mẹ cho ông, những người làm chứng do ông H3 cung cấp trình bày có thấy ông H3 canh tác, sản xuất, bạt đê lấp hố tại các diện tích đất thửa 949, 772, 792 nhưng không rõ việc ông H3 có khai phá thêm được bao nhiêu nên không có căn cứ cho rằng ông H3 đã khai phá hơn 06 công đất. Do đó, các nguyên đơn yêu cầu chia di sản thừa kế là số tiền bồi thường đất bị thu hồi với diện tích 27.007m² là có căn cứ. Ông H3 đã sử dụng số tiền này vào việc riêng của gia đình ông, nên phải có nghĩa vụ trả cho các đồng nguyên đơn. Theo quyết định số 654/QĐ-UBND ngày 28/02/2024 của U thì giá hỗ trợ về đất bị thu hồi là 45.000 đồng/m². Ông T4, bà S3 có 10 người con chung và khi ông bà chết không để lại di chúc nên số tiền bồi thường hỗ trợ về đất sẽ chia đều cho 10 người.

Về yêu cầu chia thừa kế là số tiền bồi thường hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm là 31.500 đồng/m². Mặc dù nguồn gốc đất là của ông T4, bà S3 nhưng ông H3 đã trực tiếp quản lý, canh tác, cải tạo diện tích đất từ khi cha mẹ còn sống, đến khi cha mẹ chết. Tại thời điểm nhà nước thu hồi, thì các ông bà T, H, C, S, T1, S1, T2, H1, H2 đã sống riêng, mỗi người cũng đã được hưởng thừa kế theo di chúc do cha mẹ là ông T4, bà S3 để lại. Ông H3 là người đi kê khai, đăng ký và thực hiện các thủ tục để được nhận tiền bồi thường, hỗ trợ. Các nguyên đơn trình bày khi cha mẹ chết thì anh chị em thống nhất giao cho ông H3 quản lý, canh tác nhưng xét đây chỉ là lời trình bày của một bên, các ông bà không cung cấp chứng cứ chứng minh có sự thỏa thuận thống nhất giữa các anh em trong gia đình về việc giao cho ông H3 quản lý, canh tác. Mặc khác, tại quyết định số 1403 ngày 05/4/2024 của UBND huyện V cũng như các thủ tục trong thu hồi, bồi thường, hỗ trợ đều quyết định và thông báo đến hộ ông Nguyễn Văn H3, không phải là hộ của ông Nguyễn Văn T4, bà Âu Thị S3 nên không có căn cứ buộc ông H3, bà S2 trả cho các nguyên đơn số tiền bồi thường hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm là 31.500 đồng/m² trên diện tích đất 27.007m².

Từ phân tích trên, căn cứ Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39, 228, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, các Điều 609, 610, 611, 612, 623, 650, 651, 660 Bộ luật Dân sự, các Điều 3, 84, 167 Luật Đất đai; Nghị định số 47 ngày 15/5/2024 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất. Điều 14 Quyết định số 09 ngày 20/3/2018 của UBND tỉnh L về việc ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Long An và Quyết định số 40 ngày 24/9/2020 của UBND tỉnh L về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Long An kèm theo Quyết định số 09/2018/QĐ-UBND ngày 20/3/2018; đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn về tranh chấp chia thừa kế là tiền bồi thường; Buộc ông H3, bà S2 trả cho các đồng nguyên đơn mỗi người 1/10 số tiền bồi thường giá trị của 27.007m² đất. Không chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn về việc buộc ông H3, bà S2 chia thừa kế đối với tiền bồi thường hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm. Đình chỉ 1 phần yêu cầu của các đồng nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế đối với thửa 588.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Thẩm quyền giải quyết vụ án: Các đồng nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế là tiền hỗ trợ do đất bị thu hồi. Diện tích đất bị thu hồi và bị đơn có nơi cư trú tại ấp L, xã T, huyện V, tỉnh Long An. nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng theo quy định tại khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thời hiệu khởi kiện: Các đương sự không ai yêu cầu áp dụng thời hiệu nên không đề cập.

