Bản án về tội vận chuyển trái phép chất ma túy số 58/2024/HS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 58/2024/HS-PT NGÀY 24/01/2024 VỀ TỘI VẬN CHUYỂN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 24 tháng 01 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm là trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần là trụ sở trại tạm giam T30 Công an Thành phố H mở phiên tòa xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 666/2023/TLPT-HS ngày 09 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo Lê Trung T. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 356/2023/HS-ST ngày 31/7/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo kháng cáo:

Lê Trung T, sinh năm 1990 tại Đồng Nai; nơi thường trú: ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nơi ở: nhà số D L, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo C; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hồng Q và bà Võ Thị Kim L; chưa có vợ con; tiền án: tại Bản án số 135/2010/HSST ngày 30/12/2010 của Tòa án nhân dân Quận 9 xử phạt 03 năm 6 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; tại Bản án số 257/2011/HSST ngày 24/8/2011 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 12 năm tù về tội “Cướp tài sản”, tổng hợp hình phạt của Bản án số 135/2010/HSST nêu trên buộc chấp hành hình phạt chung là 15 năm 6 tháng tù, đến ngày 07/10/2019 chấp hành xong hình phạt tù và đã nộp án phí; tiền sự: không; bị tạm giam từ ngày 18/12/2021 (có mặt tại điểm cầu thành phần).

- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Vũ Thanh H - Văn phòng Luật sư Vũ Thanh H thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt tại điểm cầu trung tâm).

- Người tham gia tố tụng khác: Ông Huỳnh Thanh H1 - Cán bộ Trại tạm giam T30 là người hỗ trợ tổ chức phiên tòa trực tuyến.

(Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 23 giờ 00 phút ngày 18/12/2021, tại bãi đất trống đường N, thuộc tổ I, ấp A, xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Tổ công tác gồm: Đoàn 3 - Cục P; Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh L; Đội kiểm soát chống buôn lậu ma túy khu vực miền N, Cục điều tra chống buôn lậu; Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện B và Công an xã A, huyện B kiểm tra xe ô tô tải biển số 62H-X và xe tải biển số 51D-X đang đỗ đấu đuôi nhau. Trên thùng 02 xe tải nêu trên có mặt Lê Trung T, Thái Hoàng D, Nguyễn Tấn T1 và Nguyễn Văn S. Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện:

Trên xe ô tô biển số 62H-X có 05 thùng kim loại rỗng không chứa gì.

Trên xe ô tô biển số 51D-X có 06 thùng kim loại chứa lươn sống và 03 (ba) bao tải màu xanh in chữ “thức ăn nuôi cá con cò”. Tiếp tục kiểm tra 03 bao tải màu xanh nêu trên phát hiện:

+ Bao tải thứ nhất: bên trong có chứa 18 túi nylon màu vàng in chữ “GUANYINWANG”, là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 18.015,7 gam, loại Methamphetamine và 02 túi nylon có tổng khối lượng 2.068,75 gam không tìm thấy ma túy.

+ Bao tải thứ hai: bên trong có 16 túi nylon in chữ “GUANYINWANG” là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 15.963 gam loại Methamphetamine.

+ Bao tải thứ ba: bên trong có 06 túi nylon màu xanh in chữ “TIEGUANYIN” là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 6.014,23 gam, loại Ketamine; 03 túi nylon màu vàng in chữ “GUANYINWANG” là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 3.013,25 gam, loại Methamphetamine; 05 túi nylon, có tổng khối lượng 5.837,01 gam không tìm thấy ma túy.

Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Trung T và Nguyễn Tấn T1, tạm giữ niêm phong toàn bộ số ma túy nêu trên (BL 39-44) Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thành phố H tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Tấn T1 tại ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Long và chỗ ở của Lê Trung T tại 4 L, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án (BL: 55-56; 59-60) Tất cả ma túy thu giữ của bị can trong vụ án đã được giám định, kết quả thể hiện tại Kết luận giám định số 71/KLGĐ-H ngày 27/12/2021 của Phòng K Công an Thành phố H (BL: 75-80).

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Lê Trung T khai nhận: Khoảng tháng 01/2021, thông qua một người bạn tên H2 (không rõ lai lịch), giới thiệu cho T quen với một đối tượng tên C (không rõ lai lịch) là người Trung Quốc hiện đang sinh sống tại Campuchia. Tính được C thuê 03 lần vận chuyển và giao ma túy theo yêu cầu của C để nhận tiền công, cụ thể:

Lần thứ nhất: vào ngày 12/12/2021, T thuê xe tải biển số 51D-X do Trần Khánh T2 điều khiển chạy đến khu vực chợ B, huyện B, nhận 05 thùng kim loại chứa lươn sống có cất giấu ma túy bên trong theo yêu cầu của C. Sau đó, T chở ma túy đi giao cho khách của C tại khu vực cầu vượt T, Quận A Thành phố Hồ Chí Minh. Giao dịch xong, T gọi điện thoại báo cho C biết. Đến khoảng 18 giờ ngày 14/12/2021, H2 xin số tài khoản của T để chuyển tiền công. Khoảng 30 phút sau tài khoản số 16420797 ngân hàng A của T nhận được 120.000.000 đồng (C nói 50.000.000 đồng tiền công cho chuyến ngày 12/12/2021 và 70.000.000 đồng còn lại để trả tiền công cho chuyến sau).

