TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
BẢN ÁN 80/2025/HS-PT NGÀY 21/01/2025 VỀ TỘI VẬN CHUYỂN HÀNG CẤM
Ngày 21 tháng 01 năm 2025, mở phiên tòa công khai tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 646/2024/TLPT-HS ngày 09/12/2024 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 102/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 281/2025/QĐXXPT-HS ngày 08/01/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, đối với:
Bị cáo kháng cáo: Võ Văn L, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1978 tại tỉnh Bình Thuận; nơi thường trú: B D, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nơi ở hiện tại: B N, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn:
7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn T và bà Nguyễn Thị T1 (đã chết); có vợ là Lương Thị Mỹ T2 và 03 người con; tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 06/01/2024 đến ngày 15/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại, có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Châu Hoàng H, Phan Văn T3, Lê Ngọc B, Chu Đức H1 nhưng không kháng cáo, không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án tóm tắt như sau:
Châu Hoàng H hợp đồng thuê xe ô tô khách nhãn hiệu Huyndai Aero Space gắn biển kiểm soát 3A-xxxx PHNOMPENH của Công ty S1 có địa chỉ ở thủ đô P, Campuchia từ năm 2019 để chuyên chở khách theo tuyến cố định từ thành phố P, tỉnh Gia Lai đi thành phố B, R, Campuchia và ngược lại.
Do có quen biết từ trước với H nên vào lúc 15 giờ 27 phút ngày 04/01/2024, Chu Đức H1 gọi cho H trao đổi về việc thuê H chở 11 bao tải đựng 550kg hạt Mã tiền không có giấy tờ, nguồn gốc từ thành phố B, tỉnh Ratanakiri, Campuchia về thành phố P, tỉnh Gia Lai cho người đàn ông tên “Pẩu” (người Trung Quốc, không rõ nhân thân lai lịch do H1 quen qua phần mềm Wechat) với giá cước 100.000 đồng/bao, tổng cộng số tiền 1.100.000 đồng, H đồng ý chở hạt Mã tiền cho H1. H1 sử dụng zalo liên lạc với H và ông Huỳnh Minh Đ (nhân viên Công ty V chuyên vận chuyển hàng hoá mà H1 tìm được trên trang mạng trước đó) để cung cấp số điện thoại của H cho ông Đ và số điện thoại của ông Đ cho H với mục đích để khi H vận chuyển hạt Mã tiền về đến thành phố P giao cho ông Đ thì ông Đ sẽ vận chuyển về địa chỉ nhà của H1 ở tại G N, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, ông “Pẩu” sẽ cho người đến nhà H1 để nhận hạt Mã tiền.
Khoảng 14 giờ ngày 05/01/2024, khi xe của H đang đậu tại khu vực thành phố B, tỉnh Ratanakiri, Campuchia thì có một người đàn ông Campuchia (không rõ nhân thân lai lịch) điều khiển xe mô tô chở đến 05 thùng hàng bên trong có chứa 2.500 bao thuốc lá điếu (gồm 1.500 bao nhãn hiệu JET, 500 bao nhãn hiệu ESSE, 500 bao nhãn hiệu HERO) và thỏa thuận về việc thuê H chở số thuốc lá này về thành phố P, tỉnh Gia Lai với giá 300.000đồng/thùng, người Campuchia cung cấp số điện thoại của H cho người nhận và nói với H khi về đến thành phố P, tỉnh Gia Lai sẽ có người liên hệ nhận hàng, người này trả cho H 1.500.000 đồng tiền công vận chuyển. Sau đó H, cùng Lê Ngọc B (là phụ xe) bốc xếp số thuốc lá trên giấu vào hầm bí mật dưới hàng ghế sau cùng trên khoang hành khách nhằm mục đích tránh sự phát hiện của lực lượng Hải quan và Bộ đội biên phòng tại Cửa khẩu Quốc tế L3.
