TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
BẢN ÁN 130/2025/HS-ST NGÀY 22/09/2025 VỀ TỘI VẬN CHUYỂN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Ngày 22 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 138/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2025/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
Cà Thị T, tên gọi khác không, sinh ngày 16/3/1983 tại xã MH, tỉnh Sơn La. Nơi thường trú: Bản L, xã MH, tỉnh Sơn La; Nơi ở hiện tại: Số 34, ngõ 179/xxx, tổ 28, phường Vĩnh H, quận Hoàng M, Thành phố HN (nay là phường Vĩnh H, thành phố HN); nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Cà Văn P sinh năm 1939, con bà Lò Thị N (đã chết); Bị cáo có chồng là Phạm Trọng M, sinh năm 1980 (đã ly hôn) và có 03 con (con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2011). Tiền án: Bị cáo Cà Thị T có 03 tiền án; Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 63/HSST ngày 06/6/2007 của Tòa án nhân dân huyện SM, tỉnh Sơn La; Xử phạt 36 tháng tù về tội: Tội mua bán trái phép chất ma túy; Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 282/HSST ngày 29/10/2010 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội; Xử phạt 30 tháng tù về tội: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Cả hai bản án trên đều được hoãn chấp hành án do nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 80/HSST ngày 26/7/2013 của Tòa án nhân dân huyện SM, tỉnh Sơn La; Xử phạt 30 tháng tù về tội: Tội trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt chung của nhiều bản án với Bản án số 63/HSST và Bản án số 282/HSST; Xử phạt bị cáo Cà Thị T 95 tháng 21 ngày tù, đến ngày 11/8/2019, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Chưa được xóa án tích (do chưa chấp hành nghĩa vụ phần bồi thường dân sự). Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam trong vụ án này kể từ ngày 14/8/2024 cho đến nay “có mặt”.
- Người bào chữa cho bị cáo Cà Thị T: Bà Lường Thị T, Luật sư thực hiện Trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 14/8/2024, tổ Công tác Công an huyện SM, tỉnh Sơn La phối hợp với Công an xã Chiềng Kh, huyện SM làm nhiệm vụ tại bản C5, xã Chiềng Kh, huyện SM (nay là xã Chiềng Kh, tỉnh Sơn La). Phát hiện, bắt quả tang Cà Thị T đang có hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 11 túi nilon (09 túi nilon màu xanh và 02 túi nilon màu hồng), bên trong chứa các viên nén màu hồng (nghi là Methamphetamine, T khai là ma túy hồng phiến); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi.
Hồi 15 giờ 30 phút ngày 14/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện SM thành lập Hội đồng mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng và lấy mẫu trưng cầu giám định. Kết quả: 11 túi nilon (09 túi nilon màu xanh và 02 túi nilon màu hồng) bên trong chứa 2.073 viên nén màu hồng, có tổng khối lượng 206,17 gam, trích trong mỗi túi 05 viên (tổng 55 viên), tổng khối lượng 5,17 gam làm mẫu gửi trưng cầu giám định, đánh ký hiệu từ T1 đến T11.
Tại bản Kết luận giám định số1601/KL-KTHS ngày 16/8/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu ký hiệu từ T1 đến T11 gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 206,17 gam, loại Methamphetanmine”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Cà Thị T khai nhận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 12/8/2024, T đang ở nhà tại HN thì nhận được điện thoại của Phạm Bích L bảo T lên huyện SM, tỉnh Sơn La lấy ma túy vận chuyển về HNcho L, L sẽ trả công 6.000.000 đồng. T đồng ý và hỏi L địa điểm cụ thể, L nói đi đến đỉnh dốc bản Bướm Ỏ1, xã Chiềng Kh, huyện SM, tỉnh Sơn La sẽ có người giao ma túy cho. Khoảng 21 giờ cùng ngày, T đi xe khách từ thành phố HNlên huyện SM, tỉnh Sơn La, đến khoảng 06 giờ ngày 13/8/2024, T đến huyện SM. 15 giờ cùng ngày, T đi nhờ xe máy của một người đàn ông không quen biết đến ngã ba bản Púng, xã Chiềng Kh, huyện SM rồi tiếp tục đi bộ đến đỉnh dốc bản Bướm Ỏ1, xã Chiềng Kh, huyện SM đợi, 15 phút sau, có một người đàn ông đến đưa cho T 01 túi nilon màu xanh bên trong chứa 11 túi đựng hồng phiến. T nhận túi hồng phiến rồi đi bộ ra đường Quốc lộ 4G đón xe khách đi về Hà Nội. Khi đi đến bản C5, xã Chiềng Kh, huyện SM thì bị tổ công tác Công an huyện SM kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số: 97/CT-VKS-P1 ngày 05/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Cà Thị T về tội: Tội vận chuyển trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025.