Lần thứ hai: vào ngày 15/12/2021, C gọi điện thoại thông báo cho T biết ngày mai có hàng trái cây về tại chợ H3 - Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, một người phụ nữ tên D1 (không rõ lai lịch) gọi điện thoại yêu cầu T đến khu vực chợ Đ huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh để nhận 35 sọt trái cây (xoài), trong đó có hai sọt có “Quà”. Tính nghi hai sọt trái cây có “Quà” có chứa hàng cấm nên hỏi là quà gì, người phụ nữ trả lời là ma túy và yêu cầu T sau khi nhận thì chở đến chân cầu vượt T5, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh giao cho người của C. Tính không biết số lượng và loại ma túy. Khoảng 5 giờ ngày 16/12/2021, T thuê xe tải biển số 51D-X do Trần Khánh T2 điều khiển đến khu vực chợ đầu mối H nhận 35 sọt xoài có chứa ma túy từ 1 xe tải (không rõ biển số). Sau đó, C cho T số điện thoại của một người đàn ông (không rõ lai lịch) khoảng 40 tuổi để liên lạc và T đã giao 35 sọt xoài trong đó có 2 sọt có cất giấu ma túy tại khu vực cầu vượt T, Quận A cho người đàn ông khoảng 40 tuổi theo yêu cầu của C.

Lần thứ ba: vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 18/12/2021, C liên hệ với T thông báo khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày đến khu vực vòng xoay Quốc lộ A và Nguyễn Văn L1 thuộc xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh để nhận ma túy rồi đi giao cho khách tại khu vực cầu vượt T, Quận A. Sau đó, T gọi điện thoại cho Trần Khánh T2 để thuê xe ô tô. Do T2 bận công việc riêng nên nhờ cha vợ là ông Thái Hoàng D lái xe tải thay cho T2. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, ông D điều khiển xe ô tô tải biển số 51D-X đến chở T và 05 thùng kim loại rỗng đi đến khu vực bãi đất trống gần khu vực vòng xoay Quốc lộ A và Nguyễn Văn L1 thuộc xã A, huyện B. Tại đây, T liên hệ với lái xe ô tô tải biển số 62H-X do Nguyễn Tấn T1 điều khiển chạy đến. Tính, T1 và ông D cùng lên thùng xe để chuyển 06 thùng kim loại (có chứa lươn sống và ma túy) từ xe 62H-X qua xe 51D-X và chuyển 05 thùng kim loại rỗng từ xe 51D-X qua xe 62H-X. Khi vừa chuyển xong thì bị cơ quan chức năng kiểm tra, phát hiện trong thùng đựng lươn có chứa ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Trung T và Nguyễn Tấn T1.

Cả ba lần vận chuyển ma túy trên, T đều không biết lai lịch của người giao ma túy cho T cũng như người nhận ma túy của T. Tính chỉ giao nhận theo yêu cầu của C. Tính khai do cần xe để vận chuyển ma túy nên khi đi ngoài đường thấy thông báo số điện thoại nhận chở hàng thuê của xe 51D-X thì đã chủ động liên hệ với T2 để thuê xe với giá 800.000 đồng/1 lần trong khu vực thành phố, từ 900.000 đồng đến 1.200.000 đồng/chuyến chở hàng ra ngoài thành phố. Riêng ông D có lái xe thay cho T2 ngày 18/12/2021. T2 và ông D không biết T thuê xe 51D-X để vận chuyển ma túy (BL 159-187).

