Bản án về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm số 05/2023/DS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

BẢN ÁN 05/2023/DS-ST NGÀY 25/07/2023 VỀ TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG DO TÀI SẢN BỊ XÂM PHẠM

Ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái, Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 22/2023/TLST-DS ngày 15 tháng 3 năm 2023 về “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 7 năm 2023; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Tổng công ty X Thanh Hóa – Công ty cổ phần Đại diện theo pháp luật: Ông Tạ Đức H, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Trịnh T, chức vụ: Phó Tổng giám đốc kiêm Trưởng phòng Kỹ thuật - Đấu thầu. Có mặt Địa chỉ: 303, đường B, phường H, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

2. Bị đơn: Ban Quản lý dự án tỉnh Yên Bái Đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Việt H, chức vụ: Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Hoàng Thị Vân K – Cán bộ phòng kế hoạch tổng hợp Ban Quản lý dự án (Giấy ủy quyền công chứng số 35xx, quyển số 0x/2023/TP/CC -SCC/HĐGD ngày 19 tháng 7 năm 2023). Có mặt; Địa chỉ: Tổ 2, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 21 tháng 02 năm 2023, quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Tổng công ty X Thanh Hóa – Công ty Cổ phần là ông Lê Trịnh T trình bày:

Tổng công ty X Thanh Hóa – Công ty Cổ phần (sau đây gọi là Công ty) tham dự Gói thầu số 2x: Thi công xây dựng công trình kè chống sạt một số điểm suối Ngòi Thia và suối Ngòi Hút, tỉnh Yên Bái, hạng mục: Đê kết hợp kè chống sạt lở bờ trái suối Thia thuộc xã Phúc Sơn, xã Thạch Lương, thị xã Nghĩa Lộ đoạn cọc C16 đến cọc KC, thuộc dự án: kè chống sạt lở một số điểm suối Ngòi Thia và suối Ngòi Hút, tỉnh Yên Bái (sau đây gọi là Gói thầu số 2x), theo thông báo mời thầu số: IB220005XXXX; đăng tải ngày 01-12-2022 do Ban Quản lý dự án tổ chức; hình thức đấu thầu qua mạng một giai đoạn hai túi hồ sơ, rộng rải cả nước, mở thầu ngày 15-12-2022.

Ngày 20-12-2022 Ban Quản lý dự án có Công văn số: 96x/CV-BQL yêu cầu Công ty làm rõ E-HSDT gói thầu số 2x các nội dung về: nguồn lực tài chính cho các hợp đồng đang thực hiện; hợp đồng cấp tín dụng và cam kết cung cấp tín dụng số MD223470XXXX; bảo lãnh tín dụng và cam kết cấp tín dụng; nhân sự chủ chốt, thiết bị thi công. Ngày 23-12-2022 Tổng công ty có văn bản trả lời, làm rõ nội dung mà Bên mời thầu yêu cầu.

Ngày 26-12-2022 trên hệ thống mạng đấu thầu Quốc gia, Công ty nhận được thông tin các nhà thầu không đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật, số điểm kỹ thuật Gói thầu số 2x, theo đó E - HSDT của Công ty không đạt tại bước đánh giá năng lực kinh nghiệm (nhân sự chủ chốt, thiết bị thi công).

Công ty khẳng định E – HSDT của Công ty hoàn toàn đáp ứng các tiêu chí đánh giá về năng lực kinh nghiệm (nhân sự chủ chốt, thiết bị thi công) theo yêu cầu của E – HSMT, cụ thể:

Thứ nhất, về nguồn lực tài chính:

Theo E-HSMT, yêu cầu nguồn lực tài chính cho gói thầu: Nhà thầu phải chứng minh có khả năng tiếp cận hoặc có sẵn các tài sản có khả năng thanh khoản cao, hạn mức tín dụng khả dụng (hạn mức tín dụng còn được sử dụng) hoặc các nguồn tài chính khác (không bao gồm các khoản tạm ứng thanh toán theo hợp đồng) để đáp ứng yêu cầu về nguồn lực tài chính thực hiện gói thầu với giá trị là 12.000.000.000 VND.

Đối với trường hợp nhà thầu sử dụng cam kết cung cấp tín dụng của tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập theo pháp luật Việt Nam thì cam kết cung cấp tín dụng phải đáp ứng các điều kiện: Giá trị: Tối thiểu 12.000.000.000 VND; thời gian có hiệu lực của cam kết cung cấp tín dụng: có hiệu lực đến ngày 30-09-2024; được đại diện hợp pháp của tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập theo pháp luật Việt Nam ký tên, đóng dấu.

