Bản án về tranh chấp bảo hiểm xã hội số 06/2024/LĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 06/2024/LĐ-ST NGÀY 28/03/2024 VỀ TRANH CHẤP BẢO HIỂM XÃ HỘI

Ngày 28 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 366/2023/TLST-LĐ ngày 24 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp “Về bảo hiểm xã hội” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 37/2024/QĐXXST-DS, ngày 22 tháng 02 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QĐST-LĐ ngày 12 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đặng Thị T, sinh năm 1973. Địa chỉ: Ấp I, xã L, huyện B, tỉnh Long An.

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1966. Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Long An. (Văn bản ủy quyền ngày 07/11/2023).

Bị đơn: Công ty Cổ phần L (gọi tắt Công ty L). Địa chỉ trụ sở chính: Lô D 1a, đường D, Khu Công Nghiệp P, xã A, huyện B, tỉnh Long An.

Người đại diện hợp pháp theo pháp luật của Công ty: Ông Lê T2 - Giám đốc.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bảo hiểm xã hội huyện B, tỉnh Long An.

Người đại diện hợp pháp theo pháp luật: Bà Lê Thị Huỳnh H - Chức vụ: Giám đốc. (Bà T1 có mặt tại phiên tòa, các đương sự còn lại vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Đơn khởi kiện ngày 31/7/2023, Đơn đề nghị thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện ngày 20/02/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Tháng 02 năm 2016, bà Đặng Thị T được Công ty Cổ phần L tuyển dụng làm việc tại Công ty và đến năm 2022 Công ty đã ký Hợp đồng không xác định thời hạn từ ngày 01 tháng 8 năm 2022; Chức vụ công nhân, vị trí làm việc chế biến rau, củ quả; mức lương là 4.896.000 đồng/tháng. Bà T làm việc tại Công ty đến tháng 12/2022 nghỉ việc. Bà T đã đóng Bảo hiểm xã hội đầy đủ cho Công ty nhưng từ tháng 05/2021 đến tháng 12/2022, Công ty không thanh toán tiền lương cho bà T và cũng không chốt sổ Bảo hiểm xã hội. Mặc dù, bà T nhiều lần yêu cầu Công ty chốt sổ Bảo hiểm nhưng đến nay Công ty cũng không thực hiện.

Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu bị đơn Công ty Cổ phần L có trách nhiệm chốt sổ Bảo hiểm xã hội Mã số 8012065361 cho bà Đặng Thị T với số tiền là 26.300.051 đồng. Trong đó, số tiền chậm đóng là 23.089.480 đồng; lãi chậm đóng tạm tính đến tháng 12/2023 là 3.210.571 đồng, các yêu cầu buộc Công ty phải thanh toán tiền lương tháng 12/2022; Bồi thường chi phí đi lại là 10.000.000 đồng, thì nguyên đơn không yêu cầu Tòa án xem xét. Ngoài ra, nguyên đơn không còn ý kiến hay yêu cầu nào khác.

Bị đơn Công ty Cổ phần L đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Bảo hiểm xã hội huyện B, tỉnh Long An đã cung cấp số liệu bảo hiểm xã hội của bà Đặng Thị T và có Đơn đề nghị vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc, các phiên xét xử của Tòa án các cấp.

Tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp cho Tòa án gồm: Hợp đồng lao động 00353/HĐLĐ/2022_3 ngày 01/8/2022; Số Bảo hiểm xã hội; Biên bản làm việc, căn cước công dân, sổ hộ khẩu của nguyên đơn.

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt tại phiên tòa xác định: Ngoài những chứng cứ đã cung cấp cho Tòa án không còn chứng cứ nào khác để cung cấp cho Tòa án và không yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ. Đồng thời, xác định không yêu cầu Tòa án triệu tập ai hoặc đưa thêm ai khác vào tham gia tố tụng trong vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An tham gia phiên tòa sơ thẩm phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Bến Lức thụ lý đơn khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về việc tranh chấp “Về bảo hiểm xã hội” là đúng thẩm quyền. Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo pháp luật tố tụng và những người tham gia tố tụng trong vụ án đã chấp hành pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về nội dung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ; Qua diễn biến phiên tòa sơ thẩm công khai hôm nay, thì có đủ cơ sở xác định:

Về yêu cầu thanh toán khoản tiền nợ lương tháng 12/2022 và yêu cầu đòi bồi thường chi phí đi lại số tiền 10.000.000 đồng: người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn đã có Đơn thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện là rút lại một phần yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này.

Hợp đồng lao động số 00353/HDLĐ/2022-3 ngày 01/08/2022 giữa bà T và Công ty L, là hợp đồng không xác định thời hạn. Theo quy định khoản 1 Điều 186 Bộ luật Lao động, Điều 2 và khoản 2 Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội, thì người sử dụng lao động, người lao động phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc; hằng tháng người sử dụng lao động có trách nhiệm trích tiền lương của người lao động để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội. Việc Công ty L không thực hiện đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 05/2021 đến tháng 12/2022 cho bà T là trái quy định của pháp luật nên cần phải buộc Công ty thực hiện đóng bảo hiểm xã hội với số tiền gốc theo bảng tạm tính của Bảo hiểm xã hội huyện B là 23.089.480 đồng. Do Công ty L chậm đóng Bảo hiểm xã hội nên phải chịu lãi chậm đóng theo quy định của Bảo hiểm xã hội huyện B, cụ thể theo bảng tạm tính đến tháng 12/2023, thì số lãi chậm đóng mà Công ty phải chịu là 3.210.571 đồng. Như vậy, Công ty L phải thực hiện đóng tiền bảo hiểm xã hội còn nợ cho bà T là: 23.089.480 đồng gốc + 3.210.571 đồng lãi = 26.300.051 đồng.

