Bản án về tội vận chuyển trái phép chất ma túy số 888/2023/HS-PT

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 888/2023/HS-PT NGÀY 23/11/2023 VỀ TỘI VẬN CHUYỂN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 23 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1113/2023/TLHS-PT ngày 12 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Phạm Văn L, do có kháng cáo của bị cáo với Bản án số 63/2023/HS-ST ngày 07-9-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Bị cáo kháng cáo:

Phạm Văn L sinh ngày 08/10/1972 tại xã H, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn H, xã H, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; T độ văn hóa: 06/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Phạm Hữu Q và bà Nguyễn Thị T (đều đã chết); có vợ là Trương Thị L và 03 con; tiền sự: không; tiền án: 02 tiền án:

- Bản án số 18/HSST ngày 12/4/1997 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xử phạt Phạm Văn L 08 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” (đã chấp hành xong hình phạt chưa chấp hành xong phần án phí dân sự).

- Bản án số 03/HSST ngày 30/9/2004 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Quang xử phạt Phạm Văn L 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã chấp hành xong án phạt tù chưa chấp hành xong phần dân sự và án phí).

Nhân thân:

- Ngày 23/9/2006, Phạm Văn L bị Công an huyện Vũ Quang xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 500.000 đồng về hành vi đánh bạc.

- Ngày 06/01/2015, Phạm Văn L bị Công an huyện Vũ Quang xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 2.000.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích.

- Ngày 13/01/2017, Phạm Văn L bị Công an huyện Vũ Quang xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc.

- Ngày 08/01/2022, Phạm Văn L bị Công an huyện Vũ Quang xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc.

Bị bắt tạm giam ngày 20-02-2023; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Võ Thị T - Văn phòng luật sư M, Đoàn Luật sư tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

Trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Xuân T không kháng cáo, không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Năm 2019, khi làm công nhân tại tỉnh Bình Dương, Nguyễn Xuân T quen biết một người đàn ông tên T, ở Nghệ An (không rõ địa chỉ cụ thể), cả hai trao đổi số điện thoại với nhau để liên lạc. Đến giữa năm 2022, khi Nguyễn Xuân T về Hà Tĩnh sinh sống, T gọi điện thoại cho T hỏi “Có biết Khe Thẳng không?”, T trả lời “Ngay sau gần nhà”. T nói “Nhờ T đi vào Khe Thẳng nhận đồ rồi gửi xe khách vào Bình Dương cho T, T sẽ trả tiền công”, T đồng ý. Sáng ngày 20/02/2023, T gọi điện cho Nguyễn Xuân T nói chiều tối vào Khe Thẳng lấy đồ cho T, buổi chiều cùng ngày, T tiếp tục gọi điện cho T nói vào Khe Thẳng để nhận ma túy rồi nhờ T mua mì tôm, thuốc lá, bật lửa và nước ngọt mang vào đưa cho người giao ma túy, T sẽ trả cho T 30.000.000 đồng tiền công, Nguyễn Xuân T đồng ý. Sau đó, Nguyễn Xuân T đi mua các nhu yếu phẩm cho vào bao tải rồi đưa về cất giấu trước cổng nhà. Khoảng 17 giờ cùng ngày, Nguyễn Xuân T gọi điện thoại cho Phạm Văn L rủ đi vào Khe Thẳng nhận ma túy cùng, L đồng ý. Một lúc sau, Phạm Văn L đi xe máy đến nhà Nguyễn Xuân T và ngồi uống rượu với nhau, lúc này Nguyễn Xuân T rủ Phạm Văn L đi vận chuyển ma túy trong rừng về nhà T, T hứa sẽ cho L 15.000.000 đồng. L đồng ý. Ngay sau đó, Nguyễn Xuân T đưa bao tải đựng nhu yếu phẩm đã mua trước đó cho Phạm Văn L để L mang vào Khe Thẳng trước đợi T, còn Nguyễn Xuân T đi sang nhà ông Nguyễn Văn Minh (bố đẻ của T) để ăn cơm. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Xuân T đi bộ một mình từ nhà ông Nguyễn Văn M vào Khe Thẳng, khi đến nơi, T thấy L đang ngồi đợi mình ở bãi đất trống. Lúc này, T gọi điện thoại cho Nguyễn Xuân T hỏi “Đã đến nơi chưa?”, T trả lời “Đã đến nơi rồi”, T nói “Đặt túi đồ tiếp tế trên bậc đất phía trên Khe Thẳng để người giao ma túy giao xong rồi mang đi luôn”. Sau khi nghe điện thoại xong, Nguyễn Xuân T mang bao tải đựng đồ tiếp tế đặt trên bậc đất theo chỉ dẫn của T rồi cùng Phạm Văn L đợi người giao ma túy đến. Một lúc sau, Nguyễn Xuân T thấy một người đứng trên bậc đất cao dùng tay chỉ vào chỗ giấu ma túy, T chờ người đó đi khuất rồi mới đi lại vị trí giấu ma túy người đó chỉ. Tại đây, Nguyễn Xuân T thấy 02 bao tải màu xanh và màu trắng để gần nhau, T biết bên trong bao tải đựng ma túy, nhưng không biết ma túy loại gì. Sau đó Nguyễn Xuân T ôm một bao tải màu trắng bằng tay trái rồi dùng tay phải xách bao tải màu xanh đưa cho Phạm Văn L để đưa về nhà T cất giấu. Vào lúc 21 giờ ngày 20/02/2023, khi Nguyễn Xuân T và Phạm Văn L mỗi người đang vác trên vai một bì tải đựng ma túy, đi được một đoạn cách Khe Thẳng khoảng 40 m thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ.

Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang: Thu giữ của Nguyễn Xuân T:

- 14 khối hộp chữ nhật đều có kích thước (15x16x6) cm (Ký hiệu K1 đến K14);

- 01 khối hộp chữ nhật có kích thước (15x16x6) cm (Ký hiệu H1);

- 01 khối hộp chữ nhật có kích thước (18x7x7,7) cm (Ký hiệu H2); - 01 bì xác rắn màu trắng kích thước (87x46) cm, trên có dòng chữ “V02”;

- 01 máy điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen, máy dạng bàn phím, máy cũ đã qua sử dụng gắn thẻ sim 0369.X.231;

- 01 máy điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, màu hồng, máy cũ đã qua sử dụng, gắn thẻ sim 0369.X.763.

Thu giữ của Phạm Văn L:

- 06 khối hộp chữ nhật đều có kích thước (15x16x6) cm (Ký hiệu M1 đến M6);

N9).

- 09 khối hộp chữ nhật đều có kích thước (18x7x7,7) cm (Ký hiệu N1 đến - 01 bì xác rắn màu xanh có kích thước (95x55) cm, trên có dòng chữ “Thức ăn thuỷ sản”;

- 01 máy điện thoại di động hiệu OPPO A37fw, màu hồng, máy cũ đã qua sử dụng, gắn thẻ sim: 0352.X.072 (BL: 03-04).

Kết luận giám định:

- Ngày 22/02/2023, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh có kết luận giám định số 276/GĐMT-PC09, kết luận:

+ Chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) gửi giám định là Methamphetamine có khối lượng: 940 gam;

+ Chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu N1) gửi giám định là Ketamine có khối lượng: 1000 gam;

- Ngày 01/3/2023, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh có kết luận giám định số 294/GĐMT-PC09, kết luận:

+ Chất tinh thể màu trắng (ký hiệu từ M2 đến M6; từ K1 đến K14; H1) gửi giám định là Methamphetamine có tổng khối lượng: 20.000 gam;

+ Chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu từ N2 đến N9; H2) gửi giám định là Ketamine có tổng khối lượng 9.000 gam;

Tổng khối lượng Methamphetamine: 20.940 gam; Ketamine: 10.000 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II.C, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục III, STT 40, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại Bản án số 63/2023/HS-ST ngày 07-9-2023, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã áp dụng điểm h khoản 4; khoản 5 Điều 250; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 18 và Điều 40 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Văn L tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án; phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng.

