TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
BẢN ÁN 145/2026/DS-ST NGÀY 26/06/2026 VỀ TRANH CHẤP CHIA THỪA KẾ
Ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 16/2024/TLST-DS ngày 18 tháng 3 năm 2024 việc: “Tranh chấp chia thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1011/2026/QĐXXST- DS ngày 14 tháng 5 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1027/2026/QĐST-DS ngày 08 tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: ông Nguyễn Tiến L, sinh năm 1950. Có mặt
Địa chỉ: khối phố A, phường T, thành phố Đà Nẵng (khối phố I, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam cũ).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: bà Hường Thị Bích D và bà Ngô Thị D1; Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Đ. Có mặt
2.Bị đơn: bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1969. Vắng mặt
Địa chỉ: thôn G, xã Q, thành phố Đà Nẵng (thôn G, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam cũ).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: ông Ngô Thế B, sinh năm 1987. Có mặt
Địa chỉ: thôn T, xã Q, thành phố Đà Nẵng (thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam cũ).
3.Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-Nguyễn Thị L1, sinh năm 1945. Vắng mặt
Địa chỉ: khối phố L, xã L, tỉnh Lâm Đồng (thuộc khối phố L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận cũ).
-Ông Nguyễn M, sinh năm 1965. Vắng mặt
Địa chỉ: thôn C, xã K, tỉnh Gia Lai (thuộc thôn C, xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai cũ).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị L1 và ông Nguyễn M: ông
Nguyễn Tiến L, sinh năm 1960. Có mặt
-Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1949. Có mặt
-Chị Nguyễn Đỗ Kiều O, sinh năm 2003. Vắng mặt
-Cháu Nguyễn Hữu P1, sinh năm 2009. Vắng mặt
-Cháu Nguyễn Đỗ Thúy N, sinh năm 2007. Vắng mặt
Người đại diện hợp pháp cho cháu P1 có bà Đỗ Thị H, sinh năm 1977. Vắng mặt
Cùng địa chỉ: thôn G, xã Q, thành phố Đà Nẵng (thuộc thôn G, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam cũ).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề các ngày 30/01/2024, 04/3/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn – ông Nguyễn Tiến L và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: bà Hường Thị Bích D và bà Ngô Thị D1 trình bày: ba mẹ của ông L là ông Nguyễn Tiến Đ và bà Giang Thị N1 tạo lập được ngôi nhà và sinh sống tại diện tích đất thuộc thửa số 946, tờ bản đồ số 9, diện tích 2.491 m2. Trên đất có 01 ngôi nhà thờ tộc Nguyễn và vườn cây. Ba mẹ của ông sinh được 05 người con gồm: Nguyễn H1, Nguyễn Thị L1, Nguyễn V, Nguyễn Tiến L và Nguyễn M. Ông Nguyễn H1 có vợ là bà Huỳnh Thị L2. Ông H1 và bà L2 có hai người con là Nguyễn H2 và Nguyễn Thị P. Ông Nguyễn Hồng C năm 1970. Anh Nguyễn Hoàng C1 năm 2015. Anh H2 có vợ là Đỗ Thị H và 03 người con tên Nguyễn Đỗ Kiều O, Nguyễn Hữu P1 và Nguyễn Đỗ Thúy N. Ông Đ chết năm 1965, bà N1 chết năm 2008. Ông Đ và bà N1 chết không để lại di chúc. Bà L2 chết năm 2023.
Bà Huỳnh Thị L2 là con dâu trưởng sinh sống trên thửa đất thửa số 946, tờ bản đồ số 9. Ngày 20/12/1996, hộ bà Huỳnh Thị L2 được Ủy ban nhân dân huyện Q cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 938675. Tại bản án số 72/2017/HC- ST ngày 12/9/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam và bản án số 22/2018/HC-PT ngày 18/01/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên. Ngày 20/8/2024, Ủy ban nhân dân huyện Q có Quyết định số 1207/QĐ – UBND về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 938675 đối với thửa số 946, tờ bản đồ số 9 tại xã Q, huyện Q. Nay ông L yêu cầu chia thừa kế toàn bộ di sản trên cho các đồng thừa kế.
-Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, bị đơn – bà Nguyễn Thị P và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: ông Ngô Thế B trình bày: thửa số 946, tờ bản đồ số 9 tại xã Q, huyện Q do bà Huỳnh Thị L2 trực tiếp quản lý sử dụng từ trước năm 1975 đến nay. Nay ông Nguyễn Tiến L khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế nêu trên vì cho rằng đây là đất của cha mẹ ông để lại. Tuy nhiên về hiện trạng thực tế chứng minh rằng thửa đất 946, tờ bản đồ số 9, diện tích 2.491m² và tài sản gắn liền trên đất nêu trên là do cha mẹ bà là người trực tiếp bỏ ra biết bao công sức, thời gian, tiền bạc để tái tạo, gìn giữ, quản lý, tu bổ đối với di sản này. Đây cũng là tài sản duy nhất mà gia đình bà dùng để làm nhà ở, sinh sống và thờ cúng ông bà tổ tiên xuyên suốt theo cùng với thời gian từ trước năm 1975. Đến khi cha mất, mẹ của bà và bà vẫn tiếp tục trụ bám lại tại thửa đất này để sinh sống, bảo quản và chăm sóc lo toan thờ cúng ông bà tổ tiên cho đến nay. Từ những công sức, tâm huyết, tiền bạc, lương tâm mà hơn hai thế hệ của gia đình bà đã duy trì, gìn giữ, bảo tồn được tài sản, tôn tạo di sản nêu trên, bà yêu cầu Tòa án chia cho bà được nhận một phần di sản thừa kế của cha mẹ bà là 400 m² đất trong tổng diện tích 2.491 m² tại thửa đất số 946, tờ bản đồ số 9 với tứ cận như sau: thửa đất được nhìn từ đường ĐT 611 thì mặt trước giáp với đường ĐT 611, phía bên phải giáp với đường bê tông dẫn vào Xóm B; phía sau giáp với đất của bà Nguyễn Thị T để gia đình tôi tiếp tục có nơi để sinh sống và thờ cúng ông bà cha mẹ đúng với đạo đức truyền thống và đúng với quy định của pháp luật.
-Tại đơn xin từ chối nhận di sản, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Nguyễn Thị L1 và ông Nguyễn V trình bày: ông V và bà L1 thống nhất nội dung trình bày của nguyên đơn về thông tin những người thuộc hàng thừa kế và tài sản thừa kế. Bà L1 và ông V từ chối nhận phần di sản thừa kế của ông bà được chia theo pháp luật và giao kỷ phần đó cho ông L.
Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ: nguyên đơn cung cấp: 01 bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; 01 bản phô tô đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất; 01 bản phô tô Giấy chứng tử; 02 bản phô tô Giấy chứng tử; 03 bản chính đơn xin xác nhận; 02 bản phô tô chứng minh nhân dân; 03 bản Thông báo số định danh cá nhân; 02 Giấy ủy quyền; 02 bản sao bản án; 01 bản sao Quyết định số 68/QĐ- UBND ngày 22/6/2018; 01 Quyết định buộc thi hành án; 01 bản phô tô Giấy chứng nhận thương binh. Bị đơn cung cấp 01 hồ sơ đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, 01 đơn trình bày.
Quá trình giải quyết, Tòa án đã thu thập những tài liệu, chứng cứ sau: công văn số 566/TNMT- ĐĐ ngày 22/10/2024 của Phòng Tài nguyên môi trường huyện Q; Quyết định số 1207/QĐ – UBND ngày 20/8/2024 của Ủy ban nhân dân huyện Q về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 938675 đối với thửa số 946, tờ bản đồ số 9 tại xã Q, huyện Q; Công văn số 08/BC-UBND ngày 23/01/2025 của Ủy ban nhân dân xã Q; Phiếu đo đạc chỉnh lý thửa đất số 05 – 2025/VPĐK; Công văn số 569/CNKC-XVIII ngày 16/3/2026 của Chi nhánh Văn phòng Đ1; Công văn số 1170/VPĐK-ĐĐBĐ ngày 05/3/2026 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ; công văn số 536/UBND - KT ngày 21/4/2026 của Phòng kinh tế thuộc Ủy ban nhân dân xã Q.
Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản các ngày 22/8/2024; 25/3/2026 và Phiếu trích đo hiện trạng sử dụng đất ngày 05/11/2025, xác định hiện trạng sử dụng đất và tài sản gồm có: thửa đất số 946, tờ bản đồ số 9 có diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 2.491 m2 và diện tích đất đo đạc thực tế là 2.503,9 m2; lệch thừa 12,9m2. Giá đất ở tại đô thị 450.000 đồng/m2, giá đất trồng cây lâu năm 35.000 đồng/ m2. Trên phần diện tích tranh chấp có: 01 nhà thờ do ông L xây dựng năm 2023: nhà trệt, tường xây 110 kể cả mặt trước 220, tường trát quét vôi màu, mái ngói, sườn gỗ, nền lát gạch, ô tơ cao 2,6 mét, diện tích 9 x 8 = 72 m2 có giá còn lại 171.900.000 đồng; Nhà bà P đang sử dụng do bà Huỳnh Thị L2 xây dựng gồm: nhà trên được xây dựng năm 1996 đã xuống cấp: nhà trệt, tường xây 110 kể cả mặt trước 220, tường trát quét vôi màu, mái ngói, sườn gỗ, nền lát gạch, ô tơ cao 2,5 mét có diện tích 75,6 m2,có giá trị còn lại 0 đồng; nhà dưới được bà L2 xây dựng vào năm 2016 có diện tích 21 m2: nhà trệt, tường xây 110 kể cả mặt trước 220, tường trát quét vôi màu, mái tôn, sườn sắt, nền xi măng, ô tơ cao 2,5 mét có giá trị còn lại 32.051.250 đồng; 01 mái che tạm mái lợp tôn, sườn gỗ, diện tích 08 m2 có giá trị còn lại 0 đồng; keo lá tràm đường kính từ 01 cm đến 05 cm: 55 cây, 01 cây mít có đường kính 53 – 55 cm, 01 cây mai đường kính từ 10 – 15 cm.
Theo Công văn của Phòng kinh tế xã Q xác định nguyên nhân có sự chênh lệch diện tích là do sai số kỹ thuật trong đo đạc qua các thời kỳ, khác nhau về phương pháp, thiết bị đo đạc. Tại Công văn của Chi nhánh Văn phòng Đ1, Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ không tiến hành lồng ghép để xác định vị trí thửa đất số 946, tờ bản đồ số 9 theo bản đồ 64/CP và trên hiện trạng sử dụng đất Phiếu đo đạc chỉnh lý thửa đất 03/12/2025.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Đà Nẵng phát biểu ý kiến: về tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: căn cứ khoản 5 Điều 26, Điều 34, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 157, Điều 163, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025, Điều 609, 612, 613, 614, 623, 649, 651, 652 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 23, 26, 27, 45 Luật Đất đai năm 2024; Điều 12, Điều 15, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về chia thừa kế.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: diện tích đất tranh chấp thuộc thôn G, xã Q, thành phố Đà Nẵng. Ông L khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Đ và bà N1. Do đó, quan hệ pháp luật cần giải quyết là “tranh chấp về chia thừa kế” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đà Nẵng theo quy định tại khoản 5 Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025.
