Bản án về tội vận chuyển hàng cấm số 176/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 176/2024/HS-ST NGÀY 19/07/2024 VỀ TỘI VẬN CHUYỂN HÀNG CẤM

Trong ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 154/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 164/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Lê Văn L, sinh năm 1984, sinh tại: tỉnh Tây Ninh; Nơi cư trú: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Chỗ ở: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Huỳnh Thị Đ; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Đ1, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2017.

Tiền sự: Không. Tiền án:

- Ngày 10/6/2011, Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh căn cứ khoản 2 Điều 104, điểm đ, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) xử phạt Lê Văn L 02 năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 66/2011/HSST, tổng hợp hình phạt với bản án số 93/2010/HSST ngày 30/9/2010, buộc chấp hành hình phạt chung là 03 năm tù tính từ ngày 10/6/2011, chấp hành tại Trại giam C2, chấp hành xong ngày 05/4/2013. Qua xác minh, Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Châu chưa thụ lý và tổ chức thi hành đối với bản án 66/2011/HSST ngày 10/6/2011.

- Ngày 26/9/2019, Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh căn cứ khoản 1 Điều 153; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) xử phạt Lê Văn L 04 năm tù, về tội “Chiếm đoạt người dưới 16 tuổi” theo bản án số 70/2019/HSST, chấp hành xong ngày 20/01/2023 tại Trại giam C2. Qua xác minh, Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Biên, Lê Văn L đã đóng án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ.

Nhân thân: Ngày 30/9/2010, Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh căn cứ khoản 1 Điều 138, điểm h, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) xử phạt Lê Văn L 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 93/2010/HSST, chấp hành tại Trại giam C2; Lê Văn L đã đóng án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ.

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 22/01/2024 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Lê Văn H, sinh năm 1987, sinh tại: tỉnh Tây Ninh; Nơi cư trú: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Chỗ ở: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm công; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Huỳnh Thị Đ; bị cáo có vợ tên Trần Thị Mỹ L (đã ly hôn), có con sinh năm 2012.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 10/6/2011, Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh căn cứ khoản 2 Điều 104, điểm đ, p khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) xử phạt Lê Văn H 12 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 66/2011/HSST. Ngày 24/6/2011, Lê Văn H kháng cáo xin hưởng án treo. Ngày 10/8/2011, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh không chấp nhận kháng cáo của Lê Văn H, căn cứ khoản 2 Điều 104, điểm đ, p khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) xử phạt H 12 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 148/2011/HSPT. Qua xác minh, Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Châu chưa thụ lý và tổ chức thi hành đối với Bản án số 66/2011/HSST ngày 10/6/2011 và Bản án số 148/2011/HSPT ngày 10/8/2011 nêu trên.

Nhân thân:

- Ngày 30/9/2010, Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh căn cứ khoản 1 Điều 250, điểm h, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46, Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) xử phạt Lê Văn H 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 năm kể từ ngày tuyên án, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Bản án số 93/2010/HSST, Lê Văn H đã đóng án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ.

- Ngày 24/4/2013, Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh căn cứ khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) xử phạt Lê Văn H 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 36/2013/HSST, tổng hợp hình phạt của bản án số 148/2011/HSPT ngày 10/8/2011, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 01 năm 09 tháng tù, tính từ 15/02/2013. Chấp hành xong ngày 15/9/2014 tại Trại giam C2.

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 22/01/2024 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Trần Công M sinh năm 1983 Địa chỉ: Số B, đường số A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt) 2. Công ty trách nhiệm hữu hạn T5

- Người đại diện theo pháp luật ông Trần Khánh T1, chức vụ: Giám đốc.