Theo biểu mẫu số 08B - nguồn lực tài chính phát hành theo E – HSMT quy định: Trường hợp trong E-HSDT, nhà thầu có nộp kèm theo bản cam kết cung cấp tín dụng của tổ chức tín dụng hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, trong đó cam kết sẽ cung cấp tín dụng cho nhà thầu để thực hiện gói đang xét đáp ứng quy định tại tiêu chí đánh giá 3.3 Bảng tiêu chuẩn đánh giá về năng lực tài chính và kinh nghiệm Mục 2.1 Chương III thì nhà thầu được đánh giá là đáp ứng yêu cầu về nguồn lực tài chính cho gói thầu.

Trong E – HSDT Công ty đã đính kèm bản cam kết tín dụng của ngân hàng cam kết đáp ứng đủ và kịp thời nguồn vốn tín dụng với giá trị 12.000.000.000 đồng (mười hai tỷ đồng) trong suốt quá trình thi công để hoàn thành gói thầu nếu Công ty trúng thầu Gói thầu số 2x. Như vậy E – HSDT của Công ty hoàn toàn đáp ứng yêu cầu về nguồn lực tài chính để thi công hoàn thành công trình.

Về nguồn lực tài chính hàng tháng cho các hợp đồng đang thực hiện: tại thời điểm dự thầu, Công ty có 18 hợp đồng đang thực hiện. Các hợp đồng Công ty trúng thầu và đang thực hiện dở dang đều có cam kết cấp tín dụng dành riêng cho gói thầu và có tài liệu đính kèm.

Ngoài những nội dung trên, Công ty cũng đính kèm để chứng minh về nguồn lực tài chính, cụ thể:

- Bản xác nhận hạn mức tín dụng số THA201912499XXX/HDTD ngày 25-5-2019 và các phụ lục bổ sung giữa Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam Chi nhánh Thanh Hóa và Tổng công ty X Thanh Hóa – Công ty cổ phần xác nhận số dư hạn mức cam kết tín dụng của Tổng công ty XD Thanh Hóa – CTCP tại Ngân hàng đến thời điểm 10h05’ ngày 22-12-2022 như sau: Hạn mức cam kết tín dụng còn được sử dụng là 68.739.917.476 VNĐ.

- Bản xác nhận số dư tài khoản tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Thanh Hóa đến ngày 13h39’ ngày 22-12-2022 là: 3.956.689.711VNĐ - Bản xác nhận số dư tiền gửi có kỳ hạn tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Thanh Hóa đến ngày 13h40’ ngày 22-12-2022 là: 23.500.000.000VNĐ - Bản xác nhận số dư tiền gửi có kỳ hạn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Thanh Hóa đến ngày 11h30’ ngày 22-12-2022 là: 35.043.357.428 VNĐ.

Với tài liệu đã đính kèm trong E – HSDT và các tài liệu chứng minh, bổ sung nêu trên, Công ty khẳng định hoàn toàn đáp ứng yêu cầu về nguồn lực tài chính để thi công hoàn thành công trình.

Thứ hai, về nhân sự chủ chốt, thiết bị thi công:

Công ty khẳng định các nhân sự đã đề xuất trong E – HSDT hoàn toàn đáp ứng về năng lực theo yêu cầu của E – HSMT. Tại văn bản trả lời làm rõ số: 3xx/CV-NT ngày 23-12-2022 Công ty đã cam kết “sẽ huy động đúng và đủ các nhân sự đã đề xuất trong E – HSDT phục vụ thi công Gói thầu số 2x (nếu trúng thầu)”. Trường hợp cần thay đổi nhân sự khác sẽ có văn bản và bảo đảm nhân sự thay thế có trình độ, kinh nghiệm và năng lực tương đương hoặc cao hơn với nhân sự đã đề xuất theo đúng các quy định về pháp luật.

Đối với thiết bị thi công Công ty xin được thay thế thiết bị trong E-HSDT bằng thiết bị khác có năng lực tương đương đáp ứng tiêu chí đánh giá trong E- HSMT, cụ thể như sau: Lu bánh thép SaKai KD4810 có hóa đơn số “0073xxx” được thay bằng lu bánh thép có biển số đăng ký “36SA – 01xx”.

Công ty khẳng định hoàn toàn đáp ứng các tiêu chí đánh giá về năng lực, kinh nghiệm theo đúng các tiêu chí của E – HSMT, tại văn bản trả lời làm rõ E - HSDT số: 3xx/CV-NT ngày 23-12-2022 Công ty đã trả lời đầy đủ và thay thế thiết bị theo đúng các quy định của pháp luật hiện hành.

Đối với thiết bị ô tô biển kiểm soát 36C – 146.xx hết hạn đăng kiểm vào ngày 24-12-2022 trong khi đó thời điểm đóng thầu gói thầu trên là 14h05’ ngày 15-12-2022. Do đó tại văn bản phúc đáp số: 10xx/CV – BQL ngày 30-12-2022, Ban Quản lý dự án cho rằng nhân sự chủ chốt của Công ty không đáp ứng yêu cầu quy định tại mục 2.2 Chương III của E – HSMT và thiết bị thi công không đáp ứng hiệu lực của HSDT là vi phạm các quy định của luật đấu thầu, cố tình loại bỏ E- HSDT của Nhà thầu, cố ý làm sai lệch kết quả đánh giá E-HSDT.

