Bản án về tranh chấp bảo hiểm xã hội số 890/2023/LĐ-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 890/2023/LĐ-PT NGÀY 28/08/2023 VỀ TRANH CHẤP BẢO HIỂM XÃ HỘI

Trong ngày 28 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 46/2023/TLPT-LĐ ngày 10 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội”.

Do Bản án lao động sơ thẩm số 30/2023/LĐ-ST ngày 23 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3049/2023/QĐPT-LĐ ngày 26 tháng 7 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 11108/2023/QĐPT-LĐ ngày 17 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Lê Đình T; sinh năm 1978;

Địa chỉ thường trú: 502/55/68 đường H, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh;

Địa chỉ liên lạc: 113, đường Số D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Có mặt;

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: ông Trần Ngọc V; sinh năm: 1987, là luật sư của Công ty L -S -N, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; địa chỉ liên lạc: 517 (Tầng A) đường L, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Có mặt.

2. Bị đơn: Công ty Liên doanh T1 - B - B.

Địa chỉ: Lầu B, số E Công trường M, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:

- Ông Huỳnh Đắc D - Trưởng phòng hành chính nhân sự; Vắng mặt;

- Bà Đăng Thị Diệu V1 - Phó phòng hành chính nhân sự; Có mặt; (Giấy ủy quyền số 18/VBB-UQ-HCNS ngày 01 tháng 8 năm 2023).

Người kháng cáo: Bị đơn - Công ty Liên doanh T1 - B - B.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Đơn khởi kiện; bản tư khai và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Lê Đình T trình bày:

Từ tháng 02/2018 đến tháng 03/2022 ông T có làm việc tại Công ty Liên doanh T1 (viết tắt là Công ty V2). Thời gian làm việc liên tục tại Công ty V2 là 4 năm 0,5 tháng. Trong thời gian làm việc, ông T được Công ty V2 đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm y tế (BHYT) theo quy định của pháp luật. Tháng 03/2022 ông T xin thôi việc tại Công ty V2. Trong thời gian làm việc tại Công ty V2, ông T tham gia đóng bảo hiểm ở 02 Công ty khác nhau.

Vào ngày 13/5/2022 ông T làm việc với Công ty V2 và có nguyện vọng giảm trùng bảo hiểm tại Công ty V2. Công ty V2 đã lập hồ sơ đăng ký với bảo hiểm xã hội giảm trùng toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm của ông T tại Công ty V2 từ tháng 02/2018 đến tháng 03/2022, lý do: đóng trùng bảo hiểm.

Ngày 19 tháng 7 năm 2022, Bảo Hiểm xã hội (BHXH) Thành phố Hồ Chí Minh gửi thông báo số 3876/BHXH-QLT, trả lời văn bản số 115/VBB-HCNS. Trong thông báo số tiền giảm trùng của ông được (BHXH) Tp Hồ Chí Minh trả về cho Công ty V2 số tiền là: 191.224.000 đồng. Tuy nhiên vào ngày 29/8/2022, Công ty V2 chỉ thanh toán cho ông T số tiền bảo hiểm của người lao động đóng. Còn tiền bảo hiểm Công ty V2 đóng cho người lao động thì Công ty V2 không thanh toán cho ông T. Điều này trái với Luật Bảo hiểm. Theo luật bảo hiểm Việt Nam, tại tiết e điểm 3.1 khoản 3 Điều 43 Quyết định 595/QĐ-BHXH thì sau khi giảm trùng bảo hiểm thì BHXH sẽ thanh toán lại toàn bộ số tiền đóng bảo hiểm của ông cho Công ty V2 và Công ty V2 có trách nhiệm thanh toán lại tiền bảo hiểm (gồm tiền bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp của Công ty và của người lao động) cho ông T.

Ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án:

1. Buộc Công ty Liên doanh T1 hoàn trả lại số tiền 123.544.000 đồng thuộc phần giảm trùng đã được B1 đã hoàn trả dưới hình thức khấu trừ vào số tiền BHXH phải nộp tháng 5/2022 của Công ty V2.

2. Buộc Công ty Liên doanh T1 - B - T1 thanh toán số tiền 13.728.000 đồng là tiền công ty không thực hiện đóng Bảo hiểm xã hội từ tháng 01/2022 đến tháng 03/2022.

Tổng số tiền phải hoàn trả và thanh toán là 137.272.000 đồng. Công ty có trách nhiệm thanh toán một lần ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật.

3. Buộc Công ty Liên doanh T1 đóng Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho ông theo quy định của pháp luật từ tháng 02/2018 đến tháng 03/2022.

Trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn- Công ty Liên doanh T1 có ông Huỳnh Đắc D và bà Dăng Thị Diệu V1 trình bày:

Ông Lê Đình T ký Hợp đồng lao động chính thức tại Công ty Liên doanh T1 (viết tắt là Công ty V2) từ tháng 02/2018 đến ngày 16/3/2022. Trong thời gian làm việc tại Công ty V2, ông T đã cung cấp thông tin đóng BHXH cá nhân và được Công ty đăng ký tham gia và hưởng các chế độ Bảo hiểm xã hội (BHXH), Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), Bảo hiểm y tế (BHYT) theo quy định pháp luật, tại Bảo hiểm xã hội Thành phố H, số sổ: 0115071676.

Trước đó, từ tháng 4/2015 ông Lê Đình T cũng tham gia Bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH Một Thành Viên T2 (tại BHXH quận T, Hà Nội), cùng số sổ: 0115071676 theo Thông báo số 87453/2022/079/TB ngày 28/3/2022 của BHXH TP.. Tuy nhiên ông Lê Đình T không thông báo cho Công ty V2 về việc ông T đang tham gia BHXH tại đơn vị khác.

Tháng 2/2022, BHXH rà soát thông tin và tự động giảm BHXH của ông Lê Đình T tại Công ty V2, vì lý do đóng trùng tại 2 đơn vị. Công ty V2 đã làm việc với ông Lê Đình T theo quy định. Ông T có nguyện vọng cắt BHXH tại Công ty V2 và giữ BHXH tại Công ty T2.

Ngày 16/3/2022, ông Lê Đình T đã chấm dứt Hợp đồng lao động với Công ty V2. Công ty đã chi trả đầy đủ tiền trợ cấp thôi việc, lương tháng 13, phúc lợi cho nhân viên khi nghỉ việc theo quy định pháp luật và Công ty, số tiền: 10.300.000 đồng.

Đối với việc đóng trùng bảo hiểm xã hội trên cùng 01 số sổ, Công ty đã trao đối với Cơ quan Bảo hiểm xã hội Thành phố H và được hướng dẫn là trường hợp này do Người lao động và Người sử dụng lao động tự thỏa thuận.

Ngày 13/5/2022, Công ty đã mời ông Lê Đình T lên làm việc để thống nhất phương án giải quyết. Sau khi giải thích các quy định pháp luật và hướng dẫn các thủ tục có liên quan, hai bên thống nhất các nội dung sau:

- Công ty sẽ lập hồ sơ đăng ký giảm toàn bộ thời gian đóng BHXH của ông T tại Công ty V2 từ tháng 02/2018 đến tháng 02/2022, lý do: đóng trùng đơn vị khác;

- Ông T có thời gian đóng BHXH tại 2 đơn vị trên cùng một số BHXH số 0115071676. Do đó, sau khi BHXH hoàn trả lại tiền BHXH, BHTN, BHYT (nếu có) đã đóng cho Công ty V2, số tiền BHXH được giải quyết như sau:

+ Số tiền BHXH thuộc trách nhiệm của người lao động theo quy định pháp luật và theo Hợp đồng lao động: Công ty V2 hoàn trả lại cho ông T;

+ Số tiền thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động: Công ty V2 nhận lại. Theo nội dung thống nhất nêu trên, Công ty đã làm thủ tục giảm toàn bộ quá trình đóng BHXH của ông T, đồng thời tính toán tất cả các khoản BHXH mà Công ty đã đóng cho ông T, cụ thể như sau: Số tiền BHXH thuộc trách nhiệm của ông T đã đóng (tính đến hết tháng 02/2022): 67.680.000 đồng - số tiền BHXH thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động mà Công ty đã đóng cho ông T (tính đến hết tháng 02/2022): 137.272.000 đồng. Ngày 29/8/2022, Công ty đã hoàn trả đủ số tiền BHXH là 67.680.000 đồng cho ông Lê Đình T.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn sửa đổi yêu cầu khởi kiện. Cụ thể:

- Đề nghị Tòa án buộc Công ty Liên doanh T1 - B - B hoàn trả lại số tiền 134.304.000 đồng là tiền BHXH mà bị đơn đã nộp cho nguyên đơn.

- Nguyên đơn xin rút yêu cầu buộc Công ty Liên doanh T1 - B - T1 đóng Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật từ tháng 02/2018 đến tháng 03/2022.

- Đối với yêu cầu buộc Công ty Liên doanh T1 - B - T1 thanh toán số tiền 13.728.000 đồng là tiền công ty không thực hiện đóng Bảo hiểm xã hội từ tháng 01/2022 đến tháng 03/2022. Nguyên đơn xác định do phần này tính nhầm và đã được tính vào yêu cầu khởi kiện thứ nhất.

