TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
BẢN ÁN 11/2024/HS-ST NGÀY 02/02/2024 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
Ngày 02/02/2024, tại phòng xử án thuộc trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Võ Đình C, T gọi khác: Giới tính N: Ngày tháng năm sinh: 02/01/1980; Nơi sinh: thành phố S; Nơi cư trú: 3 M, phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở hiện tại: ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Tài xế; Họ và tên cha: Võ Đình C1, sinh năm 1949 (đã chết); Họ và tên mẹ: Trần Thị Thanh T1, sinh năm 1950, ngụ thành phố cần Thơ; A, em ruột: 03 người, lớn nhất sinh năm 1973, nhỏ nhất là bị cáo; H và tên vợ: Ong Thị L, sinh năm 1984 ngụ cùng địa chỉ bị cáo; Bị cáo có 02 người con: lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2014. Tiền sự: 01 Ngày 05/01/2021 bị Công an tỉnh S phạt số tiền 1.500.000đ về hành vi đánh bạc tại QĐ số 16 (đã xoá tiền sự). Tiền án: Không. Bị cáo Võ Đình C bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/10/2023 cho đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Ông Đặng Văn N1, sinh ngày 01/01/1973. Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại là: Bà Lê Thị Ú, sinh năm 1970. Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Tô Thị H1, sinh năm 1969. Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt tại phiên tòa).
2. Ông Lưu Văn A, sinh năm 1971. Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt tại phiên tòa).
Người làm chứng:
1. Bà Nguyễn Thị Kim H2, sinh năm 1981. Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt tại phiên tòa).
2. Ông Mã Văn V, sinh năm 1968. Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1] Võ Đình C, sinh ngày 02/01/1980, ngụ ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng là tài xế lái xe ô tô tải chở hàng thuê cho vợ chồng ông Lưu Văn A và bà Tô Thị H1 cùng ngụ ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
Vào ngày 11 tháng 08 năm 2023, C có lịch điều khiển xe ô tô tải, hiệu ISUZU, màu trắng, mang biển số 83C-058.xx, có tải trọng chở hàng hóa là 5,1 tấn để đi lấy xi măng về giao cho khách.
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 11/8/2023 C điều khiển xe xuất phát đi từ thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo tuyến Quốc lộ N đi đến Công ty X thuộc huyện C, tỉnh Hậu Giang để lấy xi măng đem về giao lại cho khách hàng của ông A và bà HI.
Khoảng 14 giờ 40 phút cùng ngày, khi C điều khiển xe đến đoạn đường thuộc ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, thì có người thanh niên điều khiển xe mô tô hiệu Wave Alpha màu trắng, không rõ biển số điều khiển từ trong quán nước đi ra ngoài lộ cùng hướng với C đang lưu thông (Sóc Trăng đi thành phố cần Thơ), khi nhìn thấy người thanh niên điều khiển xe đi ra cách xe tô tải khoảng từ 1-2 mét thì C mới đạp phanh xe lại để giảm tốc độ, đồng thời C điều khiển xe sang phần đường bên trái theo chiều đi của mình để tránh va chạm với người thanh niên điều khiển xe mô tô. Khi C điều khiển xe đánh lái sang phần đường bên trái theo chiều đi của mình (hướng từ Sóc Trăng đi cần Thơ) thì bộ phận đầu xe ô tô tải biển số 83C-058.xx đụng vào xe mô tô nhãn hiệu Air Blade, biển số 83C1-431.xx do ông Đặng Văn N1, sinh ngày 01/01/1973 ngụ ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng điều khiển xe theo chiều ngược lại (hướng từ thành phố cần Thơ đi Sóc Trăng) hậu quả làm ông N1 tử vong tại chỗ. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Võ Đình C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội (bút lụt 56-79).
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 179/KLGĐTT-KTHS ngày 28/8/2023 của Phòng K - Công an tỉnh S kết luận: Nguyên nhân tử vong của ông Đặng Văn N1 là sốc đa chấn thương (Bút lụt 169-170).
