Bản án về tội trốn thuế số 98/2023/HS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 98/2023/HS-PT NGÀY 20/06/2023 VỀ TỘI TRỐN THUẾ

Ngày 20 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số số 10/2023/TLPT-HS ngày 17/01/2023 đối với bị cáo Lê Thùy D cùng đồng phạm; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 130/2022/HS-ST ngày 18/11/2022 của Toà án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

* Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Lê Thùy D; sinh năm 1970, tại: Ninh Thuận; nơi cư trú: Số 174, thôn TP, xã ĐL, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; con ông: Lê Thanh H và bà Lê Thị Th; chồng: Hồ Trọng Th (đã ly hôn năm 2009); có ba người con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh 1999; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án hình sự phúc thẩm số 586/2007/HSPT ngày 25/4/2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí M xử phạt bị cáo Lê Thùy D 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”, đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/7/2013 đến ngày 08/4/2014 và từ ngày 06/5/2016 đến ngày 03/10/2016 bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữ bệnh tại Viện Pháp y Tâm thần Trung ương Biên H từ ngày 10/10/2017 đến ngày 23/11/2021 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã ĐL, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng đến nay; bị cáo tại ngoại. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo:

1. Luật sư Phạm Văn T - Công ty Luật hợp danh S; Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí M. Có mặt.

2. Luật sư Nguyễn Văn H và luật sư Nguyễn P Đại N – Công ty luật TNHH Đ; Đoàn luật sư tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Cục thuế Lâm Đồng; địa chỉ: Số 01, đường T, Phường 3, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần P - Cục trưởng.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Văn Th - Chức vụ: Chi cục trưởng Chi cục Thuế khu vực Đức Trọng – Đơn Dương; địa chỉ: Số 14, Trần Khánh Dư, Phường 8, TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Theo giấy ủy quyền ngày 21/7/2022. Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Đồng Hiếu M, sinh năm 1971; địa chỉ: Số 014 chung cư 327/9B N, Phường 13, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí M. Vắng mặt

2. Hồ Xuân H, sinh năm 1985; địa chỉ: Số 28, Võ Văn Bích, Tổ 5, Ấp 4A, xã M, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí M. Vắng mặt.

3. Trần Văn T, sinh năm 1980; địa chỉ: Số 33, Ấp 4A, xã M, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí M. Vắng mặt.

4. Đại diện Công ty TNHH TMDV XNK ĐT; địa chỉ: Số 9, Khu Công nhiệp Biên H 1, thành phố Biên H, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Thương mại - Dịch vụ (TNHH TMDV) D Như (viết tắt Công ty D Như) hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 5800822022 do Sở KH&ĐT tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 12/10/2009, người đại diện theo pháp luật là Lê Thùy D – chức danh: Giám đốc. Trụ sở công ty: Số 710 T, Khu phố 2, phường Lộc Tiến, TP. Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng; vốn điều lệ: 5.000.000.000 đồng. Từ ngày 12/10/2009 đến ngày 31/12/2011, trụ sở đăng ký kinh doanh tại địa chỉ: Số 36 thôn TP, xã ĐL, Di Linh, Lâm Đồng, kê khai nộp thuế tại Chi cục Thuế huyện Di Linh. Từ ngày 01/01/2012 đến 07/2013 trụ sở đăng ký kinh doanh tại địa chỉ: Số 710 T, phường Lộc Tiến, TP. Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, kê khai nộp thuế tại Chi cục Thuế TP. Bảo Lộc. Đối chiếu sổ sách kế toán của Công ty D Như trong quá trình kinh doanh từ tháng 02/2011 đến tháng 03/2013 xác định:

* Hàng hóa đầu vào:

Công ty D Như đã mua hàng hóa là cà phê nhân xô với số lượng lớn chủ yếu từ 08 công ty có trụ sở đóng tại TP.Hồ Chí M. Hàng hóa mua vào thể hiện trên 655 hóa đơn GTGT, thuế GTGT: 45.144.489.791 đồng. Toàn bộ 655 hóa đơn GTGT nêu trên đã được Công ty D Như kê khai tại bảng kê hàng hóa dịch vụ mua vào kèm theo Tờ khai thuế GTGT các tháng gửi đến Chi cục thuế huyện Di Linh và Chi cục Thuế TP. Bảo Lộc để khấu trừ thuế GTGT đầu vào.

Đối với Cà phê được mua với số lượng nhỏ từ 08 đơn vị, cá nhân khác có hóa đơn giá trị gia tăng; thuế GTGT: 402.660.470đ. Toàn bộ 13 hóa đơn GTGT mua hàng hóa của 08 đơn vị và cá nhân đã được Công ty D Như kê khai để khấu trừ thuế GTGT đầu vào gửi đến Chi cục thuế huyện Di Linh và Chi cục thuế thành phố Bảo Lộc.