Việc Ban Quản lý dự án đánh giá về E – HSDT của Công ty không đáp ứng tại bước đánh giá năng lực kinh nghiệm (nhân sự chủ chốt, thiết bị thi công) là không đúng, từ đó đã làm thiệt hại về kinh tế cho Tổng công ty X Thanh Hóa – Công ty Cổ phần trong quá trình chuẩn bị E – HSDT. Vì vậy Tổng công ty X Thanh Hóa – Công ty Cổ phần đề nghị Tòa án giải quyết:

- Buộc Ban Quản lý dự án phải bồi thường thiệt hại về kinh tế trong quá trình chuẩn bị E - HSDT với số tiền: 99.583.000 đồng (Chín mươi chín triệu, năm trăm tám mươi ba ngàn đồng). Cụ thể: Chi phí nộp hồ sơ dự thầu: 300.000 đồng; chi phí nộp Bảo lãnh tín dụng: 1.972.603 đồng; chi phí cung cấp tín dụng: 2.400.000 đồng; chi phí nộp giải quyết kiến nghị: 11.710.000 đồng; trả lương cho cán bộ làm hồ sơ thầu: 65.000.000 đồng; chi phí khảo sát công trường + hợp đồng cung ứng vật tư: 18.200.000 đồng - Buộc Ban Quản lý dự án phải xin lỗi Tổng công ty X Thanh Hóa – Công ty Cổ phần bằng văn bản.

Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo pháp luật của bị đơn Ban Quản lý dự án là ông Hoàng Việt H và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là bà Hoàng Thị Vân K thống nhất trình bày:

Ban Quản lý dự án là Chủ đầu tư, trực tiếp là bên mời thầu các gói thầu được phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu tại Quyết định số 21xx/QĐ-UBND ngày 14-11-2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái, trong đó có Gói thầu số 2x. Ban Quản lý dự án thống nhất với lời khai của nguyên đơn về hình thức tham gia đấu thầu, việc tham gia dự thầu của nhà thầu là Tổng công ty X Thanh Hóa - Công ty Cổ phần, thời gian mở thầu, yêu cầu làm rõ hồ sơ dự thầu và kết quả lựa chọn nhà thầu.

Ngày 26-12-2022, Ban Quản lý dự án đăng tải báo cáo đánh giá E-Hồ sơ đề xuất kỹ thuật tổng hợp trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, ra thông báo kết quả lựa chọn nhà thầu. Trong đó, nhà thầu là Tổng công ty X Thanh Hóa - Công ty Cổ phần bị loại. Ngày 30-12-2022, trên hệ thống mạng đấu thầu Quốc gia, Ban Quản lý dự án đã có Văn bản số 1022/CV-BQL về việc phúc đáp Văn bản số 34x/KN-TCT ngày 27-12-2022 của Tổng công ty X Thanh Hóa - Công ty Cổ phần về kiến nghị kết quả lựa chọn nhà thầu, trong đó nêu rõ những nội dung Nhà thầu không đáp ứng theo yêu cầu của E-Hồ sơ mời thầu như sau:

Thứ nhất, E-HSDT của nhà thầu có đặt điều kiện và bỏ sót nội dung. Theo yêu cầu của E-HSMT, tại biểu mẫu 8C: Nguồn lực tài chính hàng tháng cho các hợp đồng đang thực hiện, quy định: "Từng nhà thầu hoặc thành viên liên danh phải cung cấp thông tin được nêu dưới đây để tính toán tổng các yêu cầu về nguồn lực tài chính, bằng tổng của: (i) các cam kết hiện tại của nhà thầu (hoặc từng thành viên trong liên danh) trong tất cả các hợp đồng mà nhà thầu (hoặc từng thành trong viên liên danh) đang thực hiện hoặc sẽ được thực hiện; (ii) yêu cầu về nguồn lực tài chính đối với hợp đồng đang xét. Ngoài ra, nhà thầu cũng phải cung cấp thông tin về bất kỳ nghĩa vụ tài chính nào khác có thể ảnh hưởng đáng kể đến việc thực hiện hợp đồng đang xét nếu nhà thầu được trao hợp đồng".

Theo yêu cầu của E-HSMT, tại biểu mẫu 8B: Nguồn lực tài chính, quy định "bên cạnh việc sử dụng cam kết cung cấp tín dụng, nhà thầu vẫn phải kê khai thông tin theo Mẫu này và Mẫu số 08C".