Địa chỉ: Số E, đường số A, Phường D, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 21/01/2024, Lê Văn L được một người quen biết ngoài xã hội tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch) thuê vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu, với số tiền 800.000đ một chuyến, đi từ xã M, huyện Đ, tỉnh Long An đến Khu vực Miếu ông C thuộc thành phố D, tỉnh Bình Dương. Thù giao xe ô tô hiệu Toyota, loại Innova, biển số 51G - xxxx cho người tên N (chưa rõ lai lịch) rồi N giao xe ô tô lại cho L để L làm phương tiện vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu. L rủ Lê Văn H, là em ruột của L cùng L đi bốc xếp hàng hóa, H đồng ý.

Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 22/01/2024, L đang uống cà phê cùng với H tại quán cà phê võng gần ngã ba M thuộc xã M, huyện Đ, tỉnh Long An thì nhận được cuộc gọi từ số điện thoại 036303xxxx của T, yêu cầu L vào khu rừng tràm thuộc xã M, huyện Đ, tỉnh Long An nhận thuốc lá điếu nhập. L điều khiển xe ô tô biển số 51G - xxxx chở theo H đến khu rừng tràm và cùng nhau chất thuốc nhãn hiệu Jet, H và Raison I Café lên xe. Lúc này, H biết rõ là L rủ H vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu nhưng H vẫn đồng ý tiếp tục vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu. Sau đó, L điều khiển xe ô tô chở theo H và thuốc lá điếu nhập lậu trên đường thì T2 điện thoại cho Lắm yêu cầu giao thuốc lá tại khu vực Miếu ông C, đến nơi thì điện thoại qua Zalo tên “Nguyễn Nguyễn" có người ra nhận thuốc lá điếu nhập lậu, L đồng ý.

Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, khi L điều khiển xe đến đoạn giao nhau giữa Tỉnh lộ 8 và đường N, thuộc Khu phố A, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị lực lượng Công an huyện C kiểm tra phát hiện trên xe cất giấu 10.400 bao thuốc lá điếu nhập lậu gồm: 5.900 bao nhãn hiệu Jet; 3.500 bao nhãn hiệu Hero và 1.000 bao nhãn hiệu Raison Ice Café nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Văn L và Lê Văn H.

Bản cáo trạng số: 150/CT-VKS-CC ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Lê Văn L và Lê Văn H về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi “Vận chuyển hàng cấm” của các bị cáo, đánh giá các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo.

Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn L với mức án từ 07 (Bảy) năm đến 08 (Tám) năm tù.

Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn H với mức án từ 06 (Sáu) năm đến 07 (Bảy) năm tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung tiền đối với các bị cáo do các bị cáo không có việc làm ổn định.

Về xử lý vật chứng:

Đề nghị tịch thu và tiêu hủy:

- 10.400 bao thuốc lá điếu nhập lậu gồm: 5.900 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet; 3.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero và 1.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Raison Ice Café.

- 20 bao ni lông không màu, đã qua sử dụng;

- 01 tấm vải màu đen, đã qua sử dụng.

Đề nghị tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước:

- 01 điện thoại di động hiệu S1 màu đen, số IMEI 1: 353976312768447; số IMEI 2: 354550372768446, đã qua sử dụng do bị cáo L dùng để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội;

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số IMEI 1: 35733256001 2417; số IMEI 2: 357332560012416, đã qua sử dụng do bị cáo H dùng để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội.

Cơ quan cảnh sát điều tra đã nhập kho vật chứng vụ án (Bút lục 117-118).

Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại Innova, biển số 51G-xxxx, số khung: RL4JW8EM2H3229692, số máy: 1TRA296510. Qua xác minh, xe do ông Trần Công M là chủ sở hữu, ông M mua xe trả góp nên Giấy đăng ký xe do Ngân hàng V giữ. Ông M cho Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 thuê xe ô tô với giá 11.000.000đ/tháng. Ngày 17/01/2024, ông Trần Hữu D là nhân viên được ủy quyền của Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 đứng ra cho ông Nguyễn Văn H (sinh năm 1990; Nơi thường trú: Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An) thuê lại xe ô tô trên với giá 15.000.000đ/tháng, thời hạn 02 tháng đến ngày 14/02/2024 phải trả xe. Qua xác minh tại Công an xã M, huyện Đ, tỉnh Long An không có công dân tên Nguyễn Văn H như nêu trên. Ngày 03/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại Innova, biển số 51G-478.49 cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Trần Công M. (Bút lục 144-145).