* Tại phiên tòa sơ thẩm: Bị cáo Cà Thị T thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố và không khai báo gì thêm.
* Tranh luận tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La trình bày luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Cà Thị T phạm tội: Tội vận chuyển trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đề nghị xử phạt bị cáo Cà Thị T 20 năm tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu trưng cầu giám định chất ma túy cùng các gói nilon, mảnh giấy màu trắng, mảnh băng dính màu đen và 01 chiếc áo sơ mi thu giữ của Cà Thị T. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi thu giữ của Cà Thị T.
Về án phí: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Cà Thị T: Nhất trí với quyết định truy tố và lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La về tội danh, điều luật áp dụng và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ do Viện kiểm sát đề nghị. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, bị cáo thành khẩn khai báo, nhân thân là phụ nữ sổng ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Đề nghị xử phạt bị cáo mức án thấp nhất trong khung hình phạt và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo Cà Thị T nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa, không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Cà Thị T:
Ngày 14/8/2024, Cà Thị T bị phát hiện, bắt quả tang tại bản C5, xã Chiềng Kh, huyện SM (nay là xã Chiềng Kh, tỉnh Sơn La). Đang vận chuyển trái phép 11 túi nilon bên trong chứa 2.073 viên nén màu hồng có khối lượng 206,17 gam Methamphetamine, vận chuyển trái phép cho người khác để hưởng tiền công.
Hành vi phạm tội của bị cáo Cà Thị T được chứng minh bằng các căn cứ sau:
Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 07 giờ 45 phút ngày 14/8/2024 tại bản C5, xã Chiềng Kh, huyện SM đối với Cà Thị T về hành vi Vận chuyển trái phép chất ma túy cùng vật chứng thu giữ; Biên bản bóc mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong, kiểm tra nhật ký điện thoại, danh bạ và niêm phong lại vật chứng; Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể;
Kết luận giám định số 1601/KL-KTHS ngày 16/8/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu ký hiệu từ T1 đến T11 gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 206,17 gam, loại Methamphetanmine”.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với khối lượng ma túy thu giữ và các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa.
Từ các căn cứ chứng minh nêu trên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Cà Thị T phạm tội: Tội vận chuyển trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 250 Bộ luật Hình sự.
Tại thời điểm bị cáo phạm tội, Tội vận chuyển trái phép chất ma túy được điểu chỉnh bởi Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, ngày 01/7/2025, Luật số: 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật và thay đổi về khối lượng ma túy và mức hình phạt áp dụng. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 4 Luật số: 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội, trong trường hợp quy định của Bộ luật hình sự mới có lợi cho người thực hiện hành vi phạm tội trước thời điểm luật có hiệu lực nhưng bị phát hiện, xử lý sau đó, thì áp dụng theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo. Do đó, Tòa án áp dụng Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét, xử lý đối với bị cáo. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La và luận tội tại phiên tòa là có căn cứ đúng quy định của pháp .
[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo Cà Thị T vận chuyển trái phép 206,17 gam, loại Methamphetamine đã vi phạm tình tiết “Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025 có mức hình phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân.
[4] Về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo:
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc vận chuyển trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đã có tiền án về tội phạm ma túy nhưng không lấy đó làm bài học để sửa chữa mà tiếp tục phạm tội, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; là một trong những nguyên nhân làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Nhân thân bị cáo là phụ nữ có nhân thân xấu, có nhiều tiền án về tội ma túy đã được cải tạo giáo dục nhiều năm là người am hiểu pháp luật nhưng do hám lợi nên cố tình thực hiện tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, nhân thân bị cáo là phụ nữ người dân tộc thiểu số, được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Cà Thị T đã “tái phạm”, chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng đặc biệt khó khăn nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, khối lượng ma túy bị cáo vận chuyển trái phép: Hội đồng xét xử xét thấy, cần có mức hình phạt tương xứng. Cần cách ly bị cáo Cà Thị T ra khỏi ngoài xã hội một thời gian bằng hình thức tù có thời hạn, áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tại phiên tòa là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật, góp phần trừng trị, giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung, đáp ứng công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhất là các tội phạm về ma túy trong giai đoạn hiện nay.