Tuy nhiên, tại Biểu mẫu 8C, nhà thầu chỉ kê khai 2 gói thầu đang thực hiện gồm: (1) Gói thầu số 1x: Thi công xây dựng cầu cơ giới trên sông Thạch Luyện tại Km1+849,05 và nạo vét, xây dựng tuyến đê bao hồ Thượng Hòa, dự án kè chống sạt lở và nạo vét tiêu thoát lũ khu kinh tế trọng điểm Nghi Sơn (giai đoạn 1); (2) Gói thầu số 05: Thi công xây dựng công trình lắp đặt thiết bị (bao gồm bảo hiểm công trình) khu neo đậu tàu thuyền phục vụ di dân tái định cư xã Hải Hà, huyện Tĩnh Gia (nay là thị xã Nghi Sơn), tỉnh Thanh Hóa.

Bên mời thầu đã có Văn bản số 96x/CV-BQL ngày 20-12-2022 đề nghị nhà thầu bổ sung: Biên bản tổng nghiệm thu thanh toán hoặc Biên bản bàn giao công trình đưa vào sử dụng của ít nhất 12 gói thầu có tên theo văn bản trên. Nhưng theo Văn bản số 3xx/CV-NT ngày 23-12-2022 và tài liệu kèm theo thì ngoài 02 công trình đang thực hiện nhà thầu đã kê khai tại Biểu mẫu 8C, nhà thầu bổ sung cung ứng tín dụng cho 18 công trình đang thực hiện mà không phải tài liệu theo yêu cầu của Bên mời thầu. Nhà thầu đã không tuân thủ yêu cầu của E-HSMT, kể cả sau khi làm rõ, dẫn đến Tổ chuyên gia không có cơ sở để đánh giá nguồn lực tài chính hàng tháng cho các hợp đồng đang thực hiện tại Biểu mẫu 8C. Theo quy định tại mục 27.2 và 27.3 CDNT của E-HSMT: "Đặt điều kiện" là việc đặt ra các điều kiện có tính hạn chế hoặc thể hiện sự không chấp nhận hoàn toàn đối với các yêu cầu nêu trong E-HSMT và "Bỏ sót nội dung" là việc nhà thầu không cung cấp được một phần hoặc toàn bộ thông tin hay tài liệu theo yêu cầu nêu trong E-HSMT. Như vậy, E-HSDT của Nhà thầu có đặt điều kiện và bỏ sót nội dung và bị loại theo quy định tại mục 28.4 CDNT của E-HSMT.

Thứ hai, về nguồn lực tài chính.

Liên quan đến tổng nguồn lực tài chính của Nhà thầu, Bên mời thầu đã có Văn bản làm rõ E-HSDT về hạn mức tín dụng khả dụng của Hợp đồng tín dụng số THA201912499XXX/HDTD/PL570326 ngày 28-6-2022 được ký giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Thanh Hóa và Nhà thầu, trong đó Bên mời thầu đề nghị Nhà thầu in sao kê các giao dịch liên quan Hợp đồng tín dụng số THA201912499XXX/HDTD từ ngày 28-6- 2022 đến ngày 15-12-2022 để chứng minh hạn mức tín dụng khả dụng của nhà thầu. Tuy nhiên, trong Văn bản làm rõ E-HSDT của Nhà thầu và tài liệu đính kèm, Nhà thầu lại xác nhận số dư hạn mức cam kết tín dụng đến thời điểm 10 giờ 05 phút ngày 22-12-2022 mà không phải là ngày 15-12-2022 như yêu cầu nên Tổ chuyên gia tạm tính hạn mức tín dụng khả dụng còn lại của Hợp đồng tín dụng số THA201912499XXX/HDTD để tính toán tổng nguồn lực tài chính của Nhà thầu là 68.739.917.476 đồng. Như vậy, tổng nguồn lực tài chính của Nhà thầu trước khi làm rõ là 301.672.783.515 đồng và sau khi làm rõ là khoảng 120.412.700.991 đồng.

Theo quy định tại mục 4.4 của CDNT "4.4. Gian lận, bao gồm các hành vi sau đây: a) Trình bày sai một cách cố ý hoặc làm sai lệch thông tin, hồ sơ, tài liệu của một bên trong đấu thầu nhằm thu được lợi ích tài chính hoặc lợi ích khác hoặc nhằm trốn tránh bất kỳ một nghĩa vụ nào; c) Nhà thầu cố ý cung cấp các thông tin không trung thực trong E-HSDT dẫn đến làm sai lệch kết quả lựa chọn nhà thầu". Như vậy, E-HSDT của Nhà thầu có hành vi gian lận.