Đối với người thanh niên tên T2 sử dụng điện thoại di động sim số 036303xxxx và người thanh niên tên N thỏa thuận giao xe và thuốc lá điếu nhập lậu cho Lê Văn H vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau. Xét thấy phù hợp nên không đề nghị xem xét trong vụ án này.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đã ăn năn, hối cải về lỗi lầm của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Về hành vi, các quyết định Tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Văn L và Lê Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 22/01/2024 tại Tỉnh lộ 8 đoạn thuộc Khu phố A, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo L điều khiển xe ô tô biển số 51G-478.479 cùng với bị cáo H vận chuyển 10.400 bao thuốc lá điếu nhập lậu gồm: 5.900 bao nhãn hiệu Jet; 3.500 bao nhãn hiệu Hero và 1.000 bao nhãn hiệu Raison Ice Café, để hưởng tiền công vận chuyển thì bị bắt quả tang.

Sự việc xảy ra như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố đối với các bị cáo.

[3] Ngày 30/01/2024, H3 có Công văn số 43/CV-2024 HHTLVN phúc đáp Công văn số 300/CSDT-CSKT ngày 25/01/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C về việc thẩm định thuốc lá điếu ngoại nhập lậu, như sau: 04 mẫu cây thuốc lá điếu có nhãn hiệu Jet, H1, R và Ice C1 là thuốc lá điếu nhập lậu. (Bút lục 73) [4]. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở để xác định hành vi nêu trên của bị cáo Lê Văn L và Lê Văn H đã phạm vào tội “Vận chuyển hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố đối với các bị cáo Lê Văn L và Lê Văn H về tội “Vận chuyển hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5]. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo phạm tội do cố ý, các bị cáo đã đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước các loại thuốc lá, xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn xã hội. Nhà nước đã có nhiều chính sách cương quyết tuyên truyền vận động đến chế tài xử lý nghiêm khắc mọi hành vi liên quan đến vận chuyển hàng cấm. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội.

Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét về tình tiết tăng nặng: Xét thấy, vào năm 2019, bị cáo L bị Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh áp dụng khoản 1 Điều 153, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 61; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt L 04 (B1) năm tù về tội “Chiếm đoạt người dưới 16 tuổi” theo Bản án số 70/2019/HSST ngày 26/9/2019, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/01/2023. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 70 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) trường hợp đương nhiên được xóa án tích là 02 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 20/01/2023 nên tính đến ngày 22/01/2024 thì chưa được xóa án tích. Tại Bản án số 70/2019/HSST ngày 26/9/2019 đã áp dụng tình tiết tái phạm đối với bị cáo do đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên theo quy định tại khoản 2 Điều 53 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thuộc trường hợp được coi là tái phạm nguy hiểm.

Xét thấy, ngày 10/6/2011, Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh căn cứ khoản 2 Điều 104, điểm đ, p khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) xử phạt Lê Văn H 12 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 66/2011/HSST. Ngày 24/6/2011, Lê Văn H kháng cáo xin hưởng án treo. Ngày 10/8/2011, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh không chấp nhận kháng cáo của Lê Văn H, căn cứ khoản 2 Điều 104, điểm đ, p khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) xử phạt H 12 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 148/2011/HSPT. Qua xác minh, Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Châu chưa thụ lý và tổ chức thi hành đối với Bản án số 66/2011/HSST ngày 10/6/2011 và Bản án số 148/2011/HSPT ngày 10/8/2011 nêu trên. Bị cáo H chưa đóng tiền án phí sơ thẩm nên chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên theo quy định tại khoản 1 Điều 53 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thuộc trường hợp được coi là tái phạm.

