Bản án về tranh chấp chia tài sản chung và chia thừa kế tài sản số 30/2025/DS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

BẢN ÁN 30/2025/DS-PT NGÀY 21/02/2025 VỀ TRANH CHẤP CHIA TÀI SẢN CHUNG VÀ CHIA THỪA KẾ TÀI SẢN

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 214/2024/TLPT-DS ngày 24 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp chia tài sản chung và chia thừa kế tài sản.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 63/2024/DS-ST ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 286/2024/QĐ-PT ngày 31 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Ngô Văn B; cư trú tại: Thôn A, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Trần Phương T, hoạt động tại Văn phòng L3 Đoàn luật sư tỉnh B; địa chỉ: Số B đường L, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định; có mặt.

2. Bị đơn: Ông Ngô Văn M; cư trú tại: Thôn T, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Ngô T1; có mặt.

- Ông Ngô Văn S; có mặt.

- Bà Ngô Thị C; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Ông Ngô Văn A; có mặt.

- Bà Trần Thị H, - Ông Ngô C1, - Ông Ngô Thái H1; có mặt.

- Ông Ngô Thái Đ, - Ông Thái T10, - Bà Trần Thị T2, - Bà Ngô Thị H2.

- Bà Huỳnh Thị H3.

Cùng cư trú tại: Thôn T, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.

- Ông Ngô Văn T3; cư trú tại: Thôn Đ, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Ông Ngô Thái T4; có mặt - Ông Ngô Văn Đ1, - Ông Ngô Văn T5, - Bà Ngô Thị Cẩm L.

Cùng cư trú tại: Thôn A, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.

- Bà Ngô Thị T6; cư trú tại: Tổ A, khu phố E, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định.

Định.

- Ông Ngô Thái B1, - Bà Ngô Thị Út O Cùng cư trú tại: Tổ G, khu phố A, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình - Ông Phạm B2; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bà Phạm Thị G, - Ông Phạm Ngọc T7, - Bà Phạm Thị C2, - Ông Phạm T T8, - Ông Phạm Văn C3.

Cùng cư trú tại: Thôn V, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định.

- Bà Phạm Thị L1, - Bà Phạm Thị V, Cùng cư trú tại: Thôn V, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định.

- Bà Phạm Thị C4; cư trú tại: Xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện hợp pháp của bà Trần Thị T2, bà Ngô Thị H2, ông Ngô Văn Đ1, ông Ngô Ngọc T9, bà Ngô Thị Cẩm L: Ông Ngô Văn A; cư trú tại: Thôn T, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định là đại diện theo ủy quyền; (Giấy ủy quyền ngày 17/6/2024); có mặt.

Đại diện hợp pháp của bà Trần Thị H, ông Ngô C1, ông Ngô Thái Đ, ông Ngô Thái T10, ông Ngô Thái B1, bà Ngô Thị Út O: Ông Ngô Thái T4; cư trú tại: Thôn A, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định là đại diện theo ủy quyền; (Giấy ủy quyền ngày 18/10/2024); có mặt.

Đại diện hợp pháp của bà Ngô Thị T6, bà Phạm Thị G, ông Phạm Văn T11, bà Phạm Thị C2, ông Phan T T12, ông Phan Văn C5, bà Phạm Thị L1, bà Phạm Thị C4 và bà Phạm Thị V: Ông Ngô Văn B; cư trú tại: Thôn A, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định là đại diện theo ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền ngày 21/9/2023 và ngày 30/5/2024); có mặt.

- Người kháng cáo: Ông Ngô Văn B là nguyên đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn ông Ngô Văn B trình bày:

