Bản án về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ số 132/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 132/2024/HS-ST NGÀY 11/09/2024 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 117/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Trịnh Văn M - Sinh ngày 10/9/1992, tại phường M, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường M, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trịnh Văn T - sinh năm 1953; con bà: Hoàng Thị T1 - Sinh năm: 1951; Vợ: Lê Thị T2 - Sinh năm: 1995; có 03 con; lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/6/2024 đến nay. (có mặt) - Người đại diện hợp pháp của bị hại (anh Lê Xuân P - Sinh năm 1989 - đã chết): Anh Lê Anh H - Sinh năm 1983; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH MTV Đ; Địa chỉ: Thôn H, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa

Người đại diện theo pháp luật: Anh Vũ Xuân T3 - Sinh năm 1973 - Chức vụ: Giám đốc (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trịnh Văn M, sinh năm 1992, trú tại tổ dân phố H, phường M, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, có giấy phép lái xe hạng C, hiện đang hợp đồng lái xe ô tô cho Công ty TNHH Đ, có địa chỉ tại xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Khoảng 15 giờ 45 phút, ngày 09/4/2023, Trịnh Văn M điều khiển xe ô tô tải BKS 36H-xxxx của công ty L trên đường Q theo hướng Bắc - Nam trên làn đường xe cơ giới phía ngoài giáp với làn đường xe thô sơ và người đi bộ thuộc phần đường bên phải theo hướng đi. Khi đi đến Km 371 + 400 thuộc địa phận tổ dân phố H, phường M, thị xã N, gần ngã ba nơi giao nhau giữa Quốc lộ A với đường nhánh đi vào đường N - B về phía bên phải, có biển cảnh báo nguy hiểm “Đi chậm”. Cùng thời điểm này, ở phía trước có anh Lê Xuân P, sinh năm 1989, trú tại thôn T, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa đang điều khiển xe mô tô BKS 36B4-xxxx đi cùng chiều trên cùng làn đường với M. Do muốn chuyển hướng đi vào đường nhánh đi vào đường N - B nên M bật xi nhan phải của xe ô tô và điều khiển xe ô tô vượt lên trước xe mô tô của anh P, rồi cho xe rẽ phải để đi vào đường nhánh để đi vào đường N - B. Tuy nhiên, do M điều khiển xe ô tô chuyển hướng không đảm bảo an toàn nên mặt ngoài bên phải Ba-đờ-sốc trước xe ô tô M điều khiển va chạm với mặt ngoài ốp nhựa bên trái thân xe mô tô của anh P xảy ra tai nạn giao thông, làm cả người và xe anh P đổ ngã ra đường, anh P bị xe ô tô đè qua người tử vong tại chỗ, xe mô tô bị hư hỏng nhẹ.

Tại Bản kết luận giám định số 1693/KLGĐTT-PC09 ngày 25/4/2024, Phòng K Công an tỉnh T kết luận nguyên nhân chết của anh P là do “Đa chấn thương”.

Tại Bản kết luận giám định số 1649/KL-KTHS ngày 24/4/2024, Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

“1. Dấu vết trên xe ô tô BKS 36H - xxxx:

- Mặt ngoài bên phải ba- đờ-sốc trước có vết cà trượt làm sạch bụi đất, mòn sơn, kích thước 9cm x 3cm, vết có chiều từ trước về sau, từ trái sang phải, bề mặt vết bám dính chất màu trắng và đỏ (dạng sơn, nhựa), vết cao cách đất 63cm - 66cm.

- Mặt lăn, má ngoài lốp thứ hai tính từ trước về sau bên phải tương ứng đầu hàng chữ "12.00R20"; mặt lăn lốp ngoài, lốp trong hàng lốp thứ 3, thứ 4 tính từ trước về sau bên phải tương ứng cuối hàng chữ "VABLE" (hàng lốp thứ 3), đầu hàng chữ "12.00R20" (hàng lốp thứ 4) có vết cà trượt làm sạch bụi đất, vết có chiều từ ngoài vào tâm, bề mặt vết bám dính chất màu nâu đỏ (nghi là máu).

2. Dấu vết trên xe môtô BKS 36B4-xxxx:

- Mặt ngoài ốp nhựa bên trái thân xe có vết cà trượt làm mòn sơn và nhựa, kích thước 8cm x 1cm, vết có chiều từ sau về trước, từ phải sang trái, vết cao cách mặt đất 62cm - 65cm.

- Mặt ngoài ốp nhựa cánh yếm bên trái, giá để chân trước, chân sau bên trái, bên trái tay nâng có vết cà trượt làm mòn nhựa, kim loại, vết có chiều từ trước về sau, bề mặt vết bám dính chất màu trắng (dạng bột đá).

V. KẾT LUẬN VỀ ĐỐI TƯỢNG GIÁM ĐỊNH “1. Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Mặt ngoài bên phải Ba-đờ sốc trước xe ôtô BKS 36H-xxxx với mặt ngoài ốp nhựa bên trái thân xe môtô BKS 36B4-xxxx.

2. Tại thời điểm va chạm, xe ô tô BKS 36H-xxxx chuyển động cùng chiều, từ trái sang phải so với chuyển động của xe mô tô BKS 36B4-xxxx.

3. Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu vết cà trượt mặt đường (1), được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường thuộc phần đường phía ngoài của phần đường bên phải theo chiều từ Hà Nội đi Nghệ An, tiếp giáp khu vực giao nhau giữa Quốc lộ A với đường nhánh rẽ đi N - B.