[3] Về việc vắng mặt của những người làm chứng: Các ông (bà) Nguyễn Thị C2, Phan Văn P, Lê Văn Đ, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Thanh D, ông Nguyễn Văn H3, ông Nguyễn Văn L đều thể hiện ý kiến xin vắng mặt nên căn cứ Điều 229 Bộ luật Tố tụng Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.

[4] Về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của các đồng nguyên đơn gồm các ông (bà) Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn S, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thị S1, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Trọng H1, Nguyễn Thị Thu H2: Tại phiên tòa các đồng nguyên đơn rút yêu cầu chia di sản thừa kế là số tiền hỗ trợ đối với số tiền 90.882.000 đồng đối với thửa 588 diện tích 1.188m², xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của các đồng nguyên đơn là tự nguyện, nên đình chỉ xét xử yêu cầu này của các đồng nguyên đơn theo Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Về nội dung khởi kiện:

[5.1] Căn cứ lời khai thống nhất của các đương sự và tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định cụ Nguyễn Văn T4 và cụ Âu Thị S3 là vợ chồng đều đã chết, có hàng thừa kế thứ nhất là 10 người con (gồm: các ông (bà) Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn S, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thị S1, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Trọng H1, Nguyễn Thị Thu H2 và Nguyễn Văn H3), cụ T4 và cụ S3 có khối tài sản chung để lại là thửa đất 772, 792, 949 và đã bị thu hồi theo Quyết định số 1403/QĐ-UBND ngày 05/4/2024 của UBND huyện V về việc thu hồi đất để thực hiện phân giới cắm mốc trên thực địa biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và V Campuchia trên địa bàn huyện V. Cụ Nguyễn Văn T4 và cụ Âu Thị S3 không có khoản nợ nào.

[5.2] Các đồng nguyên đơn xác định thửa đất 772, 792, 949 có diện tích 27.007m2 là di sản thừa kế do cụ Nguyễn Văn T4 và cụ Âu Thị S3 để lại chưa chia. Bị đơn ông Nguyễn Văn H3 chỉ thống nhất thửa đất 772, 792, 949 có diện tích 21.000m2là di sản thừa kế do cụ Nguyễn Văn T4 và cụ Âu Thị S3 để lại, còn 6.0007m2 còn lại là do trong quá trình sử dụng tại các thửa đất 772, 792, 949 hơn 20 năm ông H3 đã khai phá thêm 6.007m2. Ông Nguyễn Văn H3 cho rằng khi còn sống cụ S3 có nói cho ông tất cả các thửa đất 772, 792, 949 nhưng ông H3 không đưa ra chứng cứ chứng minh có việc cụ S3 tặng cho ông 03 thửa đất trên trong khi các đồng nguyên đơn không thừa nhận, hơn nữa các thửa đất nêu trên được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân giữa cụ T4 và cụ S3 nên là tài sản chung giữa cụ T4 và cụ S3. Cụ T4 chết trước cụ S3 nên một mình cụ S3 cũng không có quyền định đoạt tất cả các thửa đất nêu trên. Nên lời trình bày của ông H3 về việc cụ S3 cho ông tất cả các thửa 772, 792, 949 nêu trên là không có căn cứ.

[5.3] Các đương sự thống nhất Quyết định số 1403/QĐ-UBND ngày 05/4/2024 của UBND huyện V về việc thu hồi đất của hộ ông Nguyễn Văn H3 để thực hiện phân giới cắm mốc trên thực địa biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và V Campuchia trên địa bàn huyện V, thống nhất Quyết định số 654/QĐ-UBND ngày 28/02/2024 của UBND huyện V về việc phê duyệt Phương án hỗ trợ cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bị ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống khi thực hiện phân giới cắm mốc trên thực địa biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và V Campuchia trên địa bàn huyện V. Nên các đương sự không có ý kiến hay khiếu nại gì về hai quyết định nêu trên nên Hội đồng xét xử căn cứ vào hai quyết này làm căn cứ giải quyết vụ án.