Cà phê thu mua của 07 hộ nông dân trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng trong năm 2011, Công ty D Như đã cập nhật sổ sách đầy đủ, thể hiện cụ thể tại: Sổ chi tiết vật liệu, dụng cụ, sản phẩm hàng hóa năm 2011. Số lượng mua vào: 314.572kg, thành tiền: 13.769.112.000 đồng.

Đối với hàng hóa là cà phê mua vào của các hộ nông dân không có hóa đơn trong năm 2011, hàng tháng Công ty D Như đã lập Bảng kê hàng hóa dịch vụ mua vào không có hóa đơn (theo mẫu) gửi đến Chi cục thuế huyện Di Linh.

* Hàng hóa đầu ra:

Công ty D Như đã bán hàng hóa là cà phê cho tổng cộng 17 công ty, doanh nghiệp tư nhân và cá nhân, thể hiện trên 488 hóa đơn GTGT; thuế GTGT: 46.070.069.019 đồng;

Hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình điều hành hoạt động kinh doanh của Lê Thùy D cụ thể như sau:

1. Đối với hành vi mua bán hàng hóa không lập hóa đơn, không kê khai nộp thuế, trốn thuế số tiền 1.637.930.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định hộ Nguyễn Đình Giảng; địa chỉ 189 Biaray, xã N’Thôn Hạ, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng đã xuất bán cho Lê Thùy D số lượng cà phê là 875.211,2 kg cà phê, Lê Thùy D đã trực tiếp đến đại lý Thu Giảng nhận 480 tấn cà phê do bà Thu (vợ Nguyễn Đình Giảng) giao và đại lý Thu Giảng không xuất hóa đơn bán hàng. Số còn lại 241.128,5 kg D không biết ai mua số lượng cà phê này của Đại lý Thu Giảng. Sau khi nhận 480 tấn, D đã giao 130 tấn cho các công ty mua hàng và được nhận số tiền hoa hồng 3.250.000 đồng; 350 tấn gửi kho Công ty Hương Bản, sau đó xuất bán luôn cho Công ty Hương Bản vào thời gian tháng 07/2012.

Cùng thời điểm này theo lời khai của D, Công ty D Như mua lượng hàng 350 tấn từ các Công ty Hướng Bình, Hữu Đang, Phan Danh để trả cho bên mua hàng mà bị cáo đã nhận nợ dùm. Sau này do giá giảm nên các công ty không nhận hàng nữa, vì vậy D đã gửi về nhà mẹ là Lê Thị Thơm số lượng 120 tấn, để tại kho, địa chỉ số 36 thôn TP, xã ĐL, huyện Di Linh 230 tấn.

Số lượng 350 tấn sau này đã được nhập chung vào lượng cà phê mà D đã mua gom của các hộ dân cho đủ số lượng 910.601 kg sau khi trừ độ ẩm, tạp chất quy chuẩn thực tế còn lại là 909.906 kg Số lượng hàng trên của Công ty D Như, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trưng cầu giám định và xác định đúng chữ ký của Lê Thùy D đã ký nhận hàng tại sổ giao nhận hàng.

Việc mua bán 909.906 kg cà phê nhân xô không có hóa đơn, chứng từ giữa Công ty D Như và DNTN Gia Hưng như sau:

Từ 01/3/2013 đến 16/4/2013 Lê Thùy D đã 12 lần chuyển hàng và bán số lượng 909.960 kg cà phê nêu trên thành tiền là 32.758.600.000 đồng cho DNTN Gia Hưng, địa chỉ thôn Tân Hiệp, xã Bàu Chinh, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Lê Thùy D đã trực tiếp đến để nhận tiền mặt với số tiền 2.000.000.000 đồng. Số tiền còn lại, DNTN Gia Hưng đã thanh toán bằng chuyển khoản qua ngân hàng.

Sau khi mua 909.960kg từ Công ty D Như, DNTN Gia Hưng đã chuyển bán hết số lượng cà phê 909.960kg cho 02 Công ty Intimex Hồ Chí M và Intimex Mỹ Phước trong tháng 03 và 04/2013.

Tất cả số lượng hàng hóa cà phê nhân xô này D đều không lập hợp đồng mua bán, không lấy hóa đơn bán hàng (hóa đơn GTGT), không đưa vào kê khai thuế; không thanh toán bằng hình thức chuyển khoản, chỉ thanh toán trực tiếp với nhau bằng tiền mặt; Do bỏ ngoài sổ sách kế toán nên toàn bộ số lượng hàng 910.601 kg không được cập nhật, ghi chép để theo dõi.

Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định Hội đồng giám định thuế - Cục thuế tỉnh Lâm Đồng về số tiền thuế Công ty D Như đã trốn và loại thuế trốn. Đến ngày 30/11/2013, Hội đồng giám định đã có kết luận về số tiền thuế Công ty D Như đã trốn là 1.637.930.000 đồng, loại thuế trốn là thuế giá trị gia tăng.