Nguyễn Tấn T1 trình bày: bản thân làm nghề lái xe thuê cho ông Nguyễn Văn L2, có hộ khẩu thường trú tại ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Long An với tiền công 400.000 đồng/chuyến. Ngày 18/12/2021, ông L2 thuê T1 và Bùi Lam T3 chạy xe tải biển số 62H-X đến khu vực gần đồn biên phòng L3, tỉnh Long An để nhận 06 thùng lươn sống chở đi Thành phố Hồ Chí Minh giao cho khách. T3 điều khiển xe đến khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia gặp một người đàn ông chủ hàng (không rõ lai lịch) để nhận 06 thùng lươn chuyển lên xe 62H- X rồi T1 và T3 chạy về bãi xe của ông L2, tại ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Long An. Do bận công việc nên T3 giao xe chở hàng lại cho T1 cùng số điện thoại của T và số điện thoại của chủ hàng “06 thùng lươn sống” để T1 liên hệ. Sau đó, T1 một mình điều khiển xe 62H-X đến bãi đất trống gần khu vực vòng xoay Quốc lộ A - Nguyễn Văn L1, thuộc xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh giao 06 thùng lươn cho T và nhận lại 05 thùng kim loại rỗng thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang. T1 không biết trong 06 thùng kim loại chứa lươn sống có cất giấu ma túy. Lời khai của ông Nguyễn Văn L2 và Bùi Lam T3 phù hợp với lời khai của Nguyễn Tấn T1. Ông Nguyễn Văn L2 cho biết người liên hệ thuê xe của ông L2 để chở các thùng lươn sống là một người tên T4 (không rõ lai lịch) sống tại P, Campuchia. Thon liên lạc với ông L2 qua số điện thoại 00855979X929 (số thuê bao của nhà mạng Campuchia) để thuê vận chuyển hàng từ khu vực biên giới Campuchia lên Thành phố Hồ Chí Minh với giá 2.400.000 đồng/chuyến. Ông L2 không biết số hàng vận chuyển có chứa ma túy (BL 196-205).

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Thái Hoàng D trình bày: vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 18/12/2021, được con rể là Trần Khánh T2, có hộ khẩu thường trú tại 2 L, phường L, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh chủ xe tải biển số 51D- X nhờ chạy xe tải biển số 51D-X đi chở hàng cho Lê Trung T. Ông D liên lạc với T thì T hẹn đến số 339 Quốc lộ A, phường B, quận B. Tại đây, T chuyển lên xe của ông D 05 thùng kim loại rỗng. Sau đó, T kêu ông D chạy xe đến vòng xoay Quốc lộ A - Nguyễn Văn L1 chở cho Tính 06 thùng lươn sống. Tại đây, có xe tải biển số 62H-X chạy đến. Lúc này, T yêu cầu ông D phụ T cùng tài xế xe 62H-X chuyển 05 thùng kim loại rỗng từ xe ông D qua xe 62H-X và chuyển 06 thùng kim loại có hàng từ xe 62H-X qua xe của ông D. Sau khi chuyển xong thì bị tổ công tác đến kiểm tra như đã nêu trên (BL 212-217).

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Nguyễn Văn S trình bày: bản thân làm công bốc xếp hàng hóa, khoảng 23 giờ 00 phút ngày 18/12/2021, tại khu vực vòng xoay Quốc lộ A - Nguyễn Văn L1, khi thấy 02 xe ô tô tải biển số 62H-X và 51D-X đậu gần nhau thì S đến xin được bốc xếp hàng hóa trên xe để kiếm tiền, nhưng T và T1 không đồng ý. Trong lúc đang đứng cạnh 02 xe ô tô tải thì S chứng kiến toàn bộ sự việc chuyển hàng giữa hai xe và việc cơ quan chức năng đến kiểm tra (BL 113).

Kết quả điều tra xác định Nguyễn Tấn T1 được ông L2 thuê lái xe tải với tiền công 400.000 đồng/chuyến, T1 không biết trong 06 thùng kim loại chứa lươn sống mà mình vận chuyển có chứa ma túy bên trong, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã ra Quyết định trả tự do đối với Nguyễn Tấn T1 (BL 192).

Đối với các đối tượng tên H2, C, T4, người phụ nữ tên D1 và người đàn ông khoảng 40 tuổi, do T và Nguyễn Văn L2 khai không rõ lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý.

Vật chứng của vụ án đã được liệt kê tại tại Phiếu nhập kho vật chứng của Phòng Cảnh sát điều tra (PC04) và Phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp (PC10) Công an Thành phố H.

Tại bản Cáo trạng số 53/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 16/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị can Lê Trung T (có lý lịch nêu trên) về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 356/2023/HS-ST ngày 31/7/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Căn cứ điểm h khoản 4 khoản 5 Điều 250, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt bị cáo Lê Trung T tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 18/12/2021. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Phạt bổ sung bị cáo T 50.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo, quyền làm đơn xin ân giảm án tử hình theo quy định của pháp luật.