[5.4] Các đương sự thống nhất thửa 772, 792, 949 gồm 02 khu vực, cụ thể: Thửa 772, 792 gọi là khu lúa mùa, thửa 949 gọi là Bàu Ông Tỷ, từ khi cụ T4 và cụ S3 sử dụng, ông H3 sử dụng đến khi nhà nước thu hồi không có đo đạc cụ thể. Xét các chứng cứ do các đương sự cung cấp về xác định diện tích đất cụ thể do cụ Nguyễn Văn T4 và cụ Âu Thị S3 để lại các thửa 772, 792, 949.

[5.4.1] Tại đơn yêu cầu giải quyết ngày 16/5/2024 gửi UBND xã T của các đồng nguyên đơn do bị đơn cung cấp thể hiện nội dung: “Sau khi qua đời cha mẹ chúng tôi có để lại phần đất tổng diện tích 2,2ha (trong đó 1,9ha đất lúa mùa và 03 công ở bàu Ông T5), phần đất này vì nằm cặp biên giới Campuchia nên không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cha mẹ chúng tôi không có để lại di chúc phần đất trên. Phần đất này lúc còn sống cha mẹ tôi nói cho con Nguyễn Văn C 01 công, còn lại 2,1ha cho các con mượn mỗi đứa làm 01 năm, nhưng sau khi cha mẹ tôi mất, anh em chúng tôi mỗi người một nơi nên tạm thời để lại cho anh Nguyễn Văn H3 Hiện canh tác sản xuất. Nay phần đất trên được nhà nước thu hồi và đền bù với số tiền là 765.000.000 đồng/1ha (Trong đó đền bù đất 450.000.000đ/1ha, hỗ trợ người canh tác 315.000.000đ/1ha). Tổng số tiền đền bù 2,1 ha đất trên là 1.606.000.000 đồng. Anh Nguyễn Văn H3 đã thay mặt chúng tôi nhận số tiền đền bù trên tại UBND xã. Nhưng hiện nay sau khi về nhà anh H3 không chia đều tổng số tiền trên cho chúng tôi mà chỉ chia trị giá 450.00.000đ/1ha x 2,1ha = 945.000.000 đồng, mỗi người được hưởng 94.500.000 đồng, nhưng chúng tôi không đồng ý. Nay chúng tôi kính mong UBND xã T xem xét giải quyết buộc ông Nguyễn Văn H3 phải chia đều số tiền 1.606.000.000 đồng cho anh em chúng tôi (luôn ông H3 là 10 người), mỗi người được hưởng số tiền 160.600.000 đồng (Một trăm sáu mươi triệu, sáu trăm ngàn đồng), vì tài sản trên là tài sản thừa kế của cha mẹ để lại và anh em chúng tôi đồng sở hữu”. Nội dung này đã thể hiện nội dung tại thời điểm tháng 5/2024 các đồng nguyên đơn cho rằng diện tích đất do cụ T4 và cụ S3 để lại chỉ có 2,1ha.