Vào năm 1997 mẹ ông là cụ Võ Thị L2 (chết năm 2009) được Nhà nước cấp cho 06 thửa đất trong đó 04 thửa đất nông nghiệp, 01 thửa đất ở và 01 thửa đất vườn. Trong đó thửa đất ở trên có nguồn gốc của cụ L2 đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ cụ L2, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 05/QSDĐ/E15, ngày 23 tháng 9 năm 1997, các thửa đất trên có số thửa: 325, tờ bản đồ số 03, diện tích 200m2 đất ở và cùng thửa trên là 520m2 đất vườn; và các thửa đất nông nghiệp 01 vụ có số thửa: 326, tờ bản đồ số 03, diện tích 540m2; 327, tờ bản đồ số 03, diện tích 300m2; 111, tờ bản đồ số 04, diện tích 660m2 và thửa 38, tờ bản đồ số 04, diện tích 390m2, các thửa đất trên lâu nay ông Ngô Văn M đang quản lý, sử dụng. Trên thửa đất ở có một ngôi nhà của ông Ngô Văn M, toàn bộ các thửa đất trên đều toạ lạc tại thôn T, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định. Cha ông tên Ngô H4 (chết năm 1990), cha, mẹ ông sinh được 08 (tám) người con gồm các ông, bà: Ngô Ngộ (chết năm 2018); Ngô T1; Ngô Thị T13 (chết năm 2023); Ngô Thái T14 (chết năm 2005); Ngô Văn S; Ngô Văn B (là ông); Ngô Thị T6 và Ngô Văn M; Ngô N có vợ là Trần Thị T2 và 05 người con gồm: Ngô Thị C, Ngô Văn T3, Ngô Văn B3 (chết), Ngô Văn A, Ngô Thị H2; Ngô Thị T13 có chồng là Phạm B2, bà T13 và ông B2 có 08 người con gồm: Phạm Thị L1, Phạm Thị C4, Phạm Thị G, Phạm Văn T11, Phạm Thị C2, Phạm Thị V, Phạm T T8, Phạm Văn C3; Ngô Thái T14 chết có vợ là Trần Thị H, ông T14 và bà H có 07 người con gồm: Ngô Thái T4, Ngô C1, Ngô Thái H1, Ngô Thái Đ, Ngô Thái T10, Ngô Thái B1 và Ngô Thị Út O; Ngô Văn B3 (chết năm 2018) có vợ là Hồ Thị G1 (chết 2020), ông B3 và bà G1 có 03 người con gồm: Ngô Văn Đ1, Ngô Ngọc T9, Ngô Thị Cẩm L. Cha, mẹ ông chết không để lại di chúc, ngày 21 tháng 02 năm 2022 các con của cụ Ngô H4 và cụ Võ Thị L2 lập văn bản thuận phân chia tài sản chung, di sản thừa kế nhưng sau đó không thực hiện được do không đủ người thừa kế để xác lập.

Nay ông yêu cầu chia di sản của cụ L2 theo pháp luật và huỷ văn bản thoả thuận phân chia tài sản chung, di sản gia đình lập ngày 21 tháng 02 năm 2022. Phần ông xin được nhận bằng hiện vật là đất ở, đất vườn và ông có nghĩa vụ giao lại giá trị chênh lệnh cho những người được thừa kế của cụ L2 theo quy định của pháp luật. Ông yêu cầu Toà án giao 02 thửa đất 1 vụ cho ông Ngô Văn M và ông M có nghĩa vụ giao lại giá trị chênh lệch cho những người được thừa kế của cụ L2. Riêng phần diện tích tăng thêm chưa được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất, ông yêu cầu giao cho người nào thì người đó có nghĩa vụ liên hệ đến cấp có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định.

Ông yêu cầu giao phần đất của ông được nhận cùng với diện tích đất của ông Ngô T1, Ngô Văn S, Ngô Văn A, Ngô Thái T4 cùng nhận và đồng sử dụng, tuy nhiên phần của Ngô Văn A và Ngô Thái T4 được nhận ít hơn thì họ có trách nhiệm thối lại giá trị cho người khác cùng được thừa kế với họ, để họ cùng bằng phần của ông, ông T1 và ông S.

Bị đơn ông Ngô Văn M trình bày:

Ông Thống nhất về quan hệ gia đình, hàng thừa kế, thời điểm chết của cha mẹ ông như ông Ngô Văn B trình bày, cũng như yêu cầu huỷ văn bản thoả thuận phân chia tài sản chung, di sản gia đình lập ngày 21 tháng 02 năm 2022 của ông bảy và thống nhất như yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất của mẹ ông là cụ Võ Thị L2 ở các thửa đất như ông B trình bày. Tuy nhiên, ông yêu cầu trước khi chia di sản thừa kế thì phải chia tài sản chung trong hộ của mẹ ông, vì tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì 200m2 đất ở là của mẹ ông, nhưng còn đất vườn và đất nông nghiệp (1 vụ) là của chung trong hộ và tại thời điểm này trong hộ của cụ L2 chỉ có ông và cụ L2 nên ông được hưởng ½ diện tích đất vườn và đất nông nghiệp, hơn nữa từ khi mẹ ông chết, thì ông là người quản lý khối di sản này nên ông xin được nhận phần công sức tôn tạo, bảo quản khối di sản nêu trên. Phần ông được nhận ông yêu cầu giao cho ông và vợ ông là bà Huỳnh Thị H3 được quyền sử dụng chung.

