Bản án về tội vi phạm quy định khai thác tài nguyên số 04/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 04/2024/HS-ST NGÀY 31/01/2024 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH KHAI THÁC TÀI NGUYÊN

Ngày 31 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

1. Mai Văn T; Sinh ngày 08 tháng 4 năm 1987, tại tỉnh Tiền Giang Nơi đăng ký thường trú: Số 724, ấp P M, xã P T, huyện Châu thành, tỉnh Bến Tre.

Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mai Văn Th, sinh năm 1967 và bà Lê Thị G, sinh năm: 1967; Vợ: Lê Thị Mai L, sinh năm 1990 và có 02 con. Tiền án: Không; Tiền sự: 01 lần: Bị cáo bị Công an tỉnh Tiền Giang xử phạt 25.000.000 đồng về hành vi khai thác khoáng sản là cát, sỏi lòng sông trái phép, theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 4131/QĐ-XPHC Ngày 01/7/2022, bị cáo chưa nộp phạt. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh. Bị cáo có mặt tại tòa.

2. Mai Văn H, Sinh ngày 09 tháng 01 năm 1990, tại tỉnh Tiền Giang Nơi thường trú: Ấp Đ B, xã N B, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Nơi ở hiện nay: Ấp P T, xã P T, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Cha: Mai Văn L (đã chết); Mẹ: Trần Thị B (đã chết); Vợ: Trần Thị D, sinh năm 1990; bị cáo có 01 con sinh năm 2 2009. Tiền án: Không; Tiền sự: 01 lần: Bị cáo bị Ủy ban nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xử phạt 25.000.000 đồng về hành vi khai thác khoáng sản là cát, sỏi lòng sông trái phép, theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 13855/QĐ-XPHC Ngày 20/12/2022, bị cáo nộp phạt ngày 16/01/2023. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh. Bị cáo có mặt tại tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Huỳnh Văn P, sinh năm 1970. (Có mặt) Địa chỉ: Ấp , xã P T, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Mai Văn T thuê Mai Văn H cùng đi hút cát trái phép với tiền công là 250.000 đồng/chuyến. Khoảng 22 giờ 50 ngày 03/4/2023, T trực tiếp điều khiển phương tiện ghe vỏ gỗ không biển kiểm soát đến khu vực sông Tiền thuộc xã Th S, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang để T và H vận hành máy bơm, hút cát lòng sông lên khoang phương tiện. Trong lúc tuần tra, Công an xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre phát hiện hành vi khai thác cát trái phép của Mai Văn T và Mai Văn H nên lập biên bản sự việc, tiến hành đo đạc xác định khối lượng cát khai thác trái phép từ lòng sông lên khoang phương tiện có khối lượng là 7,9m3, đồng thời tạm giữ tang vật, phương tiện gồm:

- 7,9m3 cát, sỏi lòng sông (đã bao gồm 20kg thu mẫu để giám định). Căn cứ Kết luận giám định số 3606 ngày 20/6/2023 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ Công an, thì mẫu cát được niêm phong gửi giám định là khoáng sản. Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 92 ngày 14/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Mỹ Tho, thì 7,9m3 khoáng sản trị giá 948.000 đồng.

- 01 phương tiện thủy nội địa (ghe vỏ gỗ, đã qua sử dụng, không biển kiểm soát) có gắn 01 máy chạy phương tiện (động cơ thủy) nhãn hiệu YANMAR, 01 máy hút cát nhãn hiệu DAEWOO và 01 ống nhựa hút cát.

Kết quả điều tra xác định, phương tiện thủy nội địa có trang bị động cơ và thiết bị, dụng cụ bơm, hút cát nêu trên là tài sản của Huỳnh Văn P, sinh năm: 1970, ngụ: Ấp , xã P T, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre mua của một người không rõ họ, tên và địa chỉ, nên không đăng ký quyền sở hữu và biển kiểm soát theo quy định. Ông P cho Mai Văn T thuê với giá 3.000.000 đồng/tháng để chở vật liệu xây dựng, nhưng T và H đã dùng phương tiện vào việc phạm tội, Huỳnh Văn P không biết.

