Bản án về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ số 32/2023/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ

BẢN ÁN 32/2023/HS-ST NGÀY 29/11/2023 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:

Phạm Thanh T, sinh ngày 26 tháng 8 năm 1992 tại Gia Lai; nơi cư trú: Thôn 3, xã A, thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Sỹ H, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1968; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo hiện đang tại ngoại và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

- Bị hại: Cháu Lê D, sinh ngày 28/8/2009; địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

-Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Lê Tr (là bố đẻ của cháu D), sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

-Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Lê Thị Thùy L - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

- Bị đơn dân sự đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH N - Địa chỉ trụ sở chính: Số 3/1, đường B, tổ 1, phường H, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Tăng Văn C - Quản lý đội xe- Công ty TNHH N. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ 26 phút ngày 21/5/2023, Phạm Thanh T khiển xe ô tô biển kiểm soát 20C-X kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 20R-X lưu thông bên phải đường Hồ Chí Minh theo hướng (xã Tà Rụt - cầu treo Đakrông). Khi đi đến Km 270 + 660 đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận thôn H, xã T, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị. Đây là đoạn đường thẳng, được rải thảm nhựa rộng 6 mét, ở giữa có vạch kẻ sơn màu vàng dạng đứt quãng, dùng để phân chia phần đường thành hai chiều riêng biệt, phần đường bên phải theo hướng xã Tà Rụt - cầu treo Đakrông rộng 3,1 mét, phía ngoài mép đường nhựa bên phải bên trái là lề đất. T điều khiển xe ô tô đi với vận tốc từ 40 – 46 km/giờ thì nhìn thấy phía trước bên trái đường khoảng 50 mét, có Lê Dũng đang bắt đầu đi bộ từ mép đường bên trái sang bên phải. Khi khoảng cách giữa xe ô tô do T điều khiển và Lê D còn khoảng 20 mét, Tùng điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 20C-X kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 20R-X đi sang phần đường bên trái để tránh (phần đầu xe ô tô do Tùng điều khiển nằm trên phần đường dành cho xe đi ngược chiều) thì va chạm với Lê Dũng đang đi bộ đến vạch sơn đứt quãng giữa đường gây tai nạn.

Bản kết luận giám định dấu vết cơ học số: 611/KL-KTHS ngày 26/6/2023, của Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Quảng Trị kết luận:

1. Có sự va chạm phù hợp giữa ốp nhựa mặt nạ đầu xe ô tô biển kiểm soát 20C-X kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 20R-X với vùng trán của nạn nhân Lê Dũng.

Không đủ cơ sở xác định chiều hướng va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 20C-X kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 20R-X với nạn nhân Lê Dũng.

2. Vị trí va chạm phù hợp trên hiện trường giữa xe ô tô biển kiểm soát 20C- X kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 20R-X với nạn nhân Lê Dũng là: Khu vực phía trước vị trí đánh số 4 (theo hướng khám nghiệm từ Tà Rụt đi cầu treo Đakrông) trên đường Hồ Chí Minh. Không đủ cơ sở xác định thuộc phần đường nào.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 199/KLTTCT-TTPY ngày 10/7/2023, của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Trị kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lê Dũng do thương tích gây nên hiện tại đang điều trị là 75%.

Cáo trạng số: 32/CT-VKSĐKR ngày 25/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông truy tố bị cáo Phạm Thanh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thanh T từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị đơn dân sự và bị cáo Phạm Thanh T đã thỏa thuận và bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại. Không xem xét.