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 29/BB ngày 21/9/2023 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện K, kết luận: Tổng tài sản bị hư hỏng của xe mô tô, nhãn hiệu, Air B, màu sơn Đỏ-đen, biển số 83C1-431.xx có giá trị là: 3.420.000 đồng (ba triệu, bốn trăm, hai mươi nghìn đồng) (Bút lụt 23-124). Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 29a/BB ngày 22/9/2023 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện K, kết luận: Tổng tài sản bị hư hỏng của xe ô tô tải có mui, hiệu ISUZU, màu trắng, biển số 83C-058.xx là 11.099.454 đồng (mười một triệu, không trăm, chín mươi chín nghìn, bốn trăm năm mươi bốn đồng) (Bút lụt 111-112).
Qua công tác điều tra, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm dấu vết để lại trên mặt đường, dấu vết để lại trên phương tiện, khám nghiệm tử thi Đoàn khám nghiệm kết luận lỗi trong vụ tai nạn giao thông trên là do Võ Đình C gây ra: Chương điều khiển xe ô tô tải, mang biển số 83C-058.xx không đi bên phải theo chiều đi của mình (chiều đi từ Sóc Trăng đi thành phố Cần Thơ), không đi đúng phần đường quy định, dẫn đến va chạm với xe mô tô hai bánh, biển số 83C1-431.xx do ông Đặng Văn N1 điều khiển xe theo chiều ngược lại (chiều từ thành phố cần Thơ đi tỉnh Sóc Trăng), hậu quả làm cho ông N1 tử vong tại chỗ. Hành vi của Võ Đình C đà vi phạm vào khoản 1, Điều 9 Luật giao thông đường bộ năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2018, 2019 và vi phạm vào điểm a, khoản 7, Điều 5 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ.
Trên cơ sở kết quả điều tra cùng những tài liệu chứng cứ thu được ngày 05/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện K đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Võ Đình C về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
Về tình tiết tăng nặng: Bị can C không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị can đã cùng với chủ xe tự nguyện bồi thường số tiền 135.000.000 đồng bao gồm chi phí mai táng và tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại và chi phí sửa chữa xe mô tô biển số 83C1-431.xx bị hư hỏng. Người đại diện hợp pháp cho bị hại đã làm Đơn bãi nại và xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị can.
Về thu giữ, tạm giữ tài liệu: Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Air Blade, biển số 83C1- 431.xx và giấy tờ có liên quan.
- 01 xe ô tô tải hiệu ISUZU, màu trắng, mang biển số 83C-058.xx; 01 giấy biên nhận thế chấp đối với xe ô tô biển số 83C-058.xx;01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật đối với xe ô tô biển số 83C-058.xx;01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô biển số 83C - 058.xx; 01 hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới đối với xe ô tô biển số 83C - 058.xx; 01 giấy phép lái xe và 01 thẻ căn cước công dân mang tên Võ Đình C Các tài liệu, vật chứng nêu trên đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý trao trả lại xe mô tô cho 83C1- 431.xx cho bà Lê Thị Ú là người đại diện của bị hại N1. Còn đối với ô tô biển số 83C - 058.xx và giấy tờ có liên quan đã trao trả cho chủ sở hữu xe ô tô tải là bà Tô Thị H1.
Hiện còn tạm giữ: 01 giấy phép lái xe số 9400660xxxx và 01 thẻ căn cước công dân số 0940800194xx mang tên Võ Đình C Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra người đại diện hợp pháp cho bị hại đã nhận đủ số tiền yêu cầu bồi thường là 135.000.000 đồng (Một trăm, ba mươi lăm triệu đồng), nên không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự. Riêng đối với phần hư hỏng của xe ô tô tải hiệu ISUZU, màu trắng, mang biển số 83C-058.xx thì chủ sở hữu là bà Tô Thị H1 và ông Lưu Văn A, không yêu cầu bị can C phải bồi thường thiệt hại về trách nhiệm dân sự.