Do đó, các bị cáo Lê Văn L và Lê Văn H có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là phù hợp với quy định của pháp luật.

[6]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu và tiêu hủy:

- 10.400 bao thuốc lá điếu nhập lậu gồm: 5.900 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet; 3.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero và 1.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Raison Ice Café;

- 20 bao ni lông không màu, đã qua sử dụng do không có giá trị sử dụng;

- 01 tấm vải màu đen, đã qua sử dụng do không có giá trị sử dụng.

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước:

- 01 điện thoại di động hiệu S1 màu đen, số IMEI 1: 353976312768447; số IMEI 2: 354550372768446, đã qua sử dụng do bị cáo L dùng để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội.

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số IMEI 1: 35733256001 2417; số IMEI 2: 357332560012416, đã qua sử dụng do bị cáo H dùng để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội.

Tang vật theo Phiếu nhập kho vật chứng số 36/PNK ngày 06/02/2024, Lệnh nhập kho vật chứng số 163/LNK-CSDT-CSKT ngày 05/02/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện C. (Bút lục 117-118).

[7] Đối với 01 Xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại Innova, biển số 51G-xxxx, số khung: RL41W8EM2H3229692, số máy: 1TRA296510. Qua xác minh, xe do ông Trần Công M là chủ sở hữu, ông M mua xe trả góp nên Giấy đăng ký xe do Ngân hàng V giữ. Ông M cho Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 thuê xe ô tô với giá 11.000.000đ/tháng. Ngày 17/01/2024, ông Trần Hữu D - Nhân viên là đại diện ủy quyền của Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 và du lịch Khánh T4 đứng ra cho ông Nguyễn Văn H2 (sinh năm 1990; Nơi thường trú: ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An) thuê lại xe ô tô trên với giá 15.000.000đ/tháng, thời hạn 02 tháng đến ngày 14/02/2024 phải trả xe. Qua xác minh tại Công an xã M, huyện Đ, tỉnh Long An không có tên Nguyễn Văn H2 như nêu trên. Ngày 03/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại Innova, biển số 51G-478.49 cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Trần Công M (Bút lục 144-145). Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên không xem xét trong vụ án này.

[8] Đối với người thanh niên tên T2 sử dụng điện thoại di động sim số 036303xxxx và người thanh niên tên N thỏa thuận giao xe và thuốc lá điếu nhập lậu cho Lê Văn H vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau và Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không đề nghị. Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên không xét trong vụ án này.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo L và H mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật phí và lệ phí năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

 Tuyên bố bị cáo Lê Văn L và bị cáo Lê Văn H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

[1]. Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 191, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn L 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày 22/01/2024.

[2]. Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 191, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn H 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày 22/01/2024.

[3] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu và tiêu hủy:

- 10.400 bao thuốc lá điếu nhập lậu gồm: 5.900 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet; 3.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero và 1.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Raison Ice Café;

- 20 bao ni lông không màu, đã qua sử dụng;

- 01 tấm vải màu đen, đã qua sử dụng.

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước:

- 01 điện thoại di động hiệu S1 màu đen, số IMEI 1: 353976312768447; số IMEI 2: 354550372768446, đã qua sử dụng;

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số IMEI 1: 357332560012417; số IMEI 2: 357332560012416, đã qua sử dụng.

Tang vật theo Phiếu nhập kho vật chứng số 36/PNK ngày 06/02/2024, Lệnh nhập kho vật chứng số 163/LNK-CSĐT-CSKT ngày 05/02/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện C. (Bút lục 117-118).

[4] Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật phí và lệ phí năm 2015, buộc các bị cáo Lê Văn L và Lê Văn H mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

[5] Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

127
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án về tội vận chuyển hàng cấm số 176/2024/HS-ST

Số hiệu:176/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Củ Chi - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:19/07/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về