3 Quá trình điều tra Mai Văn T và Mai Văn H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định, định giá tài sản và các chứng cứ, tài liệu khác thể hiện trong hồ sơ vụ án, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKSTG-P1 ngày 08 tháng 12 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Mai Văn T và Mai Văn H về tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên” quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 227 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa sơ thẩm: Bị cáo Mai Văn T và Mai Văn H khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang truy tố đối với các bị cáo và có ý kiến xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang trong phần tranh luận phát biểu giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo, quan điểm giải quyết vụ án đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Đề nghị tuyên bố bị cáo T và bị cáo H phạm tội “Vi phạm qui định về khai thác tài nguyên”, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 227, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; bị cáo H từ 09 tháng đến 01 năm tù; về vật chứng đề nghị tịch thu sung quỹ là phương tiện do không có chứng nhận sở hữu theo quy định, số lượng cát xử lý theo quy định về tài nguyên khoán sản.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]- Về tố tụng: Xét các quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, truy tố và hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền và trình tự, thủ tục theo qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại về quyết định, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, truy tố và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp pháp luật.

[2]- Lời khai nhận của bị cáo Mai Văn T và Mai Văn H tại phiên tòa phù hợp với vật chứng thu giữ, kết quả khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác do cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở xác định:

Hành vi của bị cáo T và bị cáo H đã bị xử phạt vi phạm hành chính lại tiếp tục thực hiện, bị cáo T là người chủ động thực hiện hành vi, thuê mướn bị cáo H 4 làm công ăn lương, biết vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện; số lượng cát là khoáng sản tài nguyên các bị cáo đã khai thác bị phát hiện là 7,9m3 trị giá 948.000 đồng; cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang truy tố các bị cáo về tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên” theo điểm đ khoản 1 Điều 227 Bộ luật hình sự là có căn cứ và phù hợp.

[3]- Về ý thức chủ quan bị cáo phải biết được rằng, Nhà nước thực hiện quyền quản lý, khai thác, sử dụng khoáng sản một cách hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh. Chỉ những tổ chức, cá nhân được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép mới được quyền hoạt động thu hồi khoáng sản, thế nhưng, chỉ vì muốn có tiền mà bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Trong những năm gần đây, tình trạng khai thác trái phép khoáng sản cát từ đáy sông tại địa phương ngày càng tăng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, đe dọa trực tiếp đến sự an toàn của người dân sống ven sông. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử phạt nghiêm khắc, có tác dụng răn đe giáo dục, phòng ngừa với loại tội phạm ngày càng gia tăng trong xã hội; tuy nhiên xem xét các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo nên được giảm nhẹ một phần hình phạt. Bị cáo T với vai trò lớn hơn, không chấp hành nộp phạt vi phạm hành chính trước đây nên phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo H.

[4]- Về xử lý vật chứng:

Đối với phương tiện ghe vỏ sắt có gắn 01 máy chạy phương tiện nhãn hiệu YANMAR, 01 máy hút cát nhãn hiệu DAEWOO và 01 ống nhựa hút cát là phương tiện, dụng cụ mà các bị cáo sử dụng phạm tội, mặc dù là tài sản của anh P không biết các bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội, nhưng do không có đăng ký quyền sở hữu theo quy định nên tịch thu sung quỹ.

Giao Uỷ ban nhân dân thành phố Mỹ Tho xử lý theo quy định về nguồn tài nguyên khoán sản số lượng cát là tài sản phạm tội.

[5]- Ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp nên được chấp nhận.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Mai Văn T và Mai Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên”.

2. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 227; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 38, 50 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Mai Văn T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Xử phạt: Bị cáo Mai Văn H 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Giao Uỷ ban nhân dân thành phố Mỹ Tho xử lý theo quy định về nguồn tài nguyên khoán sản là 7,9m3 cát.

Tịch thu sung quỹ nhà nước: Ghe vỏ sắt có gắn 01 máy chạy phương tiện nhãn hiệu YANMAR, 01 máy hút cát nhãn hiệu DAEWOO và 01 ống nhựa hút cát.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình Sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Mai Văn T và Mai Văn H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo T, H và anh P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án để xét xử phúc thẩm.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

43
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội vi phạm quy định khai thác tài nguyên số 04/2024/HS-ST

Số hiệu:04/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Tiền Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 31/01/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về