[2] Tại Cáo trạng số: 11/CT-VKS-H.KS ngày 17 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách đã truy tố bị cáo Vồ Đình C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Tại phiên tòa, bị cáo Võ Đình C đã khai nhận hành vi phạm tội như Bản kết luận điều tra và Cáo trạng truy tố.
[4] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố bị cáo Võ Đình C. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Phạt bị cáo Võ Đình C từ 01 năm đến 02 năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về xử lý vật chứng:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Air Blade, biển số 83C1- 431.xx và giấy tờ có liên quan.
- 01 xe ô tô tải hiệu ISUZU, màu trắng, mang biển số 83C-058.xx; 01 giấy biên nhận thế chấp đối với xe ô tô biển số 83C-058.xx;01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật đối với xe ô tô biển số 83C-058.xx;01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô biển số 83C - 058.xx; 01 hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới đối với xe ô tô biển số 83C - 058.xx; 01 giấy phép lái xe và 01 thẻ căn cước công dân mang tên Võ Đình C Các tài liệu, vật chứng nêu trên đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý trao trả lại xe mô tô cho 83C1- 431.xx cho bà Lê Thị Ú là người đại diện của bị hại N1. Còn đối với ô tô biển số 83C - 058.xx và giấy tờ có liên quan đã trao trả cho chủ sở hữu xe ô tô tải là bà Tô Thị H1.
Hiện còn tạm giữ: 01 giấy phép lái xe số 9400660xxxx và 01 thẻ căn cước công dân số 0940800194xx mang tên Võ Đình C Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra người đại diện hợp pháp cho bị hại đã nhận đủ số tiền yêu cầu bồi thường là 135.000.000đ (Một trăm, ba mươi lăm triệu đồng), nên không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự. Riêng đối với phần hư hỏng của xe ô tô tải hiệu ISUZU, màu trắng, mang biển số 83C-058.xx thì chủ sở hữu là bà Tô Thị H1 và ông Lưu Văn A, không yêu cầu bị cáo C phải bồi thường thiệt hại về trách nhiệm dân sự.
[5] Bị cáo phát biểu khi tranh luận là đồng ý với nội dung cáo trạng đã truy tố bị cáo là đúng người và đúng tội.
[6] Bị cáo nói lời sau cùng là: bị cáo biết lỗi về những hành vi của mình, bị cáo xin lỗi gia đình bị hại và đồng thời bị cáo xin HĐXX xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời, khắc phục những sai lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Lưu Văn A, bà Tô Thị H1, người làm chứng là Nguyễn Thị Kim H2, Mã Văn V đã được Toà án triệu tập nhưng đều vắng mặt nhưng sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án; đồng thời, Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa cũng đề nghị xét xử vắng mặt những người này. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 và Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[3] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có căn cứ để kết luận:
Khoảng 14 giờ 40 phút ngày 11/8/2023 trên Quốc lộ N đoạn thuộc ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, bị can Võ Đình C điều khiển xe ô tô tải hiệu ISUZU, màu trắng, mang biển số 83C - 058.xx đi qua phần đường bên trái theo hướng từ Sóc Trăng đi Cần Thơ đụng vào xe mô tô nhãn hiệu Air Blade, biển số 83C1- 431.xx do ông Đặng Văn N1 điều khiển xe theo chiều ngược lại, hậu quả làm ông N1 tử vong tại chỗ. Hành vi điều khiển xe ô tô tải hiệu ISUZU, màu trắng, mang biển số 83C-058.xx không đi bên phải theo chiều đi của mình, đi không đúng phần đường quy định của Võ Đình C là có lỗi, vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ quy định tại khoản 1, Điều 9 Luật giao thông đường bộ năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2018, 2019 và vi phạm vào Điểm b, Khoản 7, Điều 6, Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ gây hậu quả làm cho bị hại Đặng Văn N1 tử vong nên hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự, cụ thể:
“Điều 260 Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;... ” [4] Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của các bị hại (bị hại tử vong) mà còn xâm phạm đến an toàn - trật tự giao thông đường bộ nên cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Đối với ý kiến của bị cáo về việc xin được hưởng án treo: Hội đồng xét xử nhận thấy, bị cáo Vồ Đình C đã từng bị Công an tỉnh S phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc tại Quyết định số 16 ngày 05/01/2021, mặc dù bị cáo đã nộp phạt xong và cũng đã được xoá tiền sự nhưng theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/20218 và theo khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/QQ-HĐTP ngày 15/4/2022 (sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo) thì bị cáo được xem là người có nhân thân xấu, lần phạm tội này thuộc trường hợp nghiêm trọng, làm chết người, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu xin được hưởng án treo của bị cáo.