[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: tại phiên tòa, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Đỗ Kiều O, cháu Nguyễn Hữu P1, chị Nguyễn Đỗ Thúy N và người đại diện hợp pháp cho cháu P1 có bà Đỗ Thị H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về hàng thừa kế của ông Đ và bà N1: các đương sự đều thống nhất trình bày ông Đ và bà N1 có 05 người con là Nguyễn H1, Nguyễn Thị L1, Nguyễn V, Nguyễn Tiến L và Nguyễn M. Ông Nguyễn Hồng C năm 1970. Ông H1 và bà Huỳnh Thị L2 có hai người con là Nguyễn H2 và Nguyễn Thị P. Anh Nguyễn Hoàng C1 năm 2015. Anh H2 và chị Đỗ Thị H có 03 người con tên Nguyễn Đỗ Kiều O, Nguyễn Hữu P1 và Nguyễn Đỗ Thúy N. Ông Đ chết năm 1965, bà N1 chết năm 2008. Ông Đ và bà N1 chết không để lại di chúc. Bà L2 chết năm 2023. Như vậy, căn cứ vào Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định hàng thừa kế thứ nhất của Nguyễn Tiến Đ và bà Giang Thị N1 gồm có là ông L, ông M, ông V, bà L1 và thừa kế thế vị bao gồm bà P; chị Nguyễn Đỗ Kiều O, Nguyễn Hữu P1 và chị Nguyễn Đỗ Thúy N (con của ông H2).
[2.2]. Về di sản thừa kế: tại bản án số 72/2017/HC-ST ngày 12/9/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam và bản án số 22/2018/HC-PT ngày 18/01/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã xác định thửa đất thửa số 946, tờ bản đồ số 9 là di sản thừa kế của các người con ông Đ và bà N1 theo quy định của pháp luật nên đã tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 938675 ngày 20/12/1996 của Ủy ban nhân dân huyện Q cấp cho hộ bà Huỳnh Thị L2. Ngày 20/8/2024, Ủy ban nhân dân huyện Q có Quyết định số 1207/QĐ – UBND về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 938675 đối với thửa số 946, tờ bản đồ số 9 tại xã Q, huyện Q. Như vậy, căn cứ vào Điều 92 xác định di sản thừa kế của ông Đ và bà N1 là thửa số 946, tờ bản đồ số 9. Quyền sử dụng đất tại thửa số 946, tờ bản đồ số 9, diện tích thực tế sau khi đo đạc là 2.503,9 m2. Thửa đất đã có sự thay đổi về diện tích thực tế. Tuy nhiên, do hiện trạng đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp nên cần công nhận.
[2.3]. Về yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế:
Di sản là quyền sử dụng đất tại thửa số 946, tờ bản đồ số 9 tại thôn G, xã Q chia cho 05 người con. Tuy nhiên, bà P có yêu cầu xem xét quá trình công sức đóng góp, giữ gìn, tôn tạo. Hội đồng xét xử xét thấy, sau năm 1975, gia đình bà Huỳnh Thị L2 sinh sống, giữ gìn và tôn tạo thửa đất nên căn cứ vào khoản 2 Điều 616, các khoản 2, 3 Điều 618 Bộ luật Dân sự chấp nhận yêu cầu của bà P, bà Huỳnh Thị L2 được hưởng 01 phần từ di sản thừa kế.
Bà Nguyễn Thị L1, ông Nguyễn Văn V tự chối nhận di sản và giao kỷ phần cho ông L. Vì vậy, ông L được nhận 03 kỷ phần, bà P và các con của ông H2 được nhận 02 kỷ phần, ông Nguyễn M được nhận 01 kỷ phần di sản của ông Đ và bà N1.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 609, 612, 613, 614, khoản 2 Điều 616, các khoản 2, 3 Điều 618, các Điều 623, 649, 651, 652 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 23, 26, 27, 45 Luật Đất đai năm 2024 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về chia thừa kế:
Xác định di sản thừa kế của ông Đ và bà N1 là quyền sử dụng đất tại thửa số 946, tờ bản đồ số 9 tại thôn G, xã Q, thành phố Đà Nẵng, 01 cây mít có giá 1.000.000 đồng, cây mai 720.000 đồng. Ông L được nhận 03 phần di sản của ông Đ và bà N1, bà P và chị Nguyễn Đỗ Kiều O, Nguyễn Hữu P1 và chị Nguyễn Đỗ Thúy N được nhận 02 phần di sản của ông Đ và bà N1; ông Nguyễn M được nhận 01 phần di sản của ông Đ và bà N1; cụ thể như sau: ông L được nhận diện tích đất là 1251,9 m2 có giá trị 85.316.500 đồng, trong đó đất ở 100 m2 (giá trị 45.000.000 đồng), đất trồng cây lâu năm 1151,9 m2 (giá trị 40.316.500 đồng); ông M được nhận diện tích đất là 417 m2 có giá trị 28.290.000 đồng, trong đó đất ở 33 m2 (giá trị 14.850.000 đồng), đất trồng cây lâu năm 384 m2 (giá trị 13.440.000 đồng); bà P và các con của ông H2 được nhận diện tích đất là 835 m2 có giá trị 57.030.000 đồng, trong đó đất ở 67 m2 (giá trị 30.150.000 đồng), đất trồng cây lâu năm 768 m2 (giá trị 26.880.000 đồng). Giá trị cây mai và cây mít là 1.720.000 đồng chia 6 phần, mỗi phần được nhận 287.000 đồng.
