Bản án về tội vi phạm quy định bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm số 10/2022/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÀ HANG, TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 10/2022/HS-ST NGÀY 15/04/2022 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH BẢO VỆ ĐỘNG VẬT NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM

Ngày 15 tháng 4 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh T. Tòa án nhân dân huyện Na Hang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2022/TLST-HS, ngày 14 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2022/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:

Chúc Văn S(tên gọi khác: Chúc Tiến S), sinh ngày 10/3/1981; nơi sinh: huyện N, tỉnh T; nơi cư trú: Thôn L, xã S, huyện N, tỉnh T; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam (Sinh hoạt tại chi bộ thôn L, thuộc Đảng bộ xã S, huyện N, hiện đang bị đình chỉ sinh hoạt Đảng); con ông: Chúc Tạ H và bà Phùng Mùi M; có vợ: Bàn Thị S và có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2006.

Tiền án: Không; tiền sự: Không;

Bị cáo hiện đang tại ngoại áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Chúc Văn S: Bà Vũ Thanh T- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Tuyên Quang.

- Người làm chứng:

1. Anh NLM2, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn Phiêng Thốc, xã Sinh Long, huyện N, tỉnh T (Vắng mặt tại phiên tòa).

2. NLM1, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn L, xã S, huyện N, tỉnh T (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ, ngày 28/12/2021, Chúc Văn S(tên gọi khác Chúc Tiến S), sinh năm 1981, trú tại Thôn L, xã S, huyện N, tỉnh T đang ở nhà thấy một người đàn ông tên là NLM2, trú tại thôn Phiêng Thốc, xã Sinh Long, huyện Na Hang đến và giao bán 06 cá thể động vật rừng, trong trạng thái đông đá, đã được làm sạch lông, mổ lấy đi một phần nội tạng gồm 03 cá thể sóc, có tổng trọng lượng 700 gam; 02 cá thể chuột rừng, có tổng trọng lượng 400 gam; 01 cá thể nghi là loài Culi nhỏ có trọng lượng 300 gam với giá 180.000 đồng. Do có nhu cầu sử dụng làm thức ăn nên S đồng ý mua. Sau khi mua được các cá thể động vật rừng nêu trên, S đem cất, bảo quản trong ngăn đá chiếc tủ lạnh của gia đình để sử dụng dần. Đến 08 giờ, ngày 29/12/2021 thì bị tổ công tác Công an huyện Na Hang phát hiện, thu giữ toàn bộ tang vật.

Tại Kết luận giám định số 1261 ngày 30/12/2021 của Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật thuộc Viện hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam kết luận: Cá thể động vật nghi là loài Cu li nhỏ do Công an huyện Na Hang gửi giám định là loài Cu li nhỏ. Loài Cu li nhỏ có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được uy tiên bảo vệ (Ban hành kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ) và đồng thời có tên trong nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (Ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP, ngày 22/9/2021 của Chính phủ).

Tại Biên bản xác định nhóm, loài lâm sản do Hạt kiểm lâm huyện Na Hang lập xác định 03 cá thể sóc; 02 cá thể chuột rừng thuộc loài động vật rừng thông thường.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Chúc Văn Sđã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng: Vật chứng thu giữ; Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số: 11/CT-VKSNH ngày 14/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Hang truy tố Chúc Văn Svề tội: “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 244 của Bộ luật hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Hang giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong bản cáo trạng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố Chúc Văn Sphạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.

- Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Chúc Văn Stừ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định.

- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản, không có thu nhập ổn định và thuộc hộ cận nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Ngoài ra đề nghị HĐXX xem xét buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhất trí với bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà, không tranh luận gì thêm. Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

Người bào chữa trình bày lời bào chữa cho bị cáo, đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ như: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; trong thời gian công tác làm Bí thư chi bộ thôn bị cáo được tặng thưởng nhiều Giấy khen; bị cáo có ông ngoại được tặng thưởng Huân, huy chương; bị cáo có đơn xin hưởng án treo có xác nhận của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Đề nghị HĐXX căn cứ điểm b khoản 1 Điều 244; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51của BLHS và căn cứ Điều 65 của BLHS; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cáo, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về xem xét hành vi của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản sự việc; Vật chứng thu giữ; Kết luận giám định và toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ trên đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 28/12/2021 đến 08 giờ ngày 29/12/2021, tại nhà ở của mình, Chúc Văn Sđã có hành vi tàng trữ trái phép 01 cá thể Culi nhỏ có trọng lượng 300 gam, thuộc phụ lục I (Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ), ban hành kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ và đồng thời có tên trong nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP, ngày 22/9/2021 của Chính phủ.

Theo kết luận giám định cá thể động vật đã chết thu giữ của bị cáo là Culi, thuộc phụ lục I (Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ), ban hành kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ nên đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 244 của Bộ luật hình sự, như vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Hang truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[2]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm đến các quy định về trật tự quản lý của Nhà nước về môi trường, gây mất ổn định an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức, bị cáo biết việc mua bán các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm là vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng đến việc mất cân bằng tự nhiên hệ sinh thái và động vật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biết khó khăn; bị cáo có nhiều thành tích trong thời gian công tác, có nhiều đóng góp và được tặng thưởng nhiều Giấy khen; bị cáo có ông ngoại được tặng thưởng Huân huy chương nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; bị cáo có đơn xin được hưởng án treo cải tạo tại địa phương được UBND xã nơi bị cáo cư trú xác nhận, nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cải tạo tại địa phương cũng thỏa mãn mục đích của hình phạt và giáo dục ý thức tuân theo pháp luật cũng như phòng ngừa và đấu tranh tội phạm xử phạt bị cáo mức án trong phạm vi đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và đề nghị của người bào chữa là phù hợp, có căn cứ.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản có giá trị, không có thu nhập ổn định và gia đình thuộc hộ cận nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Na Hang đã tạm giữ: 03 cá thể sóc; 02 cá thể chuột rừng; 01 cá thể Culi nhỏ. Các cá thể động vật này đều trong trạng thái đông đá, được làm sạch lông, mổ lấy đi một phần nội tạng. Ngày 07/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Na Hang đã ra Quyết định xử lý vật chứng chuyển giao các cá thể động vật nêu trên cho Hạt kiểm lâm huyện Na Hang xử lý theo thẩm quyền nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[7]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Qua xem xét, nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình điều tra và truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[8]. Về các vấn đề khác: Đối với NLM2, trú tại thôn Phiêng Thốc, xã Sinh Long, huyện Na Hang. Quá trình điều tra, không có tài liệu, chứng cứ chứng minh việc mua bán động vật rừng giữa bị caó và NLM2 nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.

[9]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chúc Văn S (Chúc Tiến S) phạm tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm.

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Chúc Văn S (Chúc Tiến S) 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 15/4/2022.

Giao bị cáo Chúc Văn Scho Uỷ ban nhân dân xã S, huyện N, tỉnh T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sựNghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Chúc Văn Sphải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

47
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội vi phạm quy định bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm số 10/2022/HS-ST

Số hiệu:10/2022/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nà Hang - Tuyên Quang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:15/04/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về