Thứ ba, về nhân sự chủ chốt Tại biểu mẫu 06A của HSMT quy định "Nhà thầu phải kê khai những nhân sự chủ chốt theo quy định tại điểm a Mục 2.2 Chương III và phải chứng minh khả năng sẵn sàng huy động các nhân sự này để tham gia thực hiện gói thầu. Trường hợp nhân sự chủ chốt mà nhà thầu kê khai trong E-HSDT không đáp ứng yêu cầu của E-HSMT, bên mời thầu cho phép nhà thầu làm rõ, thay đổi, bổ sung nhân sự chủ chốt để đáp ứng yêu cầu của E-HSMT trong một khoảng thời gian phù hợp nhưng không ít hơn 03 ngày làm việc. Đối với mỗi nhân sự không đáp ứng, nhà thầu chỉ được thay thế một lần. Trường hợp nhà thầu không có nhân sự thay thế đáp ứng yêu cầu của E-HSMT thì E-HSDT bị loại. Trường hợp nhà thầu kê khai không trung thực thì nhà thầu sẽ bị đánh giá là gian lận, không được thay thế nhân sự và bị loại".

Bên mời thầu đã có văn bản số 96x/CV-BQL cho phép nhà thầu thay thế, bổ sung nhân sự và yêu cầu không được bố trí nhân sự trùng với các nhân sự đã huy động cho gói thầu khác. Tuy nhiên, nhà thầu không thay đổi các nhân sự đã đề xuất.

Mặt khác, qua tra cứu trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, ông Văn Thành T - Chỉ huy trưởng công trường đang tham gia thi công cho gói thầu số BT-W-0X: Thi công hệ thống tưới bằng đường ống áp lực, công trình hệ thống đu đủ - Tân Thành đoạn K0-J2 và thiết bị Scada (bao gồm chi phí bảo hiểm và chi phí dự phòng), vị trí đảm nhiệm: Chỉ huy trưởng công trường. Quyết định trúng thầu ngày 20-10-2022, thời gian thực hiện hợp đồng là 24 tháng.

Vì vậy, nhân sự chủ chốt của Nhà thầu không đáp ứng yêu cầu quy định tại mục 2.2 Chương III của E-HSMT.

Thứ tư, về thiết bị thi công chủ yếu:

Sau khi Nhà thầu bổ sung theo văn bản số 96x/CV-BQL, thay thế thiết bị, thiết bị chủ yếu là Ô tô biển số 36C-146.xx sẽ hết hạn hiệu lực đăng kiểm vào ngày 24-12-2022 theo giấy chứng nhận kiểm định số 82423xx do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới tỉnh Thanh Hóa kiểm định không đáp ứng hiệu lực của HSDT và ngay trong thời gian Tổ chuyên gia đang đánh giá E-HSDT của Nhà thầu.

Sau khi có kết quả giải quyết kiến nghị lần đầu của Ban Quản lý dự án, ngày 19-01-2023, Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái có Quyết định số 87/QĐ- UBND về việc Giải quyết kiến nghị lần hai về kết quả lựa chọn nhà thầu Gói thầu số 2x của Tổng công ty X Thanh Hóa - Công ty Cổ phần. Tại Quyết định đã kết luận: “Nhà thầu bị loại do không đạt yêu cầu của E-HSMT trong việc kê khai tổng nguồn lực tài chính (TNL) theo mẫu số 08B và kê khai tổng nguồn lực tài chính hàng tháng cho các hợp đồng đang thực hiện (ĐTH) theo mẫu số 08C”. Đối với quyết định giải quyết kiến nghị của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái, Ban Quản lý dự án nhất trí những nội dung giải quyết và đã rút kinh nghiệm về nội dung liên quan là nhân sự chủ chốt, thiết bị thi công chủ yếu cho các gói thầu sau.

Như vậy, nhà thầu là Tổng công ty X Thanh Hóa - Công ty Cổ phần khi lập E-Hồ sơ dự thầu gói thầu số 2x đã không tuân thủ yêu cầu của E-Hồ sơ mời thầu, ngay cả sau khi Nhà thầu làm rõ và bị loại do: Nhà thầu có đặt điều kiện, bỏ sót nội dung; không đạt yêu cầu của E-HSMT trong việc kê khai tổng nguồn lực tài chính (TNL) theo mẫu số 08B và kê khai tổng nguồn lực tài chính hàng tháng cho các hợp đồng đang thực hiện (ĐTH) theo mẫu số 08C” và có hành vi gian lận.

Ban Quản lý dự án tỉnh Yên Bái ra thông báo kết quả đấu thầu và quyết định phê duyệt kết quả đấu thầu nói trên là căn cứ vào các quy định của Luật Đấu thầu, Nghị định 63/2014/NĐ-CP ngày 26-6-2014 của Chính phủ; Thông tư 10/2022/TT-BKHĐT ngày 15-6-2022 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định chi tiết việc cung cấp, đăng tải thông tin và lựa chọn nhà đầu tư trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia và Hồ sơ mời thầu. Việc nhà thầu bị loại không phải do lỗi của Ban Quản lý dự án tỉnh Yên Bái. Mặt khác tại mục 8, chương I chỉ dẫn nhà thầu trong E-HSMT có quy định: Nhà thầu phải chịu mọi chi phí liên quan đến quá trình tham dự thầu. Chi phí nộp E-HSDT theo quy định tại E- BDL, trong mọi trường hợp, bên mời thầu không chịu trách nhiệm về chi phí liên quan đến việc tham dự thầu của nhà thầu.