Cũng trong thời gian này, có một người Campuchia (không rõ nhân thân, lai lịch) lái xe ô tô 16 chỗ biển số Campuchia chở đến 11 bao tải đựng 550kg hạt Mã tiền đến nơi đậu xe của H. Lúc này, H biết đây chính là số lượng hạt Mã tiền H1 liên lạc để thuê H vận chuyển trước đó nên H cùng T3 và B bốc xếp 08 bao hạt Mã tiền để trong hầm bí mật của xe trên khoang hành khách (cùng với 2.500 bao thuốc lá điếu), 03 bao hạt Mã tiền còn lại để cùng vị trí để 06 bao chuối hột ở khu vực khoang chứa hàng dưới xe.
Đến 09 giờ ngày 06/01/2024, H và Phan Văn T3 (là lái xe do H thuê) thay nhau điều khiển xe ô tô khách biển kiểm soát 3A-xxxx PHNOMPENH đi từ thành phố B, tỉnh Ratanakiri, Campuchia qua cửa khẩu Quốc tế L3, huyện Đ về thành phố P, tỉnh Gia Lai. Khi về đến bãi rửa xe tại địa chỉ B L, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai, H gọi điện cho Võ Văn L (là người chở hàng thuê cho H trong khu vực thành phố P với tiền công vận chuyển là 250.000 đồng/chuyến) đến địa chỉ trên để nhận thuốc lá và chờ người thuê chở cung cấp địa chỉ khách hàng để L đi giao thuốc lá cho khách. Đến 13 giờ 45 phút, khi H, T3, B và L đã bốc xếp được 2.000 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu JET, HERO từ xe ô tô khách gắn BKS 3A-xxxx PHNOM PENH sang xe ô tô tải gắn BKS 81C-xxxxx của L tại B L, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang thu giữ toàn bộ số thuốc lá và 11 bao tải hạt Mã tiền nêu trên.
Tại Kết luận giám định số 117/KL-KTHS ngày 14/01/2024 của Phòng K, Công an tỉnh G, kết luận: 2.500 bao thuốc lá điếu đều là thuốc lá điếu đầu lọc thành phẩm, không phải là thuốc lá điếu đầu lọc được sản xuất tại Việt Nam.
Tại Kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực Lâm nghiệp số 01- 2024/KL/GĐCN ngày 01/02/2024 nhận định: Hạt Mã tiền chính là hạt của quả Mã tiền chín được phơi khô của cây Mã tiền, có tên khoa học là S nuxvomica L và thuộc họ Mã tiền có tên khoa học là L1 thuộc nhóm gỗ VI. Theo đông y, hạt Mã tiền có tính hàn, có vị đắng và có độc dược. Hạt Mã tiền là bộ phận duy nhất trên cây Mã tiền được sử dụng để làm thuốc. Đồng thời kết luận: 550kg hạt đựng bên trong 11 bao tải là hạt Mã tiền, tại thời điểm giám định còn giá trị sử dụng. Tại Kết luận định giá tài sản số 64/KL-HĐĐGTS ngày 26/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Gia Lai kết luận giá 550kg hạt mã tiền có giá 137.500.000 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 102/2024/HS-ST ngày 30/10/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai quyết định:
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Châu Hoàng H, Phan Văn T3 và Lê Ngọc B phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” và tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”; bị cáo Võ Văn L phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” và bị cáo Chu Đức H1 phạm tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”.
Về hình phạt:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Võ Văn L 12 (mười hai) tháng tù về “Tội vận chuyển hàng cấm”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 06/01/2024 đến ngày 15/01/2024.
Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với các bị cáo Châu Hoàng H, Phan Văn T3 và Lê Ngọc B và Chu Đức H1, quyết định về xử lý vật chứng, án phí.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Bị cáo Võ Văn L kháng cáo xin hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Võ Văn L giữ nguyên kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa phúc thẩm hôm nay, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, Thẩm phán, Thư ký Tòa án thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa và thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ khi tham gia tố tụng.