[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Không có Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã cùng với chủ xe tự nguyện bồi thường số tiền 135.000.000 đồng bao gồm chi phí mai táng và tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại và chi phí sửa chữa xe mô tô biển số 83C1-431.xx bị hư hỏng là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51; Ngoài ra, xét hoàn cảnh của bị cáo, thì bị cáo là người đang nuôi hai con nhỏ sinh năm 2008 và năm 2014; Người đại diện hợp pháp cho bị hại đã làm Đơn bãi nại và xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
[7] Việc xử lý vật chứng:
Xe mô tô cho 83C1- 431.xx cho bà Lê Thị Ú là người đại diện của bị hại N1. Còn đối với ô tô biển số 83C - 058.xx và giấy tờ có liên quan đã trao trả cho chủ sở hữu xe ô tô tải là bà Tô Thị H1 nên HĐXX không đặt ra xem xét.
Đối với 01 giấy phép lái xe số 9400660xxxx và 01 thẻ căn cước công dân số 0940800194xx mang tên Võ Đình C, bị cáo xin nhận lại nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Trước khi mở phiên toà, bị cáo và bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thoả thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại cho bị hại và đã bồi thường xong, không ai có ý kiến gì thêm. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét về trách nhiệm dân sự.
[9] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
[10] Về quan điểm và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ. Tuy nhiên, về mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị (xử phạt bị cáo 01 năm đến 02 năm tù) thì sau khi phân tích Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, cho bị cáo hưởng mức thấp nhất dưới khung hình phạt tù. Bởi lẽ, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đồng thời, khi xét về hoàn cảnh của bị cáo thì bị cáo đang nuôi hai con nhỏ, thu nhập không ổn định, bị hại cũng xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo đã nhận thức được sai lầm của mình, ăn năn, hối cải về sự việc đã diễn ra và trên cơ sở khoan hồng của pháp luật thì Hội đồng xét xử quyết định áp dụng khoản 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự để quyết định cho bị cáo được hưởng mức hình phạt tù dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự; Áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đổi bổ sung năm 2017).
[1] Tuyên bố: bị cáo Võ Đình C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Võ Đình C 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo chấp hành án.
[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quyết định như sau:
Trả lại cho bị cáo Võ Đình C 01 giấy phép lái xe số 9400660xxxx và 01 thẻ căn cước công dân số 0940800194xx mang tên Võ Đình C.
Đối với chiếc xe mô tô cho 83C1- 431.xx cho bà Lê Thị ú là người đại diện của bị hại N1. Còn đối với ô tô biển số 83C - 058.xx và giấy tờ có liên quan đã trao trả cho chủ sở hữu xe ô tô tải là bà Tô Thị H1 và không ai có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không đặt ra xem xét.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[4]. Về án phí hình sự sơ thẩm: BỊ cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Trường hợp vắng mặt thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a ,7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ số 11/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 11/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Kế Sách - Sóc Trăng |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 02/02/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về