Do đó, Ban quản lý dự án không đồng ý với yêu cầu của Tổng công ty X Thanh Hóa - Công ty Cổ phần về việc: Buộc Ban quản lý dự án bồi thường thiệt hại về kinh tế trong quá trình chuẩn bị E-HSDT với số tiền: 99.583.000 đồng; Buộc Ban Quản lý dự án phải xin lỗi Tổng công ty X Thanh Hóa - công ty cổ phần bằng văn bản.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của bị đơn giữ nguyên các ý kiến đã trình bày tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại về kinh tế trong quá trình chuẩn bị hồ sơ dự thầu nên đây là vụ án “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm” được quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là Ban Quản lý dự án có địa chỉ trụ sở tại tổ 2, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Ban Quản lý dự án là Chủ đầu tư gói thầu số 2x: Thi công xây dựng công trình kè chống sạt lở một số điểm suối Ngòi Thia và suối Ngòi hút tỉnh Yên Bái, hạng mục: đê kết hợp kè chống sạt lở bờ trái suối Thia thuộc xã Phúc Sơn, xã Thạch Lương, thị xã Nghĩa Lộ từ cọc C16 đến cọc KC; trực tiếp là bên mời thầu và có trách nhiệm phê duyệt hồ sơ mời thầu, tổ chức lựa chọn nhà thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu và phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu đối với gói thầu số 2x. Nhà thầu là Tổng công ty X Thanh Hóa – Công ty Cổ phần nộp hồ sơ dự thầu theo đúng quy định.

Ngày 26-12-2022, Ban Quản lý dự án ra thông báo kết quả lựa chọn nhà thầu và đăng tải trên mạng đầu thầu quốc gia, trong đó nhà thầu là Tổng công ty X Thanh Hóa – Công ty Cổ phần không trúng thầu. Công ty cho rằng Ban Quản lý dự án đã đánh giá E-HSDT của Công ty không đúng, từ đó đã làm thiệt hại về kinh tế cho Tổng công ty X Thanh Hóa – Công ty Cổ phần trong quá trình chuẩn bị E – HSDT nên đã khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Để đánh giá nguồn lực tài chính khi tham gia dự thầu, Tổng công ty X Thanh Hóa – Công ty Cổ phần đã kê khai và đính kèm tài liệu theo mẫu 8B bao gồm: Cam kết tín dụng do Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam phát hành ngày 13-12-2022 với số tiền 12 tỷ đồng; vốn lưu động năm 2021 là 39.672.783.505 đồng; hợp đồng cấp tín dụng ngân hàng T số THA201912499XXX/HDTD, hạn mức tín dụng cho vay là 250 tỷ đồng có hiệu lực từ ngày 28-6-2022 đến 28-6-2023. Tuy nhiên, theo Công văn số 13xx/2022/TCB-THA ngày 22-12-2022 của Ngân hàng T Việt Nam – Chi nhánh Thanh Hóa xác nhận đến 10 giờ 05 phút ngày 22-12-2022, hạn mức tín dụng còn lại Công ty được phép sử dụng theo Hợp đồng tín dụng THA201912499XXX/HDTD ngày 22-5-2019 chỉ còn 68.739.917.476 đồng. Như vậy, Công ty kê khai không trung thực, không chính xác thông tin trên mẫu 8B về hạn mức tín dụng còn lại của Hợp đồng tín dụng THA201912499XXX/HDTD ngày 22-5-2019 trong E-HSDT, dẫn đến tổng nguồn lực tài chính đã kê khai của công ty theo mẫu 8B trước và sau khi làm rõ theo Công văn số 13xx/2022/TCB-THA có giá trị khác nhau.