Đối với hành vi này, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo và kết luận điều tra đề nghị truy tố bị cáo Lê Thùy D tội trốn thuế.Tuy nhiên, ngày 15/4/2014, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã ra Quyết định đình chỉ vụ án hình sự về tội trốn thuế số 01/KSĐT và Quyết định đình chỉ điều tra bị cáo số 01/KSĐT về việc đình chỉ điều tra, miễn trách nhiệm hình sự đối với Lê Thùy D về tội trốn thuế.

2. Hành vi phạm tội mua bán trái phép hóa đơn của Lê Thùy D:

2.1. Hành vi mua bán trái phép hóa đơn chứng từ nộp ngân sách Nhà nước và trốn thuế liên quan đến Công ty TNHH MTV TMDV Hoàng Đức Nghĩa;

Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Thương mại Dịch vụ (TNHH MTV TMDV) Hoàng Đức Nghĩa (viết tắt Công ty Hoàng Đức Nghĩa), trụ sở đặt tại số 158B, Dương Đình Hội, phường Phước Long B, Quận 9, TP.Hồ Chí M, do Đồng Hiếu M đứng ra thành lập và làm Giám đốc đồng thời là người đại diện theo pháp luật. Công ty Hoàng Đức Nghĩa hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0309986081 do Sở kế hoạch và đầu tư TP.Hồ Chí M cấp lần đầu ngày 04/06/2010. Ngày 10/7/2010, Công ty Hoàng Đức Nghĩa đăng ký bổ sung thêm ngành nghề kinh doanh: Bán buôn cà phê. Sau khi thành lập công ty, M liên hệ Chi cục Thuế Quận 9, TP.Hồ Chí M để mua 03 cuốn hóa đơn GTGT (gồm các cuốn hóa đơn có kí hiệu: HK/2010N từ số 75551- 75600;

03HP/11P từ số 1151-1200; 03AA/11P từ số 0088650-0088700; mỗi cuốn đều có 50 số hóa đơn, mỗi số hóa đơn gồm 03 liên). Đến tháng 3/2011, M chỉ đạo Nguyễn Thị Mỹ Thương, kế toán của Công ty Hoàng Đức Nghĩa, đặt in 10 cuốn hóa đơn GTGT (03 liên), mẫu số 01GTKT3/001, kí hiệu DN/11P từ số 0000001 đến số 0000500 (tổng cộng 500 số). Các số hóa đơn này được M thông báo phát hành hóa đơn theo đúng quy định.

Khoảng tháng 02/2011, M đi lên Lâm Đồng đến trụ sở của Công ty TNHH TMDV D Như. Tại đây, M và D đã thỏa thuận, thống nhất việc mua bán trái phép hóa đơn. Ban đầu M yêu cầu D trả tiền mua hóa đơn trái phép của M theo giá cả như sau: M cứ viết hóa đơn có giá trị thanh toán 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) thì D phải trả cho M từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng. Tuy nhiên, D nói chỉ trả cho M theo mùa vụ cà phê, cứ một mùa cà phê trả cho M 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng), không cần biết hóa đơn ghi giá trị bao nhiêu. Khi nghe D nói vậy thì M đồng ý.

Thời điểm chính thức Công ty Hoàng Đức Nghĩa ngừng kinh doanh thực tế là tháng 3/2011. Kể từ thời điểm này trở đi, M chỉ bán trái phép hóa đơn chứ không kinh doanh gì cả. Bắt đầu từ khoảng tháng 4/2011, M chính thức xuất hóa đơn GTGT với nội dung không đúng thực tế, không có việc mua bán cà phê cho Công ty D Như.

Thời gian đầu (khoảng từ tháng 3/2011 đến cuối năm 2011), các cuốn hóa đơn đều do M quản lý; việc bán trái phép hóa đơn cho D là theo hình thức bán lẻ từng số hóa đơn M ghi nội dung theo yêu cầu của D. D mới chỉ thanh toán tiền mua hóa đơn trái phép cho M được khoảng 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Do thấy việc đi lại bất tiện nên M định không bán hóa đơn cho D nữa thì D đề nghị M bán nguyên cuốn hóa đơn cho D viết thì M đồng ý (sự việc này diễn ra vào khoảng tháng 10, 11/2011). D và M thống nhất giá mua bán trái phép hóa đơn là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng)/01 cuốn hóa đơn gồm 50 số. Các cuốn hóa đơn này M gửi qua xe đò tại Bến xe Miền Đông lên huyện Di Linh, và TP. Bảo Lộc cho D. Sau khi đã thống nhất việc mua bán hóa đơn, D yêu cầu M các điều kiện sau:

- Đối với các số hóa đơn bán lẻ trái phép, M phải ghi