Bản án về tranh chấp Bảo hiểm xã hội số 02/2024/LĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 02/2024/LĐ-ST NGÀY 20/03/2024 VỀ TRANH CHẤP BẢO HIỂM XÃ HỘI

Ngày 20 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Lao động thụ lý số 23/2023/TLSTLĐ ngày 04/10/2023 về việc: “Tranh chấp về Bảo hiểm xã hội” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST-LĐ ngày 03 tháng 01 năm 2024; Thông báo về thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa số 66/2024/TB-TA ngày 22/01/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Đoàn Thanh P - sinh năm 1994 Địa chỉ: Tổ H, Ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang. (Xin vắng mặt)

Bị đơn: Công ty Cổ phần S Địa chỉ: Lô B, Khu công nghiệp H, xã H, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Hoàng O - sinh năm 1979 Địa chỉ: Lô B, Khu công nghiệp H, xã H, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. (Xin vắng mặt)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bảo hiểm xã hội huyện N. Địa chỉ: Khu H, Ấp A, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh T - sinh năm 1980 Địa chỉ: Số D Đường D, Ấp A, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện để ngày 26 tháng 6 năm 2023, và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Đoàn Thanh P trình bày:

Ông Đoàn Thanh P vào làm việc tại Công ty Cổ phần S (Sau đây viết tắt là Công ty S) từ tháng 07/2019 đến tháng 08/2019 ông P mới được ký hợp đồng lao động nhưng Công ty S không giao lại cho ông P Hợp đồng lao động. Do ảnh hưởng kinh tế, Công ty S gặp khó khăn về việc chi trả tiền lương nên tháng 03/2023, ông P đã xin thôi việc và được Công ty S đồng ý và ban hành Quyết định về việc đồng ý cho nghỉ việc số 23033101/QĐ-CTHĐQT ngày 31/03/2023. Kể từ lúc nghỉ việc đến nay, Công ty S vẫn chưa thực hiện việc chốt số Bảo hiểm xã hội và trả số Bảo hiểm xã hội cho ông P.

Việc Công ty S không đóng tiền bảo hiểm từ tháng 04/2021 đến tháng 03/2023 và không trả số bảo hiểm cho ông P dẫn đến làm ảnh hưởng đến việc hưởng chế độ thất nghiệp nên ông P yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc Công ty S phải đóng bảo hiểm cho ông P từ tháng 04/2021 đến tháng 03/2023 theo các mức lương từ 01/2020 đến tháng 6/2021: mức lương tham gia là 4.966.000 đồng; Từ tháng 10/2021 đến tháng 06/2022: mức lương tham gia là 4.966.000 đồng; Từ tháng 07/2022 đến tháng 03/2023: mức lương tham gia là 5.241.600 đồng. Tổng cộng số tiền bảo hiểm Công ty S phải đóng là 33.981.469 đồng. Và yêu cầu Công ty S trả lại số bảo hiểm xã hội cho ông P.

Công ty Cổ phần S do bà Trần Thị Hoàng O làm người đại diện theo ủy quyền xin vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày ý kiến tại các bản tự khai, Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải:

Công ty Cổ phần S xác nhận có ký hợp đồng lao động đối với ông Đoàn Thanh P và có ban hành Quyết định về việc đồng ý cho nghỉ việc số 23033101/QĐ-CTHĐQT ngày 31/03/2023.

Do tình hình kinh doanh của Công ty S gặp khó khăn nên Công ty chưa thể đóng bảo hiểm xã hội cho ông P từ tháng 04/2021 đến tháng 03/2023 với số tiền 33.981.469 đồng.

Nay đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Công ty S có ý kiến như sau: Công ty đề nghị thanh toán dần mỗi tháng 15% cho ông P, bắt đầu từ tháng 05/2024 cho đến khi đóng hết số tiền nợ cho đơn vị bảo hiểm. Cụ thể, mỗi tháng Công ty sẽ đóng bảo hiểm cho ông P với số tiền là 5.097.220 đồng.

Bảo hiểm xã hội huyện N do ông Nguyễn Thanh T đại diện trình bày: Công ty Cổ phần S chỉ hoàn thành việc thanh toán tiền Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tự nguyện cho ông Đoàn Thanh P đến tháng 03/2021. Từ tháng 04/2021 cho đến nay, Công ty Cổ phần S chưa thực hiện việc thanh toán tiền Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tự nguyện cho người lao động cho đến nay.

Đối với trường hợp ông Đoàn Thanh P thì mức lương tham gia bảo hiểm của ông P như sau: Từ tháng 01/2020 đến tháng 6/2021: mức lương tham gia là 4.966.000 đồng. Từ tháng 10/2021 đến tháng 06/2022: mức lương tham gia là 4.966.000 đồng. Từ tháng 07/2022 đến tháng 03/2023: mức lương tham gia là 5.241.600 đồng. Tổng cộng số tiền bảo hiểm Công ty S chưa thanh toán cho ông P là 33.981.469 đồng.