Ông xin nhận đất ở, đất vườn và đất nông nghiệp (1 vụ), ở hai thửa đất nông nghiệp có số thửa 326, 327, tờ bản đồ số 03, diện tích 840m2, do ông đã lấy đất ở hai thửa 111, 38, tờ bản đồ số 04 về nâng hai thửa đất trên nên ông xin nhận hai thửa đất này, nếu bên ông B không đồng ý ông xin nhận hết 04 thửa đất nông nghiệp vì vợ chồng ông là người trực tiếp sản xuất đất nông nghiệp và ông sẽ giao lại giá trị chênh lệch cho đồng thừa kế khác nếu được nhận phần nhiều hơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Ngô T1, ông Ngô Văn S, ông Ngô Văn A, ông Ngô Thái T4 trình bày:

Các ông thống nhất chia tài sản chung trong hộ cụ L2 là đất vườn, 04 thửa đất 1 vụ, sau đó mới chia di sản thừa kế của cụ L2, nếu ai nhận nhiều hơn phải có nghĩa vụ thối lại người nhận ít hơn và thống nhất nhận chung phần đất ở và đất vườn để ông T1, ông S, ông A, ông T4 và ông B sử dụng chung. Các ông thống nhất huỷ văn bản thoả thuận phân chia tài sản chung, di sản gia đình lập ngày 21 tháng 02 năm 2022 như yêu cầu của ông B.

Ông Phạm B2 trình bày:

Ông là chồng bà Ngô Thị T13 (chết năm 2023), ông xin được nhận phần của ông được thừa kế của bà T13 với giá trị bằng tiền.

Ông Ngô Văn T3, bà Ngô Thị C trình bày:

Cha ông là Ngô N (chết), mẹ ông, bà là Trần Thị T2; cha, mẹ ông, bà có 05 (năm) người con gồm: Ông (Ngô Văn T3), bà (Ngô Thị C), Ngô Văn B3 (chết năm 2018, vợ B3 là Hồ Thị G1 chết năm 2020) có 03 (ba) người con là Ngô Văn Đ1, Ngô Ngọc T9, Ngô Thị Cẩm L; Ngô Văn A; Ngô Thị H2. Ông T3 và bà C thống nhất phần ông, bà được nhận thì ông, bà tặng cho lại ông Ngô Văn M.

Đại diện theo uỷ quyền của bà Ngô Thị T6, bà Phạm Thị L1, bà Phạm Thị C4, bà Phạm Thị G, ông Phạm Văn T11, bà Phạm Thị C2, bà Phạm Thị V, ông Phạm T T8, ông Phạm Văn C3 là ông Ngô Văn B trình bày:

Thống nhất như lời trình bày của nguyên đơn, phần bà T6, bà L1, bà C4, bà G, ông T11, bà C2, bà V, ông T8, ông C3 được nhận, xin nhận bằng tiền và yêu cầu huỷ văn bản thoả thuận phân chia tài sản chung, di sản gia đình lập ngày 21 tháng 02 năm 2022.

Đại diện theo uỷ quyền của bà Trần Thị T2, bà Ngô Thị H2, ông Ngô Văn Đ1, ông Ngô Ngọc T9, bà Ngô Thị Cẩm L là ông Ngô Văn A trình bày:

Thống nhất như lời trình bày và yêu cầu của ông Ngô Văn B, phần bà T2, bà H2, ông Đ1, ông T9, bà L thì họ xin được nhận giá trị bằng tiền.

Đại diện theo uỷ quyền của bà Trần Thị H, ông Ngô C1, ông Ngô Thái Đ, ông Ngô Thái T10, bà Ngô Thị Út O là ông Ngô Thái T4 trình bày:

Ông thống nhất như lời trình bày và yêu cầu ông Ngô Văn B, phần bà H, ông C1, ông Đ, ông T10, bà O thì họ xin được nhận giá trị bằng tiền.

Bản án dân sự sơ thẩm số: 63/2024/DS-ST ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định đã quyết định:

Hủy văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung, di sản thừa kế lập ngày 21/02/2022.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chia quyền sử dụng đất chung trong hộ và chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và vật kiến trúc trên đất theo quy định của pháp luật.