Bị đơn đồng ý với cách tính số tiền 134.304.000 đồng là tiền BHXH mà nguyên đơn đưa ra. Nhưng không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại Bản án lao động sơ thẩm số 30/2023/LĐ-ST ngày 23 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Đình T. Buộc Công ty Liên doanh T1 có nghĩa vụ thanh toán cho ông Lê Đình T số tiền 134.304.000 đồng thuộc phần giảm trùng đã được Bảo hiểm xã hội Thành phố H hoàn trả dưới hình thức khấu trừ vào số tiền BHXH phải nộp tháng 5/2022 của Công ty Liên doanh T1 - B - B.

2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện bổ sung của nguyên đơn ông Lê Đình T về việc rút yêu cầu buộc Công ty Liên doanh T1 - B - T1 đóng Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật từ tháng 02/2018 đến tháng 03/2022.

Ngoài ra Bản án lao động sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự.

Ngày 05 tháng 6 năm 2023, bị đơn - Công ty Liên doanh T1 - Benthanh nộp đơn kháng cáo toàn bộ Bản án lao động sơ thẩm số 30/2023/LĐ-ST ngày 23 tháng 5 năm 2023.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không nộp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác so với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập tại Tòa cấp sơ thẩm. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

* Bị đơn là Công ty Liên doanh T1 - Benthanh có người đại diện theo ủy quyền là bà Đặng Thị Diệu V1 trình bày:

Ông T đóng BHXH trên cùng một số BHXH : 0115071676 tại hai công ty khác nhau không phải là hai số BHXH được quy định tại Điều 3 Quyết định 490/QĐ-BHXH ngày 28/3/2023 của B2. Tòa cấp sơ thẩm áp dụng quy định nêu trên là không phù hợp. Mặt khác, Tòa cấp sơ thẩm áp dụng Quyết định 490/QĐ- BHXH ngày 28/3/2023 của B2 có hiệu lực từ ngày 01/4/2023, trong khi đó thời điểm giải quyết BHXH của ông Lê Đình T là tháng 7/2022, là chưa phù hợp về hiệu lực áp dụng văn bản pháp luật. Theo quy định tại Điều 3 Quyết định 490 thì bên có trách nhiệm hoàn trả tiền BHXH đóng trùng cho người lao động là cơ quan BHXH. Tòa sơ thẩm buộc Công ty V2 phải hoàn trả tiền đóng trùng BHXH cho người lao động là không phù hợp quy định pháp luật. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ là số BHXH bản cứng của ông T tại Công ty T2, không xác minh tại Cơ quan BHXH để xác định ông T có mấy số BHXH.

Từ những căn cứ nêu trên; Bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, Hủy bản án lao động sơ thẩm hoặc sửa bản án lao động sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn số tiền bảo hiểm là 134.304.000 đồng.

*Nguyên đơn là ông Lê Đình T và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn-ông Trần Ngọc V trình bày:

Ông T làm việc và ký hợp đồng lao động tại hai công ty là Công ty V3 vào tháng 4/2015 và Công ty V2 vào năm 2018. Hai Công ty này đều kê khai đóng BHXH cho ông T theo quy định của pháp luật. Do đóng trùng BHXH nên Cơ quan BHXH Thành phố H đã hoàn trả số tiền đóng trùng cho ông T là 204.952.000 đồng. Số tiền này được cấn trừ vào số tiền BHXH phải nộp tháng 5/2022 của Công ty V2. Công ty V2 chỉ mới trả lại cho ông T số tiền bảo hiểm của người lao động đóng là 67.680.000 đồng; Còn tiền bảo hiểm Công ty V2 đóng cho người lao động là 137.272.000 đồng thì Công ty V2 không thanh toán cho ông T. Biên bản làm việc ngày 13/5/2022 giữa ông T và Công ty V2 không có giá trị pháp lý vì ông D không được người đại diện theo pháp luật của Công ty V4 ủy quyền và ông T bị ép buộc phải ký vào biên bản, nếu không ký thì Công ty V2 không làm thủ tục giảm trùng BHXH cho ông T. Nguyên đơn Không đồng ý nội dung và căn cứ kháng cáo của bị đơn. Nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án lao động sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở phúc thẩm như sau:

- Về Đơn kháng cáo của bị đơn: Đơn kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định nên được chấp nhận.

- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong giai đoạn phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án lao động sơ thẩm số 30/2023/LĐ-ST ngày 23 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của Công ty Liên doanh T1 - B - Benthanh trong hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận.