Ngày 10/8/2023, bị cáo Lê Trung T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Lê Trung T thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu, chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo cần tiền nên mới phạm tội; bị cáo chỉ thực hiện theo sự chỉ đạo của người khác chứ không phải là chủ mưu.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Trung T là Luật sư Vũ Thanh H trình bày: Thống nhất với tội danh mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có chú ruột là liệt sĩ, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có cha mẹ già phải chăm sóc, để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo một cơ hội được sống.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Lê Trung T tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Trung T đã thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, biên bản khám xét, kết luận giám định, biên bản nhận dạng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, qua đó Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở để xác định như sau:

[2.1] Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 18/12/2021, đối tượng tên C (không rõ nhân thân) gọi điện thông báo cho bị cáo T biết khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày đến bãi đất trống tổ I, ấp A, khu vực vòng xoay Quốc lộ A và đường N thuộc xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh để nhận 06 thùng lươn sống có chứa ma túy rồi đi giao cho khách tại khu vực cầu vượt T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh và nhắn tin cho bị cáo T số điện thoại của Nguyễn Tấn T1 là tài xế chở lươn sống có chứa ma túy. Cùng ngày, ông Nguyễn Văn L2 được đối tượng tên T4 (không rõ lai lịch) thuê chở 06 thùng lươn sống từ gần L3, tỉnh Long An lên Thành phố Hồ Chí Minh. Ông L2 thuê Nguyễn Tấn T1 lái xe tải biển số 62H-X chở hàng lên Thành phố Hồ Chí Minh. Còn bị cáo T thuê xe ô tô tải biển số 51D-X do ông Thái Hoàng D điều khiển chở bị cáo đến điểm hẹn như đã nêu trên để nhận ma túy và mang đi giao cho khách. Vào lúc 23 giờ 10 phút cùng ngày, khi đang nhận ma túy tại địa điểm nêu trên thì T bị Tổ công tác kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ trên thùng xe ô tô biển số 51D-X có 06 thùng kim loại chứa lươn sống, bên trong có 03 bao tải chứa ma túy.

[2.2] Tại Kết luận giám định số 71/KLGĐ-H ngày 27/12/2021 của Phòng K Công an Thành phố H thể hiện số ma túy bị thu giữ nêu trên là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 36.991,95 gam, loại Methamphetamine và 6.014,23 gam, loại Ketamine.

[2.3] Ngoài ra, bị cáo còn khai nhận trước đó đã 02 lần vận chuyển ma túy túy cho đối tượng C vào các ngày 12/12/2021 và ngày 15/12/2021. Tuy nhiên, ngoài lời khai của bị cáo, không có chứng cứ nào khác để chứng minh nên không có cơ sở để buộc bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số lượng ma túy của những lần đã vận chuyển này.

[2.4] Đối với Nguyễn Tấn T1, Thái Hoàng D, Nguyễn Văn L2, Trần Khánh T2 không biết bên trong các thùng lươn có chứa ma túy và không biết việc bị cáo T vận chuyển trái phép chất ma túy cho đối tượng tên C (chưa rõ lai lịch) nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

[2.5] Đối với các đối tượng tên H2, C, T4, người phụ nữ tên D1 và người đàn ông khoảng 40 tuổi, do bị cáo T và ông Nguyễn Văn L2 khai không rõ lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý.

[3] Với các hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Trung T phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 250 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm đến chính sách của nhà nước về đấu tranh phòng ngừa và loại bỏ ma túy ra khỏi cuộc sống xã hội, không những gây mất trật tự trị an, sức khỏe con người, làm lây lan tệ nạn nghiện ngập trong xã hội mà còn gây khó khăn trong việc phòng chống tội phạm về ma túy và các tội phạm, tệ nạn xã hội khác nên cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

[5.1] Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng là tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự và áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có chú ruột là liệt sĩ, quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, số lượng ma túy bị cáo vận chuyển là rất lớn, gấp nhiều lần so với mức khởi điểm của khung hình phạt là 100 gam trở lên; ngoài ra, bị cáo có nhân thân rất xấu, đã từng nhiều lần bị kết án nhưng bị cáo không hối cải mà lại tiếp tục phạm tội với mức độ nghiêm trọng hơn. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo T tử hình và phạt bổ sung bị cáo 50.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước là thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo nên kháng cáo của bị cáo là không có cơ sở chấp nhận.

[6] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo cũng như đề nghị của người bào chữa, và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm. Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[8] Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Lê Trung T phải chịu, theo quy định pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Trung T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 356/2023/HS-ST ngày 31/7/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuyên xử:

[1] Căn cứ điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 250, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Lê Trung T tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Trung T để đảm bảo thi hành án.

Phạt bổ sung bị cáo T 50.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.

[2] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[3] Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Lê Trung T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Bị cáo Lê Trung T có quyền làm đơn gửi Chủ tịch nước - N xin ân giảm án tử hình trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

52
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội vận chuyển trái phép chất ma túy số 58/2024/HS-PT

Số hiệu:58/2024/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 24/01/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về