Giao cho ông Ngô Văn B, ông Ngô T1, ông Ngô Văn S, ông Ngô Văn A, ông Ngô Thái T4 đồng sử dụng và sở hữu một phần thửa đất số thửa 352, tờ bản đồ số 03, nay là một phần thửa 138, tờ bản đồ số 10, diện tích 381,7m2, trong đó có 100m2 đất ở, 195,7m2 đất vườn (nay là đất trồng cây hàng năm khác cùng thửa đất ở) và 86m2 đất cùng thửa đất trên nhưng chưa được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất, toạ lạc tại thôn T, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định, sử dụng và sở hữu theo quy định pháp luật về đất đai, được quyền liên hệ đến cơ quan Nhà nước cấp có thẩm quyền làm thủ tục đăng ký 86m2 đất theo quy định của pháp luật (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

Giao cho ông Ngô Văn M và bà Huỳnh Thị H3 một phần thửa đất số 325, tờ bản đồ số 03, nay là thửa 138, tờ bản đồ số 10, diện tích 100m2 đất ở, 324,4m2 đất trồng cây hàng năm khác và 86m2 đất cùng thửa đất trên nhưng chưa được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất và tài sản trên đất, được quyền liên hệ đến cơ quan Nhà nước cấp có thẩm quyền làm thủ tục đăng ký 86m2 đất theo quy định của pháp luật (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

Giao cho ông Ngô Văn M và bà Huỳnh Thị H3 các thửa đất lúa 1 vụ có số thửa: 326, tờ bản đồ số 03, diện tích 540m2; 327, tờ bản đồ số 03, diện tích 300m2; 111, tờ bản đồ số 04, diện tích 660m2; 38, tờ bản đồ số 04, diện tích 390m2, đều toạ lạc tại thôn T, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định, sử dụng và sở hữu theo quy định pháp luật về đất đai, toạ lạc tại thôn T, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định, sử dụng và sở hữu theo quy định pháp luật về đất đai.

Buộc ông Ngô Văn M và bà Huỳnh Thị H3 có nghĩa vụ thối lại ông Phạm B2, bà Phạm Thị L1, bà Phạm Thị C4, bà Phạm Thị G, ông Phạm Văn T11, bà Phạm Thị C2, bà Phạm Thị V, ông Phạm T T8, ông Phạm Văn C3 mỗi người 7.432.000 đồng.

Buộc ông Ngô Văn M và bà Huỳnh Thị H3 có nghĩa vụ thối lại bà Ngô Thị T6 17,857,000 đồng.

Buộc ông Ngô Văn B, ông Ngô T1, ông Ngô Văn S, ông Ngô Văn A, ông Ngô Thái T4 mỗi người có nghĩa vụ thối lại bà Ngô Thị T6 5.348.000 đồng.

Buộc ông Ngô Văn A có nghĩa vụ thối lại bà Ngô Thị T6 22.295.000 đồng. đồng.

Buộc ông Ngô Văn A có nghĩa vụ thối lại bà Ngô Thị H2 11.148.000 Buộc ông Ngô Văn A có nghĩa vụ thối lại bà Ngô Thị Cẩm L, ông Ngô Văn Đ1, ông Ngô Ngọc T9 mỗi người 2.787.000 đồng.Buộc ông Ngô Văn A có nghĩa vụ thối lại bà Trần Thị T2 13.935.000 đồng.

Buộc ông Ngô Thái T4 có nghĩa vụ thối lại cho ông Ngô C1, ông Ngô Thái H1, ông Ngô Thái Đ, ông Ngô Thái T10, ông Ngô Thái B1, bà Ngô Thị Út O mỗi người 9.556.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng khác và quyền kháng cáo của các bên đương sự.

Ngày 28 tháng 10 năm 2024, nguyên đơn ông Ngô Văn B kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại toán bộ bản án sơ thẩm để bảo vệ quyền lợi cho ông. Tại đơn kháng cáo bổ sung không đề ngày tháng, ông Ngô Văn B yêu cầu cấp phúc thẩm không cho ông Ngô Văn M được hưởng công sức đóng góp bảo quản, tôn tạo di sản của cụ L2, không chấp nhận cho ông Ngô Văn M được nhận 04 thửa đất trồng lúa bằng hiện vật, mà phải chia đều cho các đồng thừa kế khác bằng hiện vật.

