Bản án về tranh chấp bảo hiểm xã hội số 05/2025/ST-LĐ ngày 11/07/2025

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 05/2025/ST-LĐ NGÀY 11/07/2025 VỀ TRANH CHẤP BẢO HIỂM XÃ HỘI

Vào ngày 11 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án lao động thụ lý số 64/2025/TLST-LĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025 về “Tranh chấp bảo hiểm xã hội”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 251/2025/QĐXXST-LĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025, giữa:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kim H, sinh năm 1976; địa chỉ: Số C ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang (nay là xã H, tỉnh An Giang); địa chỉ tạm trú: 389/7/5, đường N, khu phố F, tổ H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Bị đơn: Công ty T; địa chỉ: T đất số 209 và 1937, tờ bản đồ 142, tổ A, đường L, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh), vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bảo hiểm xã hội thành phố T (nay là bảo hiểm xã hội khu vực XXVII), địa chỉ: Đường N, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh), có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Kim H trình bày:

Bà H được tuyển dụng vào làm việc tại Công ty cổ phần T từ tháng 3 năm 2022, hai bên có ký kết hợp đồng lao động xác định thời hạn, vị trí công việc Công nhân may với mức lương theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động là 4.7000.000 đồng/tháng. Bà H làm tại công ty từ tháng 3/2022 nhưng đến tháng 6/2022 Công ty mới tham gia bảo hiểm. Trong quá trình làm việc tại Công ty có trừ tiền bảo hiểm xã hội của bà H vào tháng 6/2022, 7/2022 và tháng 8/2022 mới mức tiền 493.500 đồng/tháng nhưng không đóng cho cơ quan bảo hiểm đến đầu tháng 9/2022 bà H nghỉ việc. Sau đó, bà H liên hệ với cơ quan bảo hiểm và được biết Công ty chưa thanh toán bảo hiểm cho bà từ tháng 6/2022 đến tháng 8/2022. Hiện nay bà Nguyễn Kim H xác định yêu cầu Công ty đóng tiền bảo hiểm xã hội và trả tờ rời đóng bảo hiểm xã hội cho bà từ tháng 6 năm 2022 đến tháng 8 năm 2022.

Bị đơn Công ty cổ phần T vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Bảo hiểm xã hội thành phố T trình bày: bà Nguyễn Kim H, sinh ngày 01/01/1976; CCCD số 091176003xxx, tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp với mã số bảo hiểm 7412087xxx, hiện công ty cổ phần T nợ bảo hiểm xã hội các tháng 6/2022, 7/2022 và 8/2022 tiền bảo hiểm của bà H với tổng số nợ là 4.718.080 đồng (chưa bao gồm tiền lãi). Do bận công việc nên bảo hiểm xã hội thành phố T đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh:

- Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Lao động; các Điều 18, 19, 21, 22 Luật Bảo hiểm Xã hội năm 2014; Công văn số 171/CV-BHXH ngày 18/4/2025 của Bảo hiểm Xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dương đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tranh chấp về bảo hiểm xã hội, buộc Công ty cổ phần T phải đóng tiền bảo hiểm xã hội và xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội cho bà H theo đúng quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về tố tụng và quan hệ tranh chấp: Bà Nguyễn Kim H khởi kiện yêu cầu Công ty cổ phần T đóng tiền bảo hiểm xã hội và trả tờ rời đóng bảo hiểm xã hội. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội” được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2]Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn Công ty cổ phần T có địa chỉ trụ sở chính tại: Thửa đất số 209 và 1937, tờ bản đồ số 142, tổ A, Đường L, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh). Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.

[3]Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Bà Nguyễn Kim H và Bảo hiểm thành phố T có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự.

[4]Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà H yêu cầu Công ty đóng tiền bảo hiểm cho bà H từ tháng 6/2022 đến tháng 8/2022. Căn cứ công văn số 171/CV- BHXH ngày 18/4/2025 của Bảo hiểm xã hội thành phố T (nay là bảo hiểm xã hội khu vực XXVII) xác định: Bà Nguyễn Kim H, sinh ngày 01/01/1976, mã số Bảo hiểm xã hội 7412087xxx có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội tại cổ phần Thương mại sản xuất T từ tháng 6/2022 đến tháng 8/2022. Hiện nay Công ty cổ phần T đang nợ BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN cho mã số Bảo hiểm xã hội 7412087xxx là 4.718.080 đồng (chưa bao gồm lãi chậm đóng). Như vậy, từ tháng 6/2022 đến tháng 8/2022 Công ty đã trích lương của bà H nhưng không nộp tiền bảo hiểm xã hội cho bà H và không trả tờ rời đóng bảo hiểm cho bà H là vi phạm pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà H theo quy định tại khoản 5 Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội, khoản 3 Điều 48 của Bộ luật Lao động nên yêu cầu khởi kiện của bà H là có căn cứ chấp nhận. Buộc Công ty cổ phần T phải đóng bảo hiểm xã hội cho bà Nguyễn Kim H tại bảo hiểm xã hội khu vực XXVII từ tháng 6/2022 đến tháng 8/2022, mức đóng được thực hiện theo quy định pháp luật về Bảo hiểm xã hội.

[5]Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6]Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn Công ty cổ phần T phải chịu án phí lao động sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

-Điểm d khoản 1 Điều 32; điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39,

-Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

-Điều 48 Bộ luật Lao động;

-Các Điều 17, 18, 19, 21, 85, 86, khoản 2 Điều 89 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014;

-Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội.

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Kim H đối với bị đơn Công ty cổ phần T về việc “Tranh chấp bảo hiểm xã hội”.

Buộc Công ty cổ phần T có trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội cho bà Nguyễn Kim H, sinh ngày 01/01/1976, căn cước công dân số: 091176003xxx; mã số Bảo hiểm xã hội 7412087xxx tại Bảo hiểm xã hội khu vực XXVII từ tháng 6/2022 đến tháng 8/2022. Mức đóng được thực hiện theo quy định của pháp luật về Bảo hiểm xã hội.

2.Buộc Công ty cổ phần T thực hiện xác nhận thời gian tham gia bảo hiểm xã hội cho bà Nguyễn Kim H theo quy định của pháp luật.

3.Về án phí: Công ty cổ phần T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí lao động sơ thẩm.

Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

26
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp bảo hiểm xã hội số 05/2025/ST-LĐ ngày 11/07/2025

Số hiệu:05/2025/ST-LĐ
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 6 - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:11/07/2025
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về