[5.4.2] Tại đơn xin xác nhận ngày 13/5/2024 gửi Ban Q của các đồng nguyên đơn do bị đơn cung cấp thể hiện nội dung: “Nay tôi kính đơn này đến Ban quản lý ấp Láng Đao - UBND xã - Ban địa chính xã T xác nhận giúp tôi nội dung như sau: Cha ruột tôi là ông Nguyễn Văn T4 và mẹ là bà Âu Thị S3 trước đây có khai phá phần đất lúa mùa diện tích 1,9 ha và 03 công tại bàu Ông T5, phần đất này giáp với biên giới Campuchia, nên không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, từ khi khai phá cha mẹ tôi luôn canh tác và cải tạo đất đến năm 1999 cha mẹ tôi qua đời, hiện nay phần đất trên vẫn tiếp tục để lại cho anh em trong gia đình tôi canh tác. Kính mong Ban quản lý ấp Láng Đao - UBND xã - Ban địa chính xã T xác nhận giúp tôi cha tôi là ông Nguyễn Văn T4 và mẹ là bà Âu Thị S3 có phần đất tổng diện tích 2,1 ha, tại thửa số… tờ bản đồ... giáp với biên giới Campuchia hiện nay UBND xã đang quản lý là sự thật”. Nội dung này đã thể hiện nội dung tại thời điểm tháng 5/2024 các đồng nguyên đơn cho rằng diện tích đất do cụ T4 và cụ S3 để lại chỉ có 2,1ha.

[5.4.3] Những người làm chứng có đất giáp và gần các thửa đất bị thu hồi nêu trên xác định các ông biết nguồn gốc đất là của cụ Nguyễn Văn T4 và cụ Âu Thị S3 để lại, sau khi hai cụ chết thì ông H3 là người trực tiếp canh tác đất cho đến khi bị nhà nước thu hồi, các ông biết trong quá trình sử dụng thì ông H3 có khai phá thêm nhưng bao nhiêu thì các ông không biết.

[5.4.4] Đoạn ghi âm do phía bị đơn cung cấp cuộc nói chuyện ngày 12/5/2024 (ngày 05/4/2024 âm lịch) giữa các đồng nguyên đơn và bị đơn, nội dung thể hiện hai bên có đề cập đến việc trong quá trình sử dụng đất ông Nguyễn Văn H3 có khai phá thêm nhưng chưa cụ thể.

[5.4.5] Tại bản tổng hợp danh sách kiểm kê diện tích đất Việt Nam quản lý quá sang Campuchia ngày 16/4/2021 do ông H3 cung cấp ông H3 thừa nhận là do ông kê khai 18.000m2 do ông biết khu lúa mùa tức thửa 772, 792 chỉ có diện tích 18.000m2. Nên khi được nhà nước bồi thường trên diện tích 20.186m2 thì diện tích chênh lệch so với diện tích 18.000m2 là diện tích 2.186m2 không đồng nghĩa với việc ông H3 là người khai phá ra thêm diện tích 2.186m2. Tại phiên tòa các đồng nguyên đơn cũng trình bày thửa 772, 792 là từ 1,8 ha đến 1,9 ha mà không đo đạc nền không biết cụ thể và ông H3 cũng thừa nhận theo ông khu lúa mùa chỉ có diện tích 18.000m2.

[5.4.6] Thửa đất 772, 792, 949 do ông Nguyễn Văn H3 trực tiếp canh tác trực tiếp canh tác sau khi cụ T4 và cụ S3 chết và các anh chị em có gia đình ở riêng, người cuối cùng ở riêng là năm 2004, ông H3 đã trực tiếp canh tác diện tích đất này đã 20 năm. Các đồng nguyên đơn không canh tác nền không biết cụ thể diện tích đất tại các thửa nêu trên là bao nhiêu nên cho rằng khi thỏa thuận ở nhà mới yêu cầu chia 2,1ha. Việc sử dụng đất trải qua thời gian dài mà không có đo đạc cụ thể được tất cả các đương sự thống nhất. Từ những lập luận tại đoạn [5.4.1] đến đoạn [5.4.5] nêu trên có căn cứ khẳng định diện tích đất tại thửa 772, 792, 949 do cụ T4 và cụ S3 để lại có một phần diện tích ông H3 khai phá thêm là phù hợp với đặc thù địa phương vùng đất nông nghiệp giáp biên giới nên diện tích ông H3 khai phá thêm trong quá trình canh tác lúa được tính trên diện tích 6.007m2/2 = 3.003,5m2 là phù hợp.