[2] Về tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Huỳnh Đắc D đã được triệu tập hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt. Do đó, Tòa án căn cứ vào Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Huỳnh Đắc D.

[3] Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn - Công ty Liên doanh T1 - Benthanh Ông Lê Đình T làm việc tại Công ty Liên doanh T1 (gọi tắt là Công ty V2) từ tháng 02/2018 đến ngày 16/3/2022 (có ký Hợp đồng lao động). Trong thời gian làm việc tại Công ty V2, ông T đã cung cấp thông tin đóng bảo hiểm xã hội cá nhân và được Công ty V2 đăng ký tham gia và hưởng các chế độ Bảo hiểm xã hội (BHXH), Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), Bảo hiểm y tế (BHYT) theo quy định pháp luật tại cơ quan Bảo hiểm xã hội Thành phố H (B1). Ông T được BHXH cấp số sổ bảo hiểm: 0115071676.

Căn cứ xác nhận của các bên đương sự và Thông báo số 87453/2022/079/TB ngày 28/3/2022 của B3 thì từ tháng 4/2015 ông Lê Đình T cũng đang tham gia BHXH tại Công ty TNHH Một Thành Viên T2 (tại BHXH quận T, Thành phố Hà Nội), cùng số sổ: 0115071676 theo Thời gian đóng đến tháng 3 năm 2023. Tuy nhiên, khi ký hợp đồng lao động mới với Công ty V2, ông T không thông báo cho Công ty V2 về việc ông T đang tham gia BHXH tại đơn vị khác.

Tháng 2/2022, BHXH rà soát thông tin và tự động giảm BHXH của ông T tại Công ty V2, vì lý do đóng trùng tại 2 đơn vị. Công ty V2 đã làm việc với ông Lê Đình T. Ông T có nguyện vọng cắt BHXH tại Công ty V2 và giữ BHXH tại Công ty T2.

Ông Lê Đình T đã ký Hợp đồng lao động và tham gia BHXH tại Công ty TNHH Một Thành Viên T2 từ tháng 4/2015. Do đó, khi ký Hợp đồng lao động thứ 2 tại Công ty V2 vào tháng 02/2018, Công ty V2 và ông T không phải đóng BHXH, BHTN cho ông T. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và bị đơn xác nhận do đóng trùng BHXH nên Cơ quan BHXH Thành phố H đã hoàn trả số tiền đóng trùng cho ông T là 204.952.000 đồng. Số tiền này được cấn trừ vào số tiền BHXH phải nộp tháng 5/2022 của Công ty V2. Công ty V2 đã trả lại cho ông T số tiền bảo hiểm của người lao động đóng là 67.680.000 đồng tính đến hết tháng 02/2022); Còn tiền bảo hiểm Công ty V2 đóng cho người lao động là 137.272.000 đồng thì Công ty V2 không thanh toán cho ông T. Công ty V2 đồng ý cách tính của ông T đối với số tiền bảo hiểm Công ty V2 đóng cho người lao động là 134.304.000 đồng.

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 3 Quyết định 490/QĐ-BHXH ngày 28/3/2023 của B4 sửa đổi Khoản 67 Điều 1 Quyết định số 505/QĐ-BHXH ngày 27/3/2020 của Tổng giám đốc B4 sửa đổi, bổ sung một số điều của quy trình thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, quản lý sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế ban hành kèm theo Quyết định 595/QĐ- BHXH ngày 14/4/2017 của Tổng giám đốc B4 (bổ sung tiết e, điểm 3.1 khoản 3 Điều 43 Quyết định 595) quy định: “Trường hợp 1 người có từ 2 số BHXH trở lên, có thời gian đóng BHXH, BHTN trùng nhau thì cơ quan BHXH thực hiện hoàn trả cho người lao động số tiền đơn vị và người lao động đã đóng vào quỹ hưu trí, từ tuất và số tiền đã đóng vào quỹ BHTN (bao gồm cả số tiền thuộc trách nhiệm đóng BHXH, BHTN của người sử dụng lao động), không bao gồm tiền lãi”.

Căn cứ Thông báo số 87453/2022/079/TB ngày 28/3/2022 của B1 thể hiện từ tháng 4/2015 ông Lê Đình T cũng đang tham gia BHXH tại Công ty TNHH Một Thành Viên T2 (tại BHXH quận T, Thành phố Hà Nội), cùng số sổ: 0115071676 theo Thời gian đóng đến tháng 3 năm 2023. Hai số BHXH nguyên đơn cung cấp tuy cùng một số nhưng thể hiện nguyên đơn đã đồng thời nộp và đóng BHXH tại hai công ty khác nhau, do đó Tòa cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

Bị đơn đề nghị hủy bản án sơ thẩm với lý do trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ là số BHXH bản cứng của ông T tại Công ty T2, không xác minh tại Cơ quan BHXH để xác định ông T có mấy số BHXH. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị hủy bản án sơ thẩm của bị đơn không có cơ sở nên không chấp nhận.