Bảo hiểm xã hội huyện N đề nghị Công ty S sớm thực hiện việc thanh toán tiền bảo hiểm xã hội cho người lao động để đảm bảo quyền lợi cho người lao động.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè phát biểu tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật đúng theo quy định tại Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè.

- Về nội dung: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nhận thấy yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Thanh P là hoàn toàn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn ông Đoàn Thanh P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về bảo hiểm xã hội đối với bị đơn Công ty Cổ phần S (Sau đây gọi tắt là Công ty S). Công ty S có trụ sở tại Lô B Khu công nghiệp H, xã H, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè.

[1.2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Ngày 23/01/2024 nguyên đơn ông Đoàn Thanh P có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; Ngày 19/03/2024, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Trần Thị Hoàng O có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Nguyên đơn buộc bị đơn phải đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 04/2021 đến tháng 03/2023 với các mức lương Từ tháng 01/2020 đến tháng 6/2021: mức lương tham gia là 4.966.000 đồng. Từ tháng 10/2021 đến tháng 06/2022: mức lương tham gia là 4.966.000 đồng. Từ tháng 07/2022 đến tháng 03/2023: mức lương tham gia là 5.241.600 đồng cho ông P với số tiền 33.981.469 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy: Tại văn bản số 646/CV-BHXH ngày 09/11/2023 của Bảo hiểm xã hội N khẳng định Công ty S có đăng ký tham gia BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN cho ông Đoàn Thanh P tại Bảo hiểm xã hội huyện N với mã số 8925391465 từ tháng 08/2019, đến tháng 03/2023 với các mức lương khác nhau. Tháng 04/2023, Công ty S lập hồ sơ bảo giảm lao động đối với ông P theo Quyết định về việc đồng ý cho nghỉ việc số 23033101/QĐ-CTHĐQT ngày 31/03/2023 nhưng Công ty chưa chốt số BHXH do Công ty S mới đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN cho ông P đến tháng 03/2021. Công ty S đang nợ tiền đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN cho ông P từ tháng 4/2021 cho đến tháng 03/2023. Như vậy, có đủ căn cứ xác định giữa ông Đoàn Thanh P và Công ty S có quan hệ lao động.

Theo quy định tại Điều 21 của Luật bảo hiểm xã hội thì trách nhiệm của người sử dụng lao động phải đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật. Theo Quyết định về việc đồng ý cho nghỉ việc số 23033101/QĐ-CTHĐQT ngày 31/03/2023 của Công ty S thì ông Đoàn Thanh P chấm dứt hợp đồng lao động từ ngày 31/03/2023. Như vậy, có đủ căn cứ buộc Công ty S phải đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 04/2021 đến hết tháng 3/2023 cho ông Đoàn Thanh P, với số tiền là 33.981.469 đồng.

[2.2] Nguyên đơn yêu cầu bị đơn Công ty S phải trả lại sổ bảo hiểm xã hội, Hội đồng xét xử thấy:

Theo Quyết định về việc đồng ý cho nghỉ việc số 23033101/QĐ-CTHĐQT ngày 31/03/2023 của Công ty S thì ông Đoàn Thanh P chấm dứt hợp đồng lao động từ ngày 31/03/2023.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 48 Bộ luật lao động thì người sử dụng lao động có trách nhiệm: “Hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng với bản chính giấy tờ khác nếu người sử dụng lao động đã giữ của người lao động”.

Tại Công văn số 646/CV-BHXH ngày 09/11/2023 của Bảo hiểm xã hội N thể hiện: Công ty S có đăng ký tham gia BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN cho ông Đoàn Thanh P tại Bảo hiểm xã hội huyện N với mã số 8925391465 từ tháng 08/2019 đến tháng 03/2023 với các mức lương khác nhau. Tuy nhiên, Công ty S chưa hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội cho ông Đoàn Thanh P. Như vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.3] Xét, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.4] Về án phí lao động sơ thẩm: Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án. Do đó, bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Lao động năm 2019;

- Căn cứ Điều 21 và Điều 86 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đoàn Thanh P.

- Buộc Công ty Cổ phần S phải đóng bảo hiểm xã hội cho ông Đoàn Thanh P với số tiền 33.981.469 (Ba mươi ba triệu chín trăm tám mươi mốt nghìn bốn trăm sáu mươi chín) đồng.

- Buộc Công ty Cổ phần S phải trả lại sổ bảo hiểm xã hội cho ông Đoàn Thanh P.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán số tiền phải thi hành thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thi hành.

3. Về án phí lao động sơ thẩm: Ông Đoàn Thanh P được miễn toàn bộ án phí lao động. Công ty Cổ phần S phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí lao động sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

72
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp Bảo hiểm xã hội số 02/2024/LĐ-ST

Số hiệu:02/2024/LĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nhà Bè - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Lao động
Ngày ban hành:20/03/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về