[5.4.7] Xác diện tích đất tại thửa 772, 792, 949 do cụ T4 và cụ S3 để lại có diện tích 24.003,5m2 (27.007m 2 - 3.003,5m2). Các đương sự thống nhất không tranh chấp di sản thừa kế là diện tích đất tại các thửa 772, 792, 949 nêu trên vì đất đã bị nhà nước thu hồi mà xác định di sản thừa kế là số tiền hỗ trợ, ông Nguyễn Văn H3 và bà Trần Thị Kim S2 đã nhận được và các đồng nguyên đơn yêu cầu chia số tiền này nên xác định di sản thừa kế là số tiền được hỗ trợ.

[5.5] Xét Quyết định số 654/QĐ-UBND ngày 28/02/2024 của UBND huyện V về việc phê duyệt Phương án hỗ trợ cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bị ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống khi thực hiện phân giới cắm mốc trên thực địa biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và V Campuchia trên địa bàn huyện V được các đương sự thống nhất.

Tại mục 2.4 Điều 1 nêu “Hỗ trợ về đất:

- Giá hỗ trợ về đất: Người sử dụng đất theo quy định tại Điều 74 của Luật Đất đai năm 2013 khi Nhà nước thu hồi đất. Theo Quyết định 27/2020/QĐ-UBND ngày 02/7/2020 của UBND tỉnh L về việc sửa đổi, bổ sung Bảng giá các loại đất định kỳ 5 năm (2020 - 2024) trên địa bàn tỉnh Long An ban hành kèm theo Quyết định 74/2019/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND tỉnh thì giá đất nông nghiệp cặp Đường Tuần tra biên giới là 45.000đ/m².

- Hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm (hỗ trợ đất lúa): Hộ gia đình đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi bị Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp đủ điều kiện bồi thường, thì ngoài việc được đền bù giá đất nông nghiệp theo quy định còn được hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm là 0,7 lần giá đất nông nghiệp theo bảng giá đất quy định (Theo Khoản 4 Điều 1 của Quyết định số 40/2020/QĐ-UBND ngày 24/9/2020 của UBND tỉnh L).

Giá trị hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm: 45.000 đồng/m² x 0,7 = 31.500 đồng/m²”.

[5.5.1] Đối với “Giá hỗ trợ về đất” với đơn giá 45.000 đồng/m²: Xác diện tích đất tại thửa 772, 792, 949 do cụ T4 và cụ S3 để lại có diện tích 24.003,5m² nên được hỗ trợ về đất với số tiền 1.080.157.500 đồng (24.003,5 m² x 45.000 đồng/m²) nên xác định số tiền 1.080.157.500 đồng là di sản thừa kế do cụ T4 và cụ S3 để lại, do cụ T4 và cụ S3 không để lại di chúc nên được chia theo quy định của pháp luật mỗi người thuộc hàng thừa kế thứ nhất được một kỷ phần thừa kế bằng nhau. Tuy nhiên, xét thấy ông Nguyễn Văn H3 là người trực tiếp quản lý đất đã hơn 20 năm nên phải tính công sức duy trì, bảo quản đất nên cần chia cho ông Nguyễn Văn H3 thêm 01 kỷ phần thừa kế là phù hợp theo Điều 658 Bộ luật Dân sự. Cụ thể: 1.080.157.500 đồng/11 = 98.196.136 đồng, các đồng nguyên đơn mỗi người được chia 01 kỷ phần thừa kế với số tiền 98.196.136 đồng, riêng ông Nguyễn Văn H3 được chia 02 kỷ phần thừa kế với số tiền 196.392.272 đồng. Ông Nguyễn Văn H3 và bà Trần Thị Kim S2 đã nhận và sử dụng số tiền trên nên phải có nghĩa vụ giao lại cho các đồng nguyên đơn số tiền được chia.