Về xử lý giấy tờ tạm giữ: Trả lại cho bị cáo Phạm Thanh T một Giấy phép lái xe hạng FC số 520179008X do Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Định cấp ngày 18/12/2021 mang tên Phạm Thanh T hiện có trong hồ sơ vụ án.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Thanh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thanh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố và bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, hoàn cảnh gia đình của bị cáo để cho bị cáo được hưởng án treo.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Lê Dũng không có ý kiến gì về trách nhiệm dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đakrông, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên và Kiểm sát viên huyện Đakrông: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

[2] Về tội danh: Ngày 21/5/2023,bị cáo Phạm Thanh T có giấy phép lái xe hạng FC điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 20C-X kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 20R-X đi trên đường Hồ Chí Minh theo hướng xã Tà Rụt - Cầu treo Đakrông, đến Km 270 + 660 đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận thôn H, xã T, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị, va chạm với cháu Lê Dũng đang đi bộ sang đường, gây tai nạn. Hậu quả cháu Lê Dũng bị thương. Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 199/KLTTCT-TTPY ngày 10/7/2023, của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Trị kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lê Dũng do thương tích gây nên hiện tại đang điều trị là 75%.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, kết luận giám định dấu vết cơ học; kết luận giám định pháp y về thương tích và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Phạm Thanh T điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ do không giảm tốc độ hoặc có thể dừng lại một cách an toàn trong trường hợp có người đi bộ qua đường, đi không đúng phần đường quy định, đã vi phạm khoản 6, Điều 5 Thông tư số: 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ và khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ; gây tai nạn làm cháu Lê Dũng bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể 75%. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 260 của Bộ luật hình sự; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Phạm Thanh T theo điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự là có cơ sở.

[3] Xét tính chất nguy hiểm, mức độ hậu quả của hành vi: Bị cáo Phạm Thanh T là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thực được hành vi của mình là nguy hiểm nhưng vẫn vi phạm. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe của bị hại mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông; cần xử phạt nghiêm minh nhằm răn đe bị cáo và có tác dụng giáo dục phòng ngừa chung .

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi xảy ra tai nạn đã kịp thời cấp cứu bị hại, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự .

Xét bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, thấy rằng cần áp dụng Điều 54 cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mưc thấp nhất của khung hình phạt; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, chỉ cần xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và cũng tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo trở thành người có ích cho xã hội (Căn cứ khoản 1,2 Điều 65 của Bộ luật hình sự).

Bị cáo hiện đang thực hiện biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Cần hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối bị cáo (Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự).

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai tại phiên tòa cho thấy gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn bị cáo đang ở cùng bố, mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị đơn dân sự và bị cáo đã thỏa thuận và bồi thường toàn bộ thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại. Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt nhưng tài liệu trong hồ sơ thể hiện không có yêu cầu gì; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm. Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng và giấy tờ tạm giữ: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện Đakrông đã thu giữ: Mt xe ô tô bin kiểm soát 20C-X; một sơ mi rơ moóc bin kiểm soát 20R-X; 01 Giấy chứng nhận kiểm định số EA 1615905, bin kiểm soát đăng ký 20C-X; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 025818, mang tên Công ty TNHH N, bin kiểm soát đăng ký 20C-X; 01 Giấy chứng nhận đăng ký rơ moóc, sơ mi rơ moóc số 000869, mang tên Công ty TNHH N, bin kiểm soát đăng ký 20R- X và 01 Đôi dép trái màu đen kích thước (11 x 28) cm đã trả lại cho chủ sở hữu đúng pháp luật. Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với một giấy phép lái xe FC số 520179008X do Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Định cấp ngày 18/12/2021 mang tên Phạm Thanh T hiện có trong hồ sơ vụ án, cần trả lại giấy phép lái xe cho bị cáo Phạm Thanh T khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo Phạm Thanh T phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và khoản 1 Điều 23Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;

khoản 1,3 Điều 54; khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Phạm Thanh T 09 ( chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 ( mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án ngày 29/11/2023.

Giao bị cáo Phạm Thanh T cho Ủy ban nhân dân xã A, thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã A, thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Thanh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại và bị đơn dân sự đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

42
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ số 32/2023/HS-ST

Số hiệu:32/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đa Krông - Quảng Trị
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 29/11/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về