Đối với nguồn lực tài chính hàng tháng cho các hợp đồng dở dang: Công ty kê khai và đính kèm tài liệu theo mẫu 8C bao gồm 02 công trình dở dang là Gói thầu số 1x thi công xây dựng cầu cơ giới trên sông Thạch Luyện tại Km1 + 849,05 và nạo vét, xây dựng tuyên đê bao hồ Thượng Hòa, dự án kè chống sạt lở và nạo vét tiêu thoát khu kinh tế trong điểm Nghị Sơn (giai đoạn 1) và gói thầu số 05: thi công xây dựng công trình lắp đạt thiết bị (bao gồm bảo hiểm công trình) khu neo đậu tàu thuyền phục vụ di dân tái định cư xã Hải Hà, huyện Tĩnh Gia (nay là thị xã Nghi Sơn), tỉnh Thanh Hóa. Tuy nhiên tại Văn bản làm rõ số 3xx/CV-NT ngày 23-12-2023, các tài liệu kèm theo và theo lời trình bày của Công ty thì ngoài 02 công trình đang thực hiện đã kê khai tại Biểu mẫu 8C nêu trên, công ty còn 18 hợp đồng trúng thầu và đang thực hiện dở dang khác nhưng công ty chỉ bổ sung cung ứng tín dụng cho 18 công trình đang thực hiện mà không kê khai bổ sung, không cung cấp đúng các tài liệu theo yêu cầu của bên mời thầu để tính toán tổng các yêu cầu về nguồn lực tài chính theo chỉ dẫn tại Biểu 8C của E-HSMT.

Công ty cho rằng, trong E – HSDT Công ty đã đính kèm bản cam kết tín dụng của ngân hàng cam kết đáp ứng đủ và kịp thời nguồn vốn tín dụng với giá trị 12.000.000.000 đồng trong suốt quá trình thi công để hoàn thành gói thầu nếu Công ty trúng thầu Gói thầu số 2x là hoàn toàn đáp ứng yêu cầu về nguồn lực tài chính để thi công hoàn thành công trình. Tuy nhiên, tại Biểu mẫu 8C của E-HSMT chỉ dẫn: “.....bên cạnh sử dụng cam kết cấp tín dụng, nhà thầu vẫn phải kê khai thông tin theo mẫu này và mẫu 8C”.

Căn cứ các mục 27.2, 27.3 chỉ dẫn nhà thầu của E-HSMT, Công ty đã “đặt ra các điều kiện có tính hạn chế hoặc thể hiện sự không chấp nhận hoàn toàn đối với các yêu cầu trong E-HSMT” và “không cung cấp được một phần hoặc toàn bộ thông tin hay tài liệu theo yêu cầu nêu trong E-HSMT”, tức là đã “đặt điều kiện” và “bỏ sót nội dung”. Theo mục 28 chương I chỉ dẫn nhà thầu của E-HSMT, Ban Quản lý dự án đánh giá E-HSDT của Công ty không đạt trong kê khai tổng nguồn lực tài chính tại biểu 8B và kê khai tổng nguồn lực tài chính hàng tháng cho các hợp đồng đang thực hiện theo mẫu 8C là có căn cứ.

Về nhân sự chủ chốt, thiết bị thi công chủ yếu:

Công ty đã kê khai và đính kèm tài liệu về nhân sự chủ chốt theo các mẫu 6A, 6B, 6C, trong đó Ban Quản lý dự án cho rằng nhân sự Văn Thành T không đáp ứng về tính sẵn sàng huy động cho gói thầu đang xét và đã cho phép Công ty thay thế, bổ sung nhân sự, yêu cầu không được bố trí trùng với các nhân sự đã huy động cho các gói thầu khác nhưng Công ty không chứng minh được khả năng sẵn sàng huy động nhân sự đối với ông Văn Thành T mà chỉ có cam kết nên Ban Quản lý dự án đã đánh giá E-HSDT của Công ty không đạt tại bước đánh giá nhân sự chủ chốt. Tuy nhiên nội dung này không được quy định cụ thể, rõ ràng là tiêu chí để loại hồ sơ của nhà thầu trong E-HSMT.

Đối với thiết bị thi công chủ yếu: Tại mẫu 6D, Công ty kê khai thiết bị thi công chủ yếu là ô tô tự đổ biển kiểm soát 36C-146.xx, trọng tải 8,3T, sẽ hết hạn kiểm định vào ngày 24-12-2022 theo giấy chứng nhận kiểm định số 82423xx do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới tỉnh Thanh Hóa kiểm định. Do thời điểm đóng thầu gói thầu số 2x là 09 giờ ngày 10-12-2022. Ngoài ra theo khoản 1 Điều 64 Luật Đấu thầu quy định “Tại thời điểm ký kết, hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất của nhà thầu được lựa chọn còn hiệu lực” Tuy nhiên tại thời điểm đánh giá không xác định được chính xác thời điểm ký kết hợp đồng nên thiết bị vẫn đạt yêu cầu của E-HSMT.

Do đó, Ban Quản lý dự án đánh giá E-HSDT của Công ty không đạt tại các mục nhân sự chủ chốt, thiết bị thi công chủ yếu là chưa phù hợp. Quá trình giải quyết vụ án, Ban Quản lý dự án cũng thừa nhận những sai sót này.