+ Về nội dung: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Hoàng L2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án; căn cứ kết quả xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa xét thấy:
[1] Về tội danh, khung hình phạt: Tại phiên tòa bị cáo Võ Văn L thừa nhận có thực hiện hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm xác định đó là Võ Văn L chủ sở hữu xe ô tô tải Biển kiểm soát 81C-xxxxx là người thường xuyên được Châu Hoàng H (địa chỉ thường trú: A C, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai) thuê chở hàng cho H trong khu vực thành phố P với tiền công vận chuyển là mỗi chuyển 250.000 đồng. Đầu giờ chiều ngày 06/01/2024, Võ Văn L nhận được điện thoại của Châu Hoàng H yêu cầu đến bãi rửa xe tại địa chỉ B L, phường P, thành phố P nhận thuốc lá để đi giao cho khách. Lúc 13 giờ 45 phút, khi Châu Hoàng H, Phan Văn T3, Lê Ngọc B và Võ Văn L đang bốc xếp 2.500 bao thuốc lá điếu (gồm 1.500 bao nhãn hiệu JET, 500 bao nhãn hiệu ESSE, 500 bao nhãn hiệu HERO) từ xe ô tô khách Biển kiểm soát 3A-xxxx PHNOM PENH do H điểu khiển từ C vừa về Pleiku sang xe ô tô tải của Võ Văn L thì bị Công an tỉnh G phát hiện, bắt quả tang. Kết luận giám định kết luận toàn bộ số thuốc lá điếu trên không phải thuốc lá sản xuất tại Việt Nam. Do Võ Văn L thực hiện hành vi trên nên Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố Võ Văn L phạm vào “Tội vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự là đúng tội, đúng khung hình phạt.
[2] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và việc quyết định hình phạt của Tòa án cấp sơ thẩm đối với bị cáo Võ Văn L, cấp phúc thẩm thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo L vi phạm quy định của Nhà nước về vận chuyển hàng hóa cấm kinh doanh. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo L không bị áp dụng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét, hình phạt với “Tội vận chuyển hàng cấm” quy định tại khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự là từ 06 tháng đến 03 năm; bị cáo L là người thường xuyên được Châu Hoàng H thuê chở hàng cho H trong khu vực thành phố P với tiền công vận chuyển mỗi chuyển 250.000 đồng, bị cáo L phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa được nhận tiền công vận chuyển và đã bị cấp sơ thẩm tuyên tịch thu sung công xe ô tô tải Biển kiểm soát 81C-xxxxx (là phương tiện kiếm sống hàng ngày của gia đình bị cáo L) nên mức hình phạt 12 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo L là có phần nghiêm khắc khi so sánh với bị cáo Phan Văn T3 (lái xe khách), bị cáo Lê Ngọc B (phụ xe khách) đã tham gia bốc hàng lên xe khách từ Campuchia xếp hàng vào các ngăn bí mật trên xe rồi vận chuyển về Việt Nam và cũng tham gia chuyển hàng từ xe khách sang xe tải của L, nhưng T3 bị xử phạt 09 tháng tù, B bị xử phạt 06 tháng tù về “Tội vận chuyển hàng cấm” (Phan Văn T3 và Lê Ngọc B không kháng cáo, không bị kháng nghị); do đó, cấp phúc thẩm xét cần giảm cho bị cáo L một phần hình phạt để bị cáo sớm trở về làm ăn lương thiện, giúp đỡ gia đình, bù đắp thiệt hại kinh tế gia đình do xe ôtô tải đã bị tịch thu sung công.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết hạn kháng cáo, kháng nghị. Bị cáo L kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 102/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, như sau:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Võ Văn L 06 (sáu) tháng tù về “Tội vận chuyển hàng cấm”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 06/01/2024 đến ngày 15/01/2024.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết hạn kháng cáo, kháng nghị Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tội vận chuyển hàng cấm số 80/2025/HS-PT
| Số hiệu: | 80/2025/HS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân cấp cao |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 21/01/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về