Bản án về tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm số 106/2021/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 106/2021/DS-ST NGÀY 05/04/2021 VỀ TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO SỨC KHỎE BỊ XÂM PHẠM

Trong ngày 05 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 254/2020/TLST-DS ngày 17 tháng 7 năm 2020 về tranh chấp “Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2021/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 02 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2021/QĐST-DS ngày 26 tháng 02 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Trần Thị H, sinh năm: 1978 Địa chỉ: xã ĐH, huyện CT, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn:

1/ Nguyễn Thị N, sinh năm: 1970

2/ Nguyễn Thị N1, sinh năm: 1984

3/ Nguyễn Thị N2, sinh năm: 1989 Địa chỉ: xã ĐH, huyện CT, tỉnh Tiền Giang.

- Người làm chứng: Hồ Thị Tuyết L, sinh năm: 1968 Địa chỉ: xã ĐH, huyện CT, tỉnh Tiền Giang.

(Chị H, chị N1, bà N, chị L có mặt; chị N2 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày:

Vào sáng ngày 27/12/2019 khi đang ở trong nhà chị H nghe thấy có tiếng động và nghi ngờ có người lấy đá chọi vào nhà mình nên ra ngoài xem có gì không. Khi ra ngoài chị H trông thấy có bóng người bỏ chạy rất giống bà Nguyễn Thị N nên chị H la lên. Lúc này con của bà N là chị Nguyễn Thị N1 chạy ra và hai bên xảy ra cự cải. Đến khoảng 09 giờ sáng cùng ngày chị H có đến trình báo sự việc trên cho Chi hội trưởng Hội phụ nữ ấp Bắc B. Trên đường về đến đoạn đi ngang nhà của bà N thì chị N1 chạy ra chặn đầu xe của chị H và hai bên lại tiếp tục cải vả. Sau đó chị N1 dùng tay đánh vào đầu chị H nhiều cái, bà N dùng tay đánh vào bụng và ngực chị H nhiều cái, chị H bị té nằm xuống đường và được mọi người đưa về nhà. Sau sự việc chị H có đến trình báo Công an xã ĐH và đến Bệnh việc đa khoa trung tâm Tiền Giang để khám bệnh. Nay chị H yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm gồm các khoản sau:

- Tiền thuốc điều trị: 3.871.181đồng.

- Tiền xe đi lại khám bệnh: 512.000đồng.

- Tiền mất thu nhập cho người nuôi bệnh trong thời gian nhập viện điều trị: 750.000đồng.

- Tiền thuê người chăm sóc: 1.000.000đồng. Tổng cộng là 6.133.181đồng.

Tại bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn chị Nguyễn Thị N1 trình bày: Vào khoảng tháng 12/2019 giữa chị N1 và chị H có xảy ra cự cải, nguyên nhân là do chị H vu khống mẹ của chị là bà Nguyễn Thị N lấy đá chọi vào nhà chị H. Sau đó, khi thấy chị H đi ngang nhà của chị N1 nên chị N1 có ra gặp chị H và hai bên tiếp tục cải vả. Trong lúc hai bên cải vả chị N1 có dùng tay đánh vào mặt chị H hai cái. Chị N1 xác định chỉ đánh chị H hai cái vào mặt chứ không có đánh nhiều cái như lời trình bày của chị H, và sự việc xô xát xảy ra chỉ có chị N1 với chị H, còn bà N không có tham gia và cũng không có đánh chị H. Nay chị N1 không đồng ý theo toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

Tại bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:

Bà N không có tham gia đánh chị H vào ngày 27/12/2019 nên không đồng ý theo toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bị đơn chị Nguyễn Thị N2 dù đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 14/10/2020 và tại phiên tòa người làm chứng Hồ Thị Tuyết L trình bày:

Vào sáng ngày 27/12/2019 chị L có nghe hàng xóm gọi chị sang nhà bà N để can ngăn việc xô xát giữa chị H với chị N1. Khi chị L đến nhà bà N thì đã thấy chị H nằm dưới đất, lúc này chị N1 và bà N đang đứng cạnh chị H. Sau đó chị L đến đỡ chị H đứng dậy để đưa về nhà thì chị N1 có xông đến dùng tay đánh vào trán của chị H một cái. Toàn bộ sự việc xảy ra trước đó chị L không có chứng kiến.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng, nguyên đơn đã thực hiện đúng, bị đơn không thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Về nội dung giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 26, 91, 147, 227, 228, 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 584, 586, 590 của Bộ luật dân sự năm 2015:

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị H, không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị N bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.