[5.5.2] Đối với “Hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm” với đơn giá 31.500 đồng/m²: Xét, diện tích đất 24.003,5m² tại thửa 772, 792, 949 do cụ T4 và cụ S3 để lại chưa chia nhưng ông Nguyễn Văn H3 là người trực tiếp canh tác, sử dụng từ năm 2004 đến khi bị thu hồi mà một trong các đồng nguyên đơn không ai cùng trực tiếp canh tác, sử dụng. Khi có chủ trương thu hồi đất ông H3 là người trực tiếp thực hiện các thủ tục để được nhận tiền đền bù mà các đồng nguyên đơn không ai phản đối. Trong lần thu hồi đất và hỗ trợ lần này thì có nguyên đơn là ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị T2 cũng có quyền sử dụng đất bị thu hồi và được hỗ trợ. Quyết định số 654/QĐ-UBND ngày 28/02/2024 của UBND huyện V đã nêu rõ “Hộ gia đình đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi bị Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp”. Tại thời điểm thu hồi các đồng nguyên đơn đã sống riêng và đều đã được nhận di sản thừa kế là quyền sử dụng đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cụ T4 và cụ S3 để lại. Trước khi các thửa đất 772, 792, 949 bị thu hồi thì chưa phát sinh tranh chấp di sản thừa kế giữa các đương sự. Khi thửa đất 772, 792, 949 bị thu hồi ông Nguyễn Văn H3 là người không còn canh tác trên diện tích đất này nên có căn cứ khẳng định đối tượng được hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm khi thửa đất 772, 792, 949 bị thu hồi là ông Nguyễn Văn H3. Nên yêu cầu khởi kiện của các đồng nguyên đơn về việc chia số tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm với đơn giá 31.500 đồng/m² là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

[5.6] Từ những lập luận nêu trên có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế là số tiền hỗ trợ về đất của các đồng nguyên đơn đối với số tiền 1.080.157.500 đồng (24.003,5m² x 45.000 đồng), không chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế là số tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm của các đồng nguyên đơn đối với số tiền 756.110.250 đồng (24.003,5m² x 31.500 đồng), không chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế là số tiền hỗ trợ về đất và hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm của các đồng nguyên đơn đối với số tiền 229.763.750 đồng (3.003,5m² x 76.500 đồng), chấp nhận một phần đề nghị của Viện kiểm sát. Đối với các diện tích đất khác cụ Nguyễn Văn T4 và cụ Âu Thị S3 không ai tranh chấp nên Tòa án không xem xét.

[6] Về án phí: Các đồng nguyên đơn phải chịu án phí trên số tiền được chia (98.196.136 đồng x 5%) = 4.910.000 đồng và 300.000 đồng tiền án phí do bị bác yêu cầu vì không phải là tài sản của các đồng nguyên đơn. Bị đơn ông Nguyễn Văn H3 phải chịu án phí trên số tiền được chia (196.392.272 đồng x 5%) = 9.820.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 92, 147, 228, 229, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 357, 468, 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 658, 660 Bộ luật Dân sự 2015; Căn cứ Điều 74, 77, 83, 170 Luật Đất đai 2013; Nghị định 47/2014/NQ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất; Căn cứ các Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xác định số tiền 1.080.157.500 đồng (một tỷ không trăm tám mươi triệu một trăm năm mươi bảy nghìn năm trăm đồng) được hỗ trợ khi bị thu hồi đất là di sản thừa kế do cụ Nguyễn Văn T4 và cụ Âu Thị S3 để lại.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của các đồng nguyên đơn gồm các ông (bà) Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn S, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thị S1, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Trọng H1, Nguyễn Thị Thu H2 về việc tranh chấp di sản thừa kế đối với ông Nguyễn Văn H3, bà Trần Thị Kim S2.

3. Các ông (bà) Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn S, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thị S1, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Trọng H1, Nguyễn Thị Thu H2 được chia di sản thừa kế mỗi người với số tiền 98.196.136 đồng (chín mươi tám triệu một trăm chín mươi sáu nghìn một trăm ba mươi sáu đồng).