(Nguyễn Xuân T bị kết án tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định việc xử lí vật chứng, về án phí theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11-9-2023, bị cáo Phạm Văn L kháng cáo xin giảm hình phạt.

Tại phiên tòa:

Bị cáo cho rằng trước khi bị bắt không biết số hàng bị cáo vận chuyển bị thu giữ là ma túy; chưa được trả công vận chuyển; mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là quá nặng, đề nghị xem xét giảm hình phạt cho bị cáo.

- Ý kiến Kiểm sát viên:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo Phạm Văn L tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” là có căn cứ, không oan. Không có căn cứ giảm hình phạt (hình phạt chính) cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: đề nghị miễn hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo Nguyễn Xuân T, Phạm Văn L, với lí do: các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn; con còn nhỏ; bản thân chưa được hưởng lợi.

Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị chấp nhận kháng cáo giảm hình phạt cho bị cáo và xem xét lại hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Trong quá T giải quyết vụ án, bị cáo Nguyễn Xuân T đã khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội của mình. Đối với bị cáo Phạm Văn L, mặc dù tại các phiên tòa bị cáo cho rằng trước khi bị bắt giữ không biết số hàng bị cáo vận chuyển cho bị cáo T là ma túy; tuy nhiên, căn cứ lời khai của bị cáo Nguyễn Xuân T, các lời khai nhận tội và các bản tự khai của bị cáo L trong giai đoạn điều tra về việc chiều ngày 20-02-2023, T rủ L đi nhận ma túy, T hứa trả công cho L 15.000.000 đồng và L đã đồng ý, căn cứ Biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; có đủ căn cứ xác định: vào hồi 21 giờ, ngày 20/02/2023, tại đoạn đường đi lên Khe Thẳng thuộc thôn Hợp Lợi, xã Hương Minh, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hà Tĩnh phối hợp với lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Xuân T và Phạm Văn L đang có hành vi vận chuyển trái phép 20.940 gam Methamphetamine và 10.000 gam Ketamine cho một người đàn ông tên T (sống tại Bình Dương) từ Hà Tĩnh gửi vào Bình Dương để lấy 30.000.000 đồng tiền công, trong đó T sẽ trả công cho L 15.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án bị cáo Phạm Văn L về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự là có căn cứ, không oan.

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc T hợp đặc biệt nghiêm trọng; khối lượng ma túy các bị cáo vận chuyển trái phép lớn. Bị cáo nhiều lần bị kết án, đã tái phạm chưa được xóa án tích, nên phạm tội lần này thuộc T hợp tái phạm nguy hiểm; ngoài ra, về nhân thân bị cáo đã nhiều lần bị xử lí vi phạm hành chính.

Xem xét đầy đủ, toàn diện các tình tiết của vụ án, nhân thân bị cáo và tính chất đặc biệt nghiêm trọng của vụ án, xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt đối với bị cáo là đúng. Không có căn cứ giảm hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: các bị cáo bị kết án về tội phạm ma túy. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền các bị cáo Nguyễn Xuân T, Phạm Văn L mỗi bị cáo 10.000.000 đồng là có căn cứ. Mặt khác, sau khi xét xử sơ thẩm phần quyết định này của Tòa án cấp sơ thẩm đối với các bị cáo không bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm. Không có căn cứ miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[2]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật.

[3]. Bị cáo phải nộp án phí phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn L và giữ nguyên Bản án số 63/2023/HS-ST ngày 07-9-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh như sau: áp dụng điểm h khoản 4; khoản 5 Điều 250; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 18 và Điều 40 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Văn L tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án; phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm nêu trên đã có hiệu lực pháp luật.

3. Bị cáo Phạm Văn L phải nộp 200.000 đồng án phí phúc thẩm.

Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Phạm Văn L được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

55
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội vận chuyển trái phép chất ma túy số 888/2023/HS-PT

Số hiệu:888/2023/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 23/11/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về