[3]. Về chi phí tố tụng: do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên các đương sự phải chịu chi phí tố tụng theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia trong khối di sản thừa kế. Tổng chi phí tố tụng là 13.923.000 đồng. Ông L đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng. Bà P và chị Nguyễn Đỗ Kiều O, Nguyễn Hữu P1 và chị Nguyễn Đỗ Thúy N có nghĩa vụ liên đới trả cho ông L số tiền 4.641.000 đồng; ông M có nghĩa vụ trả cho ông L số tiền 2.320.500 đồng.
[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm: các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[5]. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 5 Điều 26, Điều 34, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 157, Điều 163, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025, các Điều 609, 612, 613, 614, khoản 2 Điều 616, các khoản 2, 3 Điều 618, các Điều 623, 649, 651, 652 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 23, 26, 27, 45 Luật Đất đai năm 2024; Điều 12, Điều 15, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tiến L về “chia thừa kế”.
1.1.Di sản thừa kế của ông Đ và bà N1 là quyền sử dụng đất tại thửa số 946, tờ bản đồ số 9 tại thôn G, xã Q, thành phố Đà Nẵng, 01 cây mít có giá 1.000.000 đồng, cây mai 720.000 đồng.
1.2.Ông Nguyễn Tiến L được nhận quyền sử dụng tại thửa số 946, tờ bản đồ số 9 tại thôn G, xã Q có tứ cận như sau:
+ Phía đông giáp phần đất được chia cho bà P (có các điểm 29 -30) có chiều dài 28,76 mét.
+ Phía tây: từ điểm 11 đến điểm số 19 giáp thửa số 947 và đường bê tông.
+ Phía nam: giáp đường DH (từ điểm số 11 đến điểm số 29) có chiều dài 09 mét và giáp đất được chia cho bà P, chị Nguyễn Đỗ Kiều O, cháu Nguyễn Hữu P1 và Nguyễn Đỗ Thúy N (từ điểm số 30 đến điểm số 27) có chiều dài 34,18 mét.
+ Phía bắc giáp thửa số 943 từ điểm 26 đến điểm 19.
Diện tích 945,98 m2 trong đó có 100 m2 đất ở và 845,98 m2 đất cây lâu năm. Trên đất có 01 ngôi nhà thờ do ông L xây dựng và 01 cây mít đường kính 66 cm có giá trị là 1.000.000 đồng, 01 cây mai có giá trị 720.000 đồng.
Ông Nguyễn Tiến L được nhận số tiền 10.134.700 (Mười triệu một trăm ba mươi bốn nghìn) đồng do bà P, chị Nguyễn Đỗ Kiều O, cháu Nguyễn Hữu P1 và Nguyễn Đỗ Thúy N (con của ông H2) có nghĩa vụ liên đới thối trả.
