TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
BẢN ÁN 82/2022/HS-PT NGÀY 30/09/2022 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH KHAI THÁC, BẢO VỆ RỪNG VÀ LÂM SẢN
Ngày 30 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 88/2022/TLPT-HS ngày 14 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo Kpă Y Đ và Nay Y Ô do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2022/HS-ST ngày 19/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện SH, tỉnh Phú Yên.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Kpă Y Đ (tên gọi khác; Ma Thiêm), sinh năm 1976 tại huyện SH, tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn TN, xã ST, huyện SH, tỉnh Phú Yên; Trình độ văn hoá (học vấn): 03/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Giới tính: Nam; Dân tộc: Ê đê; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông A Lê Y Bhing, sinh năm 1932 (chết) và bà Kpă Hờ Pia, sinh năm 1934 (chết); Có vợ Rơ Chăm Hờ Luên, sinh năm 1977, và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại; Có mặt.
2. Nay Y Ô (tên gọi khác: Ma Thảo), sinh năm 1982 tại huyện SH, tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn TN, xã ST, huyện SH, tỉnh Phú Yên; Trình độ văn hoá (học vấn): 05/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Giới tính: Nam; Dân tộc: Ê đê; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Kpă Y K, sinh năm 1954 (chết) và bà Nay Hờ L, sinh năm 1959; Có vợ Kpă Hờ T, sinh năm 1987 và 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2009; Tiền án tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 12/12/2006 bị Tòa án nhân dân huyện SH xử phạt 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, đã chấp hành xong bản án; Bị cáo tại ngoại; Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Kpă Y Đ: Ông Ngô Văn T1 – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Phú Yên; Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Nay Y Ô: Ông Ngô Tấn H3 – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Phú Yên; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Với mục đích khai thác rừng để lấy cây về làm nhà, khoảng tháng 08/2021 Kpă Y Đ, Nay Y Ô rủ nhau đến tại khoảnh 7 tiểu khu 205 xã ECR, huyện SH khai thác gỗ. Kpă Y Đ, Nay Y Ô dùng rựa, cưa hạ 09 cây gỗ tại vị trí tọa độ: 541.885 – 1444.077; 541.879 – 1444.066; 541.880 – 1444.066; 541.911 – 1444.905; 541.926 – 1444.102; 541.932 – 1444.108; 541.917 – 1444.129 và tọa độ 541.891 – 1444.183. Sau đó Kpă Y Đ, Nay Y Ô xẻ ra thành phẩm được 99 cây và 04 lóng cây gỗ tròn gồm các loại: Sấu, Sáng, Lim xẹt, Thị rừng, Muồng đen, Xoan, Bằng lăng, Mít nài, khoảng 01 giờ 30 phút ngày 21/8/2021, Kpă Y Đ điều khiển xe máy cày chở gỗ về nhà thì bị lực lượng Kiểm lâm phát hiện tạm giữ tang vật và phương tiện để xử lý theo quy định.
Kết luận giám định số 1061/KLGĐ – CCKL ngày 04/10/2021 của Chi cục kiểm lâm tỉnh Phú Yên kết luận: 04 lóng gỗ tròn có khối lượng: 0,256m3 và 99 cây gỗ xẻ, có khối lượng 4,766m3, quy đổi gỗ tròn: 7,625m3. Tổng cộng khối lượng gỗ tròn: 7,881m3 (loại không thuộc danh mục thực vật rừng …quý, hiếm và không thuộc phụ lục CTTES). Tại vị trí 8 tọa độ thuộc khoảnh 7 tiểu khu 205 xã ECR là rừng đặc dụng, lâm sản thiệt hại của 9 cây và 11 khúc, đoạn gỗ tròn do bị mất thân cây, chỉ còn 09 gốc nên không đủ yếu tố để kết luận giám định khối lượng.
Kết luận định giá tài sản số: 21/KL – ĐGTS ngày 29/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện SH kết luận: Lâm sản bị thiệt hại 5,022m3 gỗ trị giá 23.704.135 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2022/HS-ST ngày 19/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện SH, tỉnh Phú Yên đã tuyên các bị cáo Kpă Y Đ và Nay Y Ô phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”. Áp dụng Điểm e, Khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự; Điểm b, s, Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Riêng bị cáo Kpă Y Đ còn áp dụng Điểm i, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Phạt mỗi bị cáo 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt các bị cáo thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần xử lý vật chứng, trách nhiệm bồi thường dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 19, 20/7/2022, các bị cáo Kpă Y Đ và Nay Y Ô kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa, các bị cáo vẫn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ đã tuyên và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.
Người bào chữa của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, cho các bị cáo hưởng án treo.
Giai đoạn tranh luận, Kiểm sát viên không nhất trí với ý kiến của những người bào chữa, giữ nguyên quan điểm; Các bị cáo Kpă Y Đ và Nay Y Ô không tranh luận gì, tiếp tục xin được pháp luật khoan hồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Khoảng tháng 08/2021 Kpă Y Đ, Nay Y Ô đến Khoảnh 7, Tiểu khu 205 thuộc xã ECR, huyện SH dùng rựa, cưa cắt hạ 09 cây gỗ, loại gỗ thông thường, xẻ ra thành phẩm, có khối lượng quy tròn là 7,881m3, làm thiệt hại lâm sản trị giá 23.704.135 đồng, rồi vận chuyển về nhà thì bị phát hiện, xử lý. Nên cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử các bị cáo về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo Điểm e, Khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[2] Xét kháng cáo của các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy: Các bị cáo khai thác gỗ trái phép tại vị trí rừng đặc dụng là rừng tự nhiên, có khối lượng gỗ ở mức cao nhất của khung hình phạt, nên khi lượng hình, án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, xem xét nhân thân, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà từng bị cáo được hưởng, để phạt mỗi bị cáo 06 tháng tù và không cho các bị cáo hưởng án treo là phù hợp, không nặng. Do đó, người bào chữa của các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo là không có cơ sở, nên không chấp nhận, mà chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên – Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt để có đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo.
[3] Các bị cáo kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm; Tuyên bố: Các bị cáo Kpă Y Đ và Nay Y Ô phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
1. Áp dụng theo Điểm e, Khoản 1 Điều 232; Điểm b, s, Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo; Thêm Điểm i, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Kpă Y Đ; Phạt:
1.1. Bị cáo Kpă Y Đ – 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
1.2. Bị cáo Nay Y Ô – 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
2. Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức, thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Kpă Y Đ và Nay Y Ô mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tội vi phạm quy định khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản số 82/2022/HS-PT
| Số hiệu: | 82/2022/HS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Phú Yên |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 30/09/2022 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về