Từ những nhận định trên, căn cứ các Điều 186, Điều 188 của Bộ luật Lao động 2019; Điều 17, Điều 18, Điều 19, Điều 21, Điều 85, Điều 86, khoản 2 Điều 89 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng:

[1]. Nguyên đơn khởi kiện bị đơn yêu cầu chốt sổ bảo hiểm xã hội nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp “Về bảo hiểm xã hội”. Căn cứ Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm thuộc Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

[2]. Xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án: Nguyên đơn bà Đặng Thị T khởi kiện bị đơn Công ty Cổ phần L. Căn cứ Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xác định Công ty Cổ phần L là bị đơn, Bảo hiểm xã hội huyện B, tỉnh Long An, là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

[3]. Bị đơn Công ty Cổ phần L đã được Tòa án triệu tập lần thứ 2 vẫn vắng mặt không có lý do; Bảo hiểm xã hội huyện B, tỉnh Long An có Đơn đề nghị vắng mặt. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định.

[4]. Về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện: Ngày 20/02/2024, nguyên đơn xin rút lại yêu cầu khởi kiện về việc buộc bị đơn Công ty Cổ phần L trả tiền lương tháng 12/2022 với số tiền 6.355.824 đồng và bồi thường chi phí đi lại với số tiền là 10.000.000 đồng. Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[5]. Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn Công ty Cổ phần L phải đóng bảo hiểm xã hội với số tiền là 26.300.051 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại Văn bản số 496/CV-BHXH ngày 22/12/2023 của Bảo hiểm xã hội huyện B khẳng định Công ty Cổ phần L có đăng ký tham gia BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN cho bà Đặng Thị T tại Bảo hiểm xã hội huyện B với Mã số 8012065361 từ tháng 02/2016, đến tháng 12/2023 với mức lương 4.896.000 đồng. Công ty Cổ phần L chưa thực hiện lập hồ sơ bảo giảm, ngưng đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN và chốt trả sổ cho bà T vì lý do Công ty đang nợ tiền đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN từ tháng 5/2021. Như vậy, có đủ căn cứ xác định giữa bà Đặng Thị T và Công ty Cổ phần L có quan hệ lao động.

[6]. Theo quy định tại Điều 21 của Luật bảo hiểm xã hội, thì trách nhiệm của người sử dụng lao động phải đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật. Bà Đặng Thị T đã không còn làm việc tại Công ty từ tháng 12/2022 cho đến nay. Căn cứ khoản 2 Điều 48 Bộ luật Lao động, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm: “Hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng với bản chính giấy tờ khác nếu người sử dụng lao động đã giữ của người lao động”. Như vậy, có đủ căn cứ buộc Công ty Cổ phần L phải đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 5/2021 đến hết tháng 12/2022 cho bà Đặng Thị T với số tiền là 26.300.051 đồng. Trong đó, số tiền chậm đóng là 23.089.480 đồng; lãi chậm đóng tạm tính đến tháng 12/2023 là 3.210.571 đồng, là phù hợp với lời phát biểu của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức tham gia phiên tòa.

[7]. Về án phí lao động sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn Công ty Cổ phần L phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 165, Điều 227, Điều 244 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 6, 20, 48, 168 và Điều 188 Bộ luật Lao động; Căn cứ các Điều 17, 18, 19, 21, 85, 86 và khoản 2 Điều 89 Luật Bảo hiểm xã hội;

Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu của nguyên đơn bà Đặng Thị T về việc buộc bị đơn trả tiền lương tháng 12 với số tiền 6.355.824 đồng và bồi thường chi phí đi lại là 10.000.000 đồng.

2. Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị T đối với bị đơn Công ty Cổ phần L về việc tranh chấp “Về bảo hiểm xã hội”.

3. Buộc bị đơn Công ty Cổ phần L có nghĩa vụ nộp tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp còn nợ vào tài khoản thu của cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện B để chốt sổ bảo hiểm xã hội cho bà Đặng Thị T số tiền là 26.300.051 đồng. Trong đó, số tiền chậm đóng là 23.089.480 đồng; lãi chậm đóng tạm tính đến tháng 12/2023 là 3.210.571 đồng.

Công ty Cổ phần L còn phải chịu tiền lãi trên số tiền bảo hiểm xã hội chậm đóng theo quy định Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế.

4. Về án phí lao động sơ thẩm: Buộc bị đơn Công ty Cổ phần L phải nộp 300.000 đồng án phí. Nguyên đơn bà Đặng Thị T được miễn án phí nên không phải hoàn trả tiền tạm ứng án phí.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

“Trường hợp bản án hoặc quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

134
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp bảo hiểm xã hội số 06/2024/LĐ-ST

Số hiệu:06/2024/LĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bến Lức - Long An
Lĩnh vực:Lao động
Ngày ban hành:28/03/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về