4. Không đủ cơ sở xác định vận tốc của hai phương tiện tại thời điểm va chạm.

Kèm theo kết luận giám định: 01 (một) bản ảnh khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông nói trên.” Tại Bản kết luận giám định dữ liệu điện tử ghi lại diễn biến vụ án số 2178/KL-KTHS ngày 07 tháng 6 năm 2024, Phòng K Công an tỉnh T kết luận.

“- Không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 01 (một) tệp video của 01 (một) USB gửi giám định.

- Trích xuất một số hình ảnh trong các tệp video gửi giám định - Thể hiện trong Phụ lục”.

Tại Bản kết luận giám định cồn trong mẫu máu số 1896/KL-KTHS ngày 15 tháng 5 năm 2024, Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

“- Mẫu máu của Lê Xuân P, sinh năm 1989 trú tại thôn T, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa niêm phong gửi giám định có nồng độ cồn là 16,27mg/100ml máu (một sáu phẩy hai bảy miligam trên một trăm mililit máu).

- Mẫu máu của Trịnh Văn M, sinh năm 1992 trú tại TDP H, phường M, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa niêm phong gửi giám định không có cồn.”.

Tại Bản kết luận giám định ma túy trong mẫu máu số 2771/KL-KTHS ngày 23 tháng 4 năm 2024, V Bộ C kết luận:

“Không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy trong mẫu máu ghi thu của Lê Xuân P và Trịnh Văn M gửi giám định”.

Quá trình điều tra, bị can Trịnh Văn M đã thành khẩn khai báo hành vi điều khiển xe ô tô tham gia giao thông đường bộ chuyển hướng không đảm bảo an toàn dẫn đến va chạm với xe mô tô do anh Lê Xuân P điều khiển đi cùng chiều, gây tai nạn giao thông như đã nêu trên. Lời khai của bị can phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, tử thi và phương tiện có liên quan; phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án.

Tại Bản cáo trạng số 140/CT-VKSNS ngày 26/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Trịnh Văn M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 BLHS; điểm b khoản 2 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị xử phạt Trịnh Văn M từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng; không áp dụng hình phạt bổ sung và không xem xét phần bồi thường thiệt hại; trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Trịnh Văn M, do sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 20/02/2024 và buộc bị cáo phải chịu tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HDXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:

Tại phiên tòa, Trịnh Văn M đã khai nhận: Khoảng 15 giờ 45 phút, ngày 09/4/2024, tại Km371+400 Quốc lộ A, thuộc tổ dân phố H, phường M, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, Trịnh Văn M có giấy phép lái xe hạng C theo quy định điều khiển xe ô tô tải BKS 36H-xxxx đã chuyển hướng xe không đảm bảo an toàn dẫn đến va chạm với mô tô BKS 36B4-xxxx do anh Lê Văn P1, sinh năm 1989, trú tại thôn T, xã T, thị xã N điều khiển, xảy ra tai nạn giao thông làm anh P1 bị xe ô tô đè qua chết tại chỗ, xe mô tô bị hư hỏng nhẹ, thiệt hại không đáng kể.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai người làm chứng, phù hợp với kết luận của đại diện Viện kiểm sát. Hành vi của Trịnh Văn M vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi và hậu quả thấy rằng: Hiện nay trên địa bàn thị xã N, tình trạng vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ diễn ra khá phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, gây thiệt hại về người và tài sản, làm cho nhân dân trên địa bàn hoang mang lo sợ. Vì vậy cần phải tuyên cho bị cáo một hình phạt thật nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét về nhân thân và trách nhiệm hình sự: Tiền án, tiền sự: không. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại và được người đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, nên bị cáo được áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự làm tình tiết giảm nhẹ, lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được tính khoan hồng của pháp luật. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó, xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng, mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự, cũng đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[5] Xét về phần hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Xét về bồi thường dân sự: Bị cáo Trịnh Văn M đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại Lê Xuân P với tổng số tiền 260.000.000 đồng, gia đình nạn nhân không yêu cầu gì thêm. Do đó Hội đồng xét xử miễn xét.

[7] Xét về phần vật chứng:

- Đối với 01 xe ô tô tải BKS 36H-xxxx kèm theo các giấy tờ xe, sau khi khám nghiệm phương tiện, xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe ô tô và giấy tờ xe cho chủ sở hữu hợp pháp theo quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử miễn xét.

- Đối với 01 xe mô tô BKS 36B4-xxxx kèm theo các giấy tờ xe và giấy phép lái xe hạng A1 của Lê Xuân P, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô, kèm theo đăng ký xe và giấy phép lái xe A1 cho đại diện gia đình nạn nhân Lê Xuân P theo quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử miễn xét.

- Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Trịnh Văn M do sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 20/02/2024 (hiện đang lưu trong hồ sơ vụ án), vì không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nên cần áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS để trả lại cho bị cáo là hoàn toàn chính xác.

[8] Xét về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 3 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố: Trịnh Văn M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Xử phạt: Trịnh Văn M 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 11/9/2024. Giao bị cáo Trịnh Văn M cho chính quyền Ủy ban nhân dân phường M, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo được hưởng án treo mà thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Vật chứng: Trả lại cho bị cáo Trịnh Văn M 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Trịnh Văn M do Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 20/02/2024.

- Án phí: Bị cáo Trịnh Văn M phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

141
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ số 132/2024/HS-ST

Số hiệu:132/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Nghi Sơn - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:11/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về