1.3.Bà P, chị Nguyễn Đỗ Kiều O, cháu Nguyễn Hữu P1 và Nguyễn Đỗ Thúy N (con của ông H2) được nhận quyền sử dụng tại thửa số 946, tờ bản đồ số 9 tại thôn G, xã Q có tứ cận như sau:
+ Phía đông giáp phần đất được chia cho ông Nguyễn M (từ điểm 27 đến điểm 08) có chiều dài 31 mét.
+ Phía tây giáp phần đất được chia cho ông Nguyễn Tiến L (từ điểm 29 đến điểm 30) có chiều dài 28,76 mét.
+ Phía nam: giáp đường DH (từ điểm số 8 đến 29) có chiều dài 28,97 mét.
+ Phía bắc giáp phần đất được chia cho ông Nguyễn Tiến L (từ điểm số 27 đến điểm 30) có chiều dài 34,18 mét .
Diện tích 925,82 m2 trong đó có 100 m2 đất ở và 825,82 m2 đất cây lâu năm.
Trên đất có 01 ngôi nhà do bà L2 xây dựng.
Về nghĩa vụ: bà P, chị Nguyễn Đỗ Kiều O, cháu Nguyễn Hữu P1 và Nguyễn Đỗ Thúy N (con của ông H2) có nghĩa vụ liên đới thối trả cho ông L số tiền 10.134.700 (Mười triệu một trăm ba mươi bốn nghìn) đồng và cho ông Một số tiền 6.167.000 (Sáu triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn) đồng.
1.4 Ông Nguyễn M được nhận quyền sử dụng tại thửa số 946, tờ bản đồ số 9 tại thôn G, xã Q có tứ cận như sau:
+ Phía đông giáp đường R 3m từ điểm số 1 đến điểm số 6.
+ Phía tây giáp phần đất được chia cho bà P, chị Nguyễn Đỗ Kiều O, cháu Nguyễn Hữu P1 và Nguyễn Đỗ Thúy N (từ điểm 27 đến điểm 08) có chiều dài 31 mét.
+ Phía nam: giáp đường DH (từ điểm số 6 đến điểm số 8) có chiều dài 20,05 mét.
+ Phía bắc giáp thửa 945 (từ điểm số 01 đến điểm 27) có chiều dài 19,8 mét. Diện tích: 632,1 m2 đất trồng cây lâu năm. Giao cho ông M được quyền sở hữu 55 cây keo do bà P trồng có giá trị 1.000.000 đồng. Ông M có nghĩa vụ trả lại cho bà P số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng.
Ông Nguyễn M được nhận số tiền 6.167.000 (Sáu triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn) đồng do bà P, chị Nguyễn Đỗ Kiều O, cháu Nguyễn Hữu P1 và Nguyễn Đỗ Thúy N có nghĩa vụ liên đới thối trả và số tiền 287.000 (Hai trăm tám mươi bảy nghìn) đồng do ông L thối trả.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về chi phí tố tụng: 13.923.000 (Mười ba triệu chín trăm hai mươi ba nghìn) đồng. Ông L đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng. Bà P, chị Nguyễn Đỗ Kiều O, cháu Nguyễn Hữu P1 và Nguyễn Đỗ Thúy N có nghĩa vụ liên đới trả cho ông L số tiền 4.641.000 (Bốn triệu sáu trăm bốn mươi mốt nghìn) đồng; ông M có nghĩa vụ trả cho ông L số tiền 2.320.500 (Hai triệu ba trăm hai mươi nghìn năm trăm) đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4.Về án phí dân sự sơ thẩm: ông L, ông M được miễn án phí do là người cao tuổi. Bà P, chị Nguyễn Đỗ Kiều O, cháu Nguyễn Hữu P1 và Nguyễn Đỗ Thúy N có nghĩa vụ liên đới chịu số tiền 2.880.000 (Hai triệu tám trăm tám mươi nghìn) đồng.
5.Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (26-6- 2026). Các đương sự vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
6.Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp chia thừa kế số 145/2026/DS-ST ngày 26/06/2026
| Số hiệu: | 145/2026/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Quận Liên Chiểu - Đà Nẵng |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 26/06/2026 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về