4. Buộc ông Nguyễn Văn H3, bà Trần Thị Kim S2 có nghĩa vụ liên đới trả cho các (ông) bà Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn S, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thị S1, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Trọng H1, Nguyễn Thị Thu H2 mỗi người số tiền 98.196.136 đồng (chín mươi tám triệu một trăm chín mươi sáu nghìn một trăm ba mươi sáu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.

5. Ông Nguyễn Văn H3 được chia di sản thừa kế với số tiền 196.392.272 đồng (một trăm chín mươi sáu nghìn ba trăm chín mươi hai nghìn hai trăm bảy mươi hai đồng)

6. Bác yêu cầu khởi kiện của các đồng nguyên đơn gồm các ông (bà) Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn S, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thị S1, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Trọng H1, Nguyễn Thị Thu H2 về việc yêu cầu chia di sản thừa kế là số tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm với số tiền 756.110.250 đồng (bảy trăm năm mươi sáu triệu một trăm mười nghìn hai trăm năm mươi đồng).

7. Bác yêu cầu khởi kiện của các đồng nguyên đơn gồm các ông (bà) Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn S, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thị S1, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Trọng H1, Nguyễn Thị Thu H2 về việc yêu cầu chia di sản thừa kế là số tiền hỗ trợ về đất và số tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm với số tiền 229.763.750 đồng (hai trăm hai mươi chín triệu bảy trăm sáu mươi ba nghìn bảy trăm năm mươi đồng).

8. Về án phí:

8.1. Các đồng nguyên đơn gồm các ông (bà) Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn S, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thị S1, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Trọng H1, Nguyễn Thị Thu H2 mỗi người phải chịu 5.210.000 đồng (năm triệu hai trăm mười nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước. Chuyển 5.210.000 đồng (năm triệu hai trăm mười nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí các đồng nguyên đơn đã nộp sang tiền án phí.

Hoàn lại cho Nguyễn Văn T 182.000 đồng (một trăm tám mươi hai nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Vĩnh Hưng ngày 17/6/2024 theo biên lai thu tiền số 0002659.

Hoàn lại cho Nguyễn Thị H 182.000 đồng (một trăm tám mươi hai nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Vĩnh Hưng ngày 17/6/2024 theo biên lai thu tiền số 0002660.

Hoàn lại cho Nguyễn Văn C 182.000 đồng (một trăm tám mươi hai nghìn đồng)tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Vĩnh Hưng ngày 17/6/2024 theo biên lai thu tiền số 0002661.

Hoàn lại cho Nguyễn Văn S 182.000 đồng (một trăm tám mươi hai nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Vĩnh Hưng ngày 17/6/2024 theo biên lai thu tiền số 0002662.

Hoàn lại cho Nguyễn Thanh T1 182.000 đồng (một trăm tám mươi hai nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Vĩnh Hưng ngày 17/6/2024 theo biên lai thu tiền số 0002663.

Hoàn lại cho Nguyễn Thị S1 182.000 đồng (một trăm tám mươi hai nghìn đồng)tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Vĩnh Hưng ngày 17/6/2024 theo biên lai thu tiền số 0002664.

Hoàn lại cho Nguyễn Thị T2 182.000 đồng (một trăm tám mươi hai nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Vĩnh Hưng ngày 17/6/2024 theo biên lai thu tiền số 0002665.

Hoàn lại cho Nguyễn Trọng H1 182.000 đồng (một trăm tám mươi hai nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Vĩnh Hưng ngày 17/6/2024 theo biên lai thu tiền số 0002666.

Hoàn lại cho Nguyễn Thị Thu H2 182.000 đồng (một trăm tám mươi hai nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Vĩnh Hưng ngày 17/6/2024 theo biên lai thu tiền số 0002667.

7.2. Ông Nguyễn Văn H3 phải chịu 9.820.000 đồng (chín triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước Báo cho đương sự được biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

122
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp di sản thừa kế số 49/2024/DS-ST

Số hiệu:49/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vĩnh Hưng - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:04/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về