Ngoài ra, việc Công ty trình bày Ban Quản lý dự án đánh giá E-HSDT của công ty không đạt tại bước đánh giá năng lực kinh nghiệm (nhân sự chủ chốt, thiết bị thi công) là chưa đúng. Theo Thông báo số 15x/TB-BQL về kết quả lựa chọn nhà thầu gói thầu số 2x của Ban Quản lý dự án, nhà thầu Tổng công ty X Thanh Hóa – Công ty Cổ phần không trúng thầu là do: Nhà thầu không đáp ứng yêu cầu về năng lực kinh nghiệm theo yêu cầu của E-HSMT; đồng thời trên mạng đấu thầu quốc gia, Ban Quản lý dự án đánh giá nhà thầu không đạt tại bước đánh giá năng lực kinh nghiệm, nhân sự chủ chốt, thiết bị thi công chứ không phải chỉ là không đạt tại bước đánh giá năng lực kinh nghiệm (nhân sự chủ chốt, thiết bị thi công).

Mặc dù Ban Quản lý dự án có sai sót trong đánh giá về nhân sự chủ chốt, thiết bị thi công chủ yếu trong E-HSDT của nhà thầu, nhưng nhà thầu là Tổng công ty X Thanh Hóa – Công ty Cổ phần vẫn không đạt yêu cầu của E-HSMT trong việc kê khai tổng nguồn lực tài chính theo mẫu 8B và kê khai tổng nguồn lực tài chính hàng tháng cho các hợp đồng đang thực hiện theo mẫu 8C. Do đó, nhà thầu không đạt tại bước đánh giá năng lực và kinh nghiệm và bị loại theo mục 28 chương I về chỉ dẫn nhà thầu của E-HSMT.

Việc Ban Quản lý dự án đánh giá E-HSDT của Công ty không đạt và bị loại là có căn cứ, phù hợp với quy định tại theo Điều 74, Điều 75; Điều 89 của Luật Đấu thầu; Điều 18 của Nghị định 63/2014/NĐ-CP ngày 26-6-2014 quy định chi tiết một số điều của Luật Đấu thầu; không gây thiệt hại thực tế cho Tổng công ty X Thanh Hóa – Công ty Cổ phần trong quá trình chuẩn bị hồ sơ dự thầu nên Ban Quản lý dự án không có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại và không phải xin lỗi Công ty bằng văn bản là phù hợp quy định tại Điều 584; Điều 589 của Bộ luật Dân sự 2015.

[2.2] Đối với khoản tiền công ty yêu cầu bồi thường thiệt hại là 99.583.000 đồng, gồm: Chi phí nộp hồ sơ dự thầu: 300.000 đồng; chi phí nộp bảo lãnh tín dụng: 1.972.603 đồng; chi phí cung cấp tín dụng: 2.400.000 đồng; chi phí nộp giải quyết kiến nghị: 11.710.000 đồng; trả lương cho cán bộ làm hồ sơ thầu: 65.000.000 đồng; chi phí khảo sát công trường, hợp đồng cung ứng vật tư: 18.200.000 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy đây là các chi phí bắt buộc đối với nhà thầu khi tham gia dự thầu và khi làm thủ tục kiến nghị kết quả lựa chọn nhà thầu, không phải thiệt hại thực tế xảy ra do lỗi của Ban Quản lý dự án trong quá trình chấm thầu. Ngoài ra, tại mục 8, chương I chỉ dẫn nhà thầu trong E-HSMT cũng quy định: “Nhà thầu phải chịu mọi chi phí liên quan đến quá trình tham dự thầu. Chi phí nộp E-HSDT theo quy định tại E-BDL, trong mọi trường hợp, bên mời thầu không chịu trách nhiệm về chi phí liên quan đến việc tham dự thầu của nhà thầu”. Do đó việc Công ty yêu cầu Ban Quản lý dự án phải bồi thường thiệt hại tổng số tiền là 99.583.000 đồng là không có cơ sở.

[3] Về án phí, quyền kháng cáo: Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên Tổng công ty X Thanh Hóa – Công ty Cổ phần phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ban Quản lý dự án không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 26; Điều 35; Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 74; Điều 75; Điều 89 của luật Đấu thầu. Căn cứ Điều 584; Điều 589 của Bộ luật Dân sự 2015; Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của Công ty X Thanh Hóa – Công ty cổ phần về việc yêu cầu Ban Quản lý dự án bồi thường thiệt hại tổng số tiền là 99.583.000 đồng và xin lỗi Công ty X Thanh Hóa – Công ty cổ phần bằng văn bản.

2. Về án phí:

Công ty X Thanh Hóa – Công ty cổ phần phải chịu 4.979.150 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 2.500.000 đồng mà Công ty đã nộp theo biên lai số AA/2022/0000170 ngày 14-3-2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Yên Bái. Công ty X Thanh Hóa – Công ty cổ phần còn phải nộp 2.479.150 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ban Quản lý dự án không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Ðiều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 30 Luật Thi hành án dân.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

56
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm số 05/2023/DS-ST

Số hiệu:05/2023/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Yên Bái - Yên Bái
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 25/07/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về