[6] Bị cáo Cà Thị T đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn trên 45 ngày, duy trùy Quyết định tạm giam số: 326/2025/HSST- QĐTG ngày 05 tháng 9 năm 2025 của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La đối với bị cáo Cà Thị T.
[7] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 250 Bộ luật Hình sự. Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có tài sản có giá trị, không có khả năng thi hành. Cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo, bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Cà Thị T.
[8] Về nguồn gốc ma túy và các đối tượng liên quan trong vụ án:
Về nguồn gốc 206,17 gam Methamphetanmine, bị cáo khai nhận của một người đàn ông dân tộc Mông (T không biết tên, địa chỉ), ngoài lời khai của bị cáo ra không có tài liệu chứng cứ nào khác, cơ quan điều tra không có căn cứ mở rộng vụ án.
Đối với người tên Phạm Bích L đã thuê bị cáo vận chuyển ma túy: Kết quả điều tra xác định, Phạm Bích L, sinh ngày 16/7/1977, hộ khẩu thường trú tại số 226 Lò Đ, phường Đống M, quận HBT. Tuy nhiên, L không có mặt tại nơi cư trú, đã bị cắt treo hộ khẩu do năm 2023 đi chấp hành án phạt tù, hiện chưa nhập lại, gia đình không biết L hiện đang ở đâu, làm gì. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh đã ra Quyết định truy tìm số 3025/QĐ-CSMT ngày
21/7/2025, Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 3391/QĐ-CSMT ngày 11/8/2025 đối với Phạm Bích L, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định pháp luật.
Đối với người đàn ông cho bị cáo đi nhờ xe đến địa điểm nhận ma túy; gia đình người dân tộc Mông mà bị cáo đã ngủ nhờ: T khai không biết tên, địa chỉ của những người này. Việc gặp, trao đổi không có ai biết, chứng kiến. Ngoài lời khai của bị cáo, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh mở rộng vụ án.
[9] Về xử lý vật chứng: Đối với 201 gam Methamphetamine còn lại sau khi đã trích rút mẫu gửi giám định cùng các 10 túi nilon, 01 mảnh giấy màu trắng, 01 đoạn băng dính màu đen, 01 chiếc áo sơ mi thu giữ của Cà Thị T: Xét đây là loại hàng Nhà nước cấm lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi thu giữ của bị cáo Cà Thị T. Quá trình điều tra xác định: Chiếc điện thoại là công cụ, phương tiện bị cáo dùng để liên lạc vào thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước. Vận dụng điểm a, điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[10] Về án phí: Bị cáo Cà Thị T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
[11]. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật, vận dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 250 Luật số: 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố bị cáo Cà Thị T phạm tội: Tội vận chuyển trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Cà Thị T 20 (hai mươi) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 14 tháng 8 năm 2024).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, được quy định tại khoản 5 Điều 250 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/8/2025 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La và Cục thi hành án dân sự tỉnh Sơn La) như sau.
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 201 gam Methamphetamine còn lại sau khi trích mẫu giám định và 01 (một) bì thư niêm phong dán ban đầu đã bóc mở cùng 10 (mười) túi nilon màu xanh, 02 (hai) túi nilon màu hồng, 01 (một) đoạn băng dính màu đen, 01 (một) mảnh giấy màu trắng được đựng trong một chiếc phong bì còn nguyên niêm phong. 01 (Một) áo sơ mi dài tay kẻ sọc màu xanh trắng nhãn hiệu OJEANS, đã qua sử dụng.
Tuyên tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước: 01 (Một) chiếc điện thoại Xiaomi thu giữ của bị cáo Cà Thị T (đã được niêm phong).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Cà Thị T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22/9/2025).
Bản án về tội vận chuyển trái phép chất ma túy số 130/2025/HS-ST
| Số hiệu: | 130/2025/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Sông Mã - Sơn La |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 22/09/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về