TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 100/2024/HS-ST NGÀY 26/07/2024 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
Trong ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 113/2024/HSST ngày 28 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo họ và tên:
- Lê Thanh V (tên gọi khác: không); giới tính: N, sinh năm 1987 tại tỉnh Hậu Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 05/12; họ và tên cha: Lê Hoàng H, sinh năm 1967; họ và tên mẹ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1971; họ tên vợ: Võ Thị H1, sinh năm 1987; có 03 con ruột (lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2016); tiền án và tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 26/9/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Chị Phạm Thị Ngọc M1, sinh năm 1995 - mất ngày 28/5/2023.
Người đại diện hợp pháp của bà M1:
- Ông Phạm Minh H2, sinh năm 1973 và bà Võ Thị Ngọc T, sinh năm 1973; cùng địa chỉ: H B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1974 (Vắng mặt). Địa chỉ: 4 tổ C ấp A, xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hợp tác xã D; địa chỉ: B Tây Ninh, đường T, khu phố A, Phường B, Thành phố T, tỉnh Tây Ninh; Đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Sỹ H3 - Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp tác xã (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ 40 phút ngày 28/5/2023, bị cáo Lê Thanh V đã có uống rượu, bia nên nồng độ cồn trong máu là 0.85mg/dL nhưng điều khiển xe ô tô biển số 51C - xxxx, lưu thông trên đường H hướng từ đường N về đường G, Quận G. Khi đến giao lộ đường H và đường P, phường T, Quận G, bị cáo V chuyển hướng rẽ phải vào đường P, không chú ý quan sát, không nhìn thấy chị Phạm Thị Ngọc M1 đang điều khiển xe máy biển số 59Z2 - xxxx, đi cùng chiều phía trước va đụng vào xe M1. Hậu quả sau va chạm, chị M1 té ra trước đầu xe ô tải biển số 51C - xxxx, bị bánh trước bên trái xe tải đè cán lên người, tử vong. Xe mô tô biển số 59Z2 - xxxx, hư hỏng nặng, giá trị hư hỏng xe khoảng 03 triệu đồng. Qua xác minh Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q xác định có dấu hiệu tội phạm khởi tố, xử lý đối với Lê Thanh V.
- Kết luận giám định tử thi số 5665 - 23/KL - KTHS ngày 24/7/2023 của Phòng K- Công an Thành phố H: Các kết quả chính: Vùng đầu: Xây xát da thái dương - mặt phải và cổ - gáy - vai phải, kích thước 22cm x 17cm. Tổn thương có dạng tương tự vân lốp xe gồm: Các vết xây xát da rộng 0,8cm, cách nhau 4cm. Xây xát da trán - thái dương - mặt trái, kích thước 18cm x 10cm. Biến dạng vùng đầu theo chiều phải sang trái, phương ngang. Bên trong: Tụ máu nặng dưới da và trong cơ toàn bộ vùng đầu. Xương hộp sọ vùng trán - đỉnh - thái dương hai bên vỡ phức tạp. Màng não cứng dập rách rải rác chủ yếu vùng trán đỉnh hai bên, dập xuất huyết nặng nhu mô não vùng đỉnh - chẩm hai bên. Trong máu không tìm thấy cồn và ma túy. Trong máu và chất chứa trong dạ dày tìm thấy A (thuốc giảm đau hạ sốt) và C (chất kích thích thần kinh yếu). Kết luận: Nguyên nhân chị Phạm Thị Ngọc M1 chết là do chấn thương sọ não. Trong máu không tìm thấy cồn và ma túy. Trong máu và chất chứa trong dạ dày tìm thấy A (thuốc giảm đau hạ sốt) và C (chất kích thích thần kinh yếu).
- Kết luận giám định số 6571/KL - KTHS ngày 29/6/2023 của Phòng K-Công an Thành phố H, kết luận: Giấy phép lái xe hạng C, số G, đứng tên Lê Thanh V, để ngày 21/4/2022 là thật.
- Kết luận giám định số 4123/KL - KTHS ngày 04/7/2023 của Phân viện Kỹ thuật hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe ô tô biển số 51C-xxxx và xe mô tô biển số 59Z2-xxxx trong vụ tai nạn giao thông nêu trên. Dấu vết trượt xước các chi tiết phía trước xe ô tô biển số 51C-xxxx (gồm: biển số, cản trước), có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước cần nâng sau yên xe mô tô biển số 59Z2-xxxx, có chiều từ sau về trước. Cản trước xe ô tô và cần nâng sau yên xe mô tô là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai xe. Vị trí va chạm đầu tiên chiếu xuống mặt đường giữa hai xe thuộc phần đường bên phải đường H, theo hướng từ đường N đến đường G. Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe ô tô và mô tô trên với phương tiện khác. Xe mô tô chuyển động trên đường H, theo hướng từ đường N đến đường G, xe ô tô chuyển động phía sau cùng chiều xe mô tô và đang chuyển hướng rẽ phải sang đường P.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q, bị cáo Lê Thanh V khai nhận hành vi phạm tội.
Về trách nhiệm dân sự: Sau vụ tai nạn giao thông bị cáo Lê Thanh V tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại chị Phạm Thị Ngọc M1, số tiền 220.000.000 đồng. Ông Phạm Minh H2 và bà Võ Thị Ngọc T là cha mẹ ruột của bị hại đã nhận số tiền trên và không có yêu cầu về dân sự.
Bản Cáo trạng số 40/CT-VKSQ7 ngày 26/02/2024 Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố bị cáo Lê Thanh V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Đề nghị xử phạt bị cáo bị cáo Lê Thanh V từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại ông Phạm Minh H2 và bà Võ Thị Ngọc T đã nhận tiền bồi thường. Tại phiên tòa không có yêu cầu bồi thường về dân sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung vụ án được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận và đã thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.
- Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;
- Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, xác định không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ Kết luận giám định tử thi số 5665 - 23/KL - KTHS ngày 24/7/2023 của Phòng K- Công an Thành phố H; Kết luận giám định số 6571/KL - KTHS ngày 29/6/2023 của Phòng K- Công an Thành phố H; Kết luận giám định số 4123/KL - KTHS ngày 04/7/2023 của Phân viện Kỹ thuật hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết hợp lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ, xét đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Lê Thanh V có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe ô tô tải biển số 51C - xxxx, trong người có nồng độ cồn trong máu là 0.85mg/dL, chở hàng hóa vượt quá trọng tải cho phép, không chú ý quan sát, va đụng vào phía sau xe mô tô biển số 59Z2 - xxxx do chị Phạm Thị Ngọc M1 điều khiển cùng chiều. Hậu quả, chị Phạm Thị Ngọc M1 té xuống đường bị bánh trước bên trái xe ô tô tải cán qua người tử vong. Hành vi của Lê Thanh V đã vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, điều khiển xe không đảm bảo khoảng cách an toàn, chuyển hướng không đảm bảo an toàn gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ, quy định khoản 8 Điều 8, khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 15, điểm a khoản 2 Điều 72 Luật giao thông đường bộ, đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, gây hậu quả nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm đến sự an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của công dân, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Tai nạn giao thông hiện đang là nỗi lo lắng, quan tâm của toàn xã hội, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, biện pháp để giảm và hạn chế đến mức thấp nhất loại tội phạm này nhưng bị cáo lại có hành vi xem thường tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác. Để lập lại trật tự kỷ cương xã hội xét cần phải xử lý bị cáo bằng mức án nghiêm để răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Thanh V đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường. Bị cáo là lao động chính trong gia đình, phải nuôi dưỡng cha mẹ già và 03 con còn nhỏ. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Tại phiên tòa, bị cáo trình bày ngoài công việc lái xe để có thu nhập thì bị cáo không có công việc gì khác để có thu nhập nuôi 03 con nhỏ. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm công việc đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) giấy phép lái xe hạng C số 74012601xxxx mang tên Lê Thanh V, tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án.
- 01 (một) chứng nhận đăng ký xe ô tô số 070489, biển số 51C-xxxx mang tên Huỳnh Văn Đ; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số: EA 1546250 của xe 51C-xxxx; 01 (một) xe ô tô tải hiệu Huyndai màu xanh, biển số: 51C-xxxx, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Đ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- 01 (một) xe mô tô biển số 59Z2-xxxx của chị Phạm Thị Ngọc M1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại cho đại diện hợp pháp của chị M1 là ông Phạm Minh H2, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
- Đại diện hợp pháp của bị hại ông Phạm Minh H2 và bà Võ Thị Ngọc T không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2463/QĐ-XPHC ngày 22/3/2024 của Giám đốc Công an Thành phố H và tại Thông báo số 09/PC08-NSG ngày 22/5/2024 của Phòng Cảnh sát giao thông Thành phố H về việc lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính: Đương sự Huỳnh Văn Đ là chủ xe ô tô tải biển số 51C-xxxx có hành vi giao phương tiện cho bị cáo Lê Thanh V điều khiển xe chở hàng vượt quá tải trọng cho phép của cầu đường trên 150% (cân tải trọng đối với xe ô tô tải biển số 51C-xxxx ghi nhận trong xe và hàng là 15.630kg, theo Thông tư 46/2015/TT-BGTVT ngày 09/7/2015 của Bộ G thì xe ô tô tải biển số 51C-xxxx đã chở khối lượng hàng vượt quá quy định là 8.875kg, vượt quá 253,57% khối lượng); phạm vào điểm a khoản 12 Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 123/2021/NĐ-CP). Kết quả xác minh, xử lý như sau: Đ1 - Phòng CSGT đã tiến hành xác minh thu thập các tình tiết có liên quan. Qua xác minh Đ1 - Phòng CSGT nhận thấy có đủ căn cứ chứng minh xác định ông Huỳnh Văn Đ (chủ xe ô tô tải biển số 51C-xxxxx hiện đang là thành viên của Hợp tác xã D) có hành vi vi phạm giao phương tiện (xe ô tô tải biển số 51C-xxxx) cho người làm công là Lê Thanh V điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm điều khiển xe chở hàng vượt trọng tải cho phép khi tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe trên 150%. Ngày 15/3/2024, Phòng C có báo cáo số 1761/BCPC08 về việc đề xuất xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ đối với Hợp tác xã D. Ngày 22/3/2024, Công an Thành phố H ra Quyết định số 2463/QĐ-XPHC ngày 22/3/2024 về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức Hợp tác xã D với hành vi vi phạm: Giao phương tiện (xe ô tô tải biển số 51C-xxxx) cho người làm công điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm điều khiển xe chở hàng vượt trọng tải cho phép tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe trên 150%. Quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ đã được sửa đổi bổ sung tại điểm o, r khoản 17 Điều 2 Nghị định 123/2021/NĐ-CP. Mức phạt là 39.000.000 đồng; phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng Phù hiệu (số G) 02 tháng 15 ngày kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực thi hành.
[8] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260, Điều 38, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Xử phạt: Bị cáo Lê Thanh V 03 (ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để chấp hành án. 2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án 01 (một) giấy phép lái xe hạng C số 74012601xxxx mang tên Lê Thanh V, 3. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
4. Về quyền và nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, bị cáo, các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
Bản án về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ số 100/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 100/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Quận 7 - Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 26/07/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về