Bị đơn cho rằng Tòa cấp sơ thẩm áp dụng Quyết định 490/QĐ-BHXH ngày 28/3/2023 của B2 có hiệu lực từ ngày 01/4/2023, trong khi đó thời điểm giải quyết BHXH của ông Lê Đình T là tháng 7/2022, là chưa phù hợp về hiệu lực áp dụng văn bản pháp luật. Hội đồng xét xử nhận thấy: Nội dung quy định tại Khoản 3 Điều 3 Quyết định 490/QĐ-BHXH ngày 28/3/2023 của B4, Khoản 67 Điều 1 Quyết định số 505/QĐ-BHXH ngày 27/3/2020 của Tổng giám đốc B4 bổ sung tiết e, điểm 3.1 khoản 3 Điều 43 Quyết định 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017 của Tổng giám đốc B4 nội dung như nhau nên Tòa cấp sơ thẩm áp dụng Quyết định 490/QĐ-BHXH ngày 28/3/2023 của B2 có hiệu lực từ ngày 01/4/2023 là có căn cứ.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án lao động sơ thẩm Số 30/2023/LĐ-ST ngày 23 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ nên chấp nhận.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án lao động sơ thẩm số 30/2023/LĐ-ST ngày 23 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

[4] Về án phí:

[4.1] Án phí lao động sơ thẩm:

- Ông Lê Đình T không phải chịu tiền án phí lao động sơ thẩm theo quy định pháp luật.

- Công ty Liên doanh T1 - B - T1 phải chịu án phí lao động sơ thẩm là 4.029.000 đồng.

[4.2] Về án phí lao động phúc thẩm:

Bị đơn - Công ty Liên doanh T1 phải chịu án phí lao động phúc thẩm là 300.000 đồng do kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 32, khoản 2 Điều 148, Điều 293, khoản 2 Điều 296, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 5, Khoản 1 Điều 168 của Bộ luật lao động năm 2019;

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 3 Quyết định số 490/QĐ-BHXH ngày 28/3/2023 của Tổng giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam sửa đổi bổ sung một số điều của quy trình thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quản lý sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế ban hành kèm theo Quyết định số 595/QĐ- BHXH ngày 14/4/2017 của Tổng giám đốc bảo hiểm xã hội V5 và sửa đổi bổ sung Điều 1 của Quyết định Số 505/QĐ-BHXH ngày 27/3/2020 của Tổng giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào Luật Thi hành án Dân sự năm 2008; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014;

Tuyên xử:

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn - Công ty Liên doanh T1 - B - B. Giữ nguyên Bản án lao động sơ thẩm số 30/2023/LĐ-ST ngày 23 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Đình T. Buộc Công ty Liên doanh T1 có nghĩa vụ thanh toán cho ông Lê Đình T số tiền 134.304.000 (Một trăm ba mươi bốn triệu ba trăm lẻ bốn nghìn) đồng thuộc phần giảm trùng đã được Bảo hiểm xã hội Thành phố H hoàn trả dưới hình thức khấu trừ vào số tiền BHXH phải nộp tháng 5/2022 của Công ty Liên doanh T1 - B - B.

2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện bổ sung của nguyên đơn ông Lê Đình T về việc rút yêu cầu buộc Công ty Liên doanh T1 - B - T1 đóng Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật từ tháng 02/2018 đến tháng 03/2022.

3. Về án phí 3.1. Về án phí lao động sơ thẩm:

- Ông Lê Đình T không phải chịu tiền án phí lao động sơ thẩm theo quy định pháp luật.

- Công ty Liên doanh T1 - B - T1 phải chịu án phí lao động sơ thẩm là 4.029.000 (Bốn triệu không trăm hai mươi chín nghìn) đồng.

3.2. Về án phí lao động phúc thẩm:

Bị đơn - Công ty Liên doanh T1 phải chịu án phí lao động phúc thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí lao động phúc thẩm bị đơn đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu án phí, lệ phí Tòa án Số AA/2023/0043627 ngày 06/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty Liên doanh T1 đã nộp đủ án phí lao động phúc thẩm.

4. Các đương sự thi hành án tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

103
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp bảo hiểm xã hội số 890/2023/LĐ-PT

Số hiệu:890/2023/LĐ-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Lao động
Ngày ban hành:28/08/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về