Luật sư Nguyễn Trần Phương T trình bày luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông Ngô Văn B, sửa bản án sơ thẩm theo yêu cầu kháng cáo của ông B.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về Tố tụng: Trong giai đoạn phúc thẩm, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) không chấp nhận kháng cáo của ông Ngô Văn B, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Xét kháng cáo của ông Ngô Văn B, HĐXX thấy rằng:

[1.1] Thứ nhất, cấp sơ thẩm xác định về di sản thừa kế, hàng thừa kế, người thừa kế và thời điểm mở thừa kế của cụ Võ Thị L2 là chính xác, đúng quy định của pháp luật. Theo quy định, thì Nghị định 64/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ không cân đối giao quyền sử dụng đất ở nông thôn, mà chỉ cân đối giao quyền sử dụng đất nông nghiệp và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp và tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình của cụ Võ Thị L2, thì thành viên trong hộ chỉ có cụ L2 và ông Ngô Văn M nên cấp sơ thẩm tiến hành chia khối tài sản chung gồm: 520m2 đất trồng cây hàng năm khác thuộc thửa 325, tờ bản đồ số 03, và các thửa đất nông nghiệp 01 vụ có số thửa: 326, tờ bản đồ số 03, diện tích 540m2; 327, tờ bản đồ số 03, diện tích 300m2; 111, tờ bản đồ số 04, diện tích 660m2 và thửa 38, tờ bản đồ số 04, diện tích 390m2 làm 02 phần, 01 phần thuộc quyền sử dụng của ông M và 01 phần là di sản thừa kế của cụ L2 là đúng quy định của pháp luật.

[1.2] Thứ hai, do ông M từ khi sinh ra cho đến nay vẫn sinh sống trên thửa đất 325, tờ bản đồ số 03 và trong quá trình sinh sống ông đã xây dựng nhà ở kiên cố cùng các vật kiến trúc khác gắn liền với thửa đất này, còn các đồng thừa kế khác của cụ L2 từ lâu đã có cuộc sống, chỗ ở ổn định ở nơi khác. Còn vợ chồng ông M đều là người khuyết tật và là người trực tiếp sản xuất, canh tác trên các thửa đất nông nghiệp từ trước đến nay và đây cũng là nguồn sống duy nhất của cả gia đình ông M. Mặt khác, bản thân ông B chỉ được hưởng một phần nhỏ trong các đám ruộng này và nếu tách thửa thì diện tích đất ông B được chia, cũng không đảm bảo về điều kiện để tách thửa đối theo quy định tại Quyết định số: 36/2024/QĐ-UBND ngày 01/8/2024 của UBND tỉnh B. Hơn nữa, sau khi cụ L2 mất thì ông M là người bảo quản, tôn tạo khối di sản của cụ L2 để lại nên cấp sơ thẩm xem xét cho ông M được hưởng công sức bảo quản, tôn tạo di sản bằng một kỷ phần thừa kế của cụ L vàchia cho ông M 100m2 đất ở và 324,4m2 đất trồng cây hàng năm khác thuộc thửa đất số 325, tờ bản đồ số 03 và 04 thửa đất nông nghiệp nêu trên và ông M phải giao lại giá trị chênh lệch di sản được nhận cho các đồng thừa kế khác là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[2] Từ những phân tích trên, xét thấy cấp sơ thẩm giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, kháng cáo của ông Ngô Văn M là không có căn cứ nên không được HĐXX chấp nhận. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Theo quy định tại khoản 1 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì ông Ngô Văn M phải chịu 300.000 đồng.

[4] Những quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực từ ngày hết thời hạn khác cáo, kháng nghị.

[5] Luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn của Luật sư Nguyễn Trần Phương T là không phù hợp với nhận định của HĐXX nên không được chấp nhận.

[6] Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật của những người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng tại cấp phúc thẩm cũng như về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của HĐXX.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Ngô Văn B. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 63/2024/DS-ST ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.

2. Những quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực từ ngày hết thời hạn khác cáo, kháng nghị.

3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Ngô Văn B phải chịu 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp, theo Biên lai thu số: 0007033 ngày 31/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Cát.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

91
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp chia tài sản chung và chia thừa kế tài sản số 30/2025/DS-PT

Số hiệu:30/2025/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Bình Định
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:21/02/2025
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về