- Buộc chị Nguyễn Thị N1 có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho chị Trần Thị H gồm chi phí khám chữa bệnh, tiền thuốc là 3.871.181đồng, tiền xe đi lại là 256.000đồng, tiền mất thu nhập cho 02 ngày nhập viện và 04 ngày đi tái khám là 720.000, tổng cộng số tiền là 4.847.181đồng.

- Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí đi lại cho người đi cùng và tiền thuê người chăm sóc bệnh.

- Đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu chị Nguyễn Thị N2 bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] – Về tố tụng: Bị đơn chị Nguyễn Thị N2 dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc vì trở ngại khách quan. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Ngoan.

[2] – Về quan hệ pháp luật: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”.

[3] – Về nội dung vụ án:

[3.1] Xét thấy, ngày 22/10/2020 nguyên đơn chị Trần Thị H có đơn xin rút lại yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn chị Nguyễn Thị N2 và tại phiên tòa chị H vẫn giữ yêu cầu. Căn cứ vào khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này của nguyên đơn.

[3.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hai bên đương sự trình bày thống nhất vào sáng ngày 27/12/2019 giữa chị H và chị N1 có xảy ra cự cải. Nguyên nhân là do chị H nghi ngờ bà Nguyễn Thị N là mẹ ruột của chị N1 dùng đá chọi vào nhà chị H. Khi nghe thấy tiếng chị H chửi bà N nên chị N1 có lớn tiếng với chị H. Sau đó, khoảng 09 giờ cùng ngày, lúc này chị H đang đi ngang qua nhà bà N thì chị H, chị N1 lại tiếp tục cải vả và hai bên đã xảy ra xô xát. Sự việc xảy ra chị H có trình báo cho Công an xã ĐH và tiến hành nhập viện để điều trị, có giấy xác nhận của Bệnh viện đa khoa trung tâm Tiền Giang xác nhận chị H nhập viện ngày 28/12/2019, xuất viện ngày 30/12/2019 và được cấp giấy chứng nhận thương tích số 11/CN-BV ngày 16/01/2020.

Tại Công văn số 2485/CAH-ĐTTH ngày 31/10/2020 của Công an huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xác định vụ việc xảy ra ngày 27/12/2019 giữa chị H, chị N1, bà N không có dấu hiệu của tội phạm hình sự mà chỉ là vi phạm hành chính nên Công an huyện Châu Thành không thụ lý giải quyết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đồng thời chuyển hồ sơ đến Công an xã ĐH để xem xét phạt vi phạm hành chính theo quy định. Đồng thời, tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0002103/QĐ-XPHC ngày 23/3/2020 của Công an xã ĐH đã xử phạt chị Nguyễn Thị N1 số tiền là 750.000đồng do có hành vi đánh chị H vào ngày 27/12/2019. Tại phiên tòa chị N1 cũng thừa nhận có dùng tay đánh vào mặt chị H, lời thừa nhận này phù hợp với lời khai của người làm chứng. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định người gây ra thương tích cho chị H là chị N1, do đó chị N1 phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt cho chị H. Việc chị H yêu cầu bà N bồi thường thiệt hại sức khỏe cho chị H là không có cơ sở nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.

[3.3] Về mức bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa, chị H yêu cầu bị đơn bồi thường tiền viện phí, tiền khám chữa bệnh, tiền thuốc, tiền xe đi lại, tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh và tiền thuê người chăm sóc bệnh, cụ thể các khoản sau: Chi phí khám chữa bệnh, cấp giấy chứng nhận thương tích, tiền thuốc là 3.871.181đồng, tiền xe đi lại là 512.000đồng, tiền mất thu nhập của người chăm sóc bệnh là 750.000đồng, tiền thuê người chăm sóc bệnh là 1.000.000đồng.

Xét thấy, tại giấy ra viện ngày 30/12/2019 và giấy chứng nhận thương tích số 11/CN-BV ngày 16/01/2020 của Bệnh viện đa khoa trung tâm Tiền Giang thể hiện chị H có nhập viện điều trị từ ngày 28/12/2019 đến ngày 30/12/2019 và được chuẩn đoán là chấn thương đầu/bị đánh. Theo các hóa đơn viện phí, tiền thuốc trong thời gian điều trị là chi phí khám chữa bệnh nội trú trong thời gian nhập viện là 1.105.185đồng, tiền khám bệnh vào các ngày 06/01/2020, 15/01/2020, 05/02/2020 mỗi lần là 37.000đồng, chi phí cấp giấy chứng nhận thương tích là 145.000đồng, hóa đơn tiền thuốc ngày 06/01/2020 là 986.976đồng, hóa đơn tiền thuốc ngày 15/01/2020 là 743.646đồng, hóa đơn tiền thuốc ngày 05/02/2020 là 779.374đồng, tổng cộng là 3.871.181đồng. Xét thấy, các khoản chi phí nêu trên có hóa đơn, chứng từ có xác nhận của Bệnh viện đa khoa trung tâm Tiền Giang, đây là những khoản chi thực tế mà chị H đã bỏ ra trong thời gian điều trị nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét yêu cầu bồi thường thu nhập bị mất của người chăm sóc bệnh trong thời gian chị H nhập viện điều trị từ ngày 28/12/2019 đến 30/12/2019. Xét lời trình bày của chị H trong 03 ngày nhập viện thì con gái là người trực tiếp chăm sóc cho chị H, công việc hiện tại của con gái chị là làm thuê và thu nhập không ổn định, chị H yêu cầu bồi thường thu nhập bị mất mỗi ngày là 250.000đồng x 03 ngày với số tiền là 750.000đồng. Xét yêu cầu này là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên, tại biên bản xác minh ngày 20/11/2020 thì mức thu nhập bình quân của lao động phổ thông tại địa phương là 120.000đồng/ 01 người/ 01 ngày. Do vậy, chị H yêu cầu mức bồi thường do thu nhập bị mất của người chăm sóc bệnh là 250.000đồng/ 01 ngày là quá cao so với thực tế, cho nên Hội đồng xét xử chấp nhận mức bồi thường là 120.000đồng x 03 ngày với số tiền là 360.000đồng.

Xét yêu cầu bồi thường chi phí thuê người chăm sóc trong thời gian xuất viện về nhà với số tiền yêu cầu là 100.000đồng/ 01 ngày x 10 ngày là 1.000.000đồng. Xét lời trình bày của chị H sau khi xuất viện chị không thể tự đi lại, chăm sóc bản thân nên thuê người chăm sóc. Xét thấy, tại giấy ra viện ngày 30/12/2019 và giấy chứng nhận thương tích số 11/CN-BV ngày 16/01/2020 của Bệnh viện đa khoa trung tâm Tiền Giang xác định tình trạng thương tích của chị H như sau: Lâm sàng: đau đầu; cận lâm sàng: CT-Scan đầu không máu tụ nội sọ; phương pháp điều trị giảm đau, uống thuốc theo toa và tái khám tại địa phương, đồng thời thương tích của chị H chỉ tổn thương nông ở vùng đầu (bút lục số 06), không bị ảnh hưởng ở các bộ phận khác nên việc chị H trình bày không thể tự đi lại, chăm sóc bản thân là không có cơ sở. Việc chị H thuê người chăm sóc sau thời gian xuất viện là do chị tự thực hiện không theo chỉ định của bác sĩ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.

Xét yêu cầu về tiền xe đi lại trong thời gian khám chữa bệnh: Tại phiên tòa chị H trình bày sau khi bị đánh thì phần đầu của chị hay bị nhức, do đó đi lại phải có người đi cùng, cho nên những lần chị H đi khám bệnh đều có người đi theo. Nay chị H yêu cầu bồi thường tiền xe đi lại cho chị và người đi cùng với số tiền là 512.000đồng, cụ thể tổng cộng tất cả là 04 lần đi, trong đó 01 lần nhập viện điều trị và 03 lần đi tái khám, mỗi lần đi 02 lượt gồm 01 lượt đi xe ôm là 50.000đồng/ 01 người và 01 lượt đi xe buýt là 14.000đồng/ 01 người. Xét thấy, chị H yêu cầu bồi thường tiền xe đi lại gồm 01 lần nhập viện và 03 lần đi khám bệnh, đây là các khoản phí liên quan đến việc điều trị vết thương bị đánh, đồng thời mức yêu cầu bồi thường là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên, như đã phân tích nêu trên, vết thương chị H chỉ tổn thương nông ở vùng đầu, thương tích nhẹ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của chị H về việc yêu cầu bị đơn bồi thường chi phí đi lại cho người đi cùng mà chỉ chấp nhận chi phí đi lại của chị H cho 04 lần khám bệnh với số tiền là 256.000đồng.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị H, buộc chị N1 có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm với số tiền là 4.487.181đồng.

[4] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tại phiên tòa phù hợp một phần nhận định của Hồi đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 26, 147, 244, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị H.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị N bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.

Buộc chị Nguyễn Thị N1 có nghĩa vụ bồi thường cho chị Trần Thị H số tiền là 4.487.181đồng (Bốn triệu bốn trăm tám mươi bảy nghìn một trăm tám mươi mốt đồng). Thời gian thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày chị H có đơn yêu cầu thi hành án nếu chị N1 chậm trả tiền còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

2/ Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H về việc yêu cầu chị Nguyễn Thị N2 bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.

3/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị N1 phải chịu 300.000đồng. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự


20
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm số 106/2021/DS-ST

Số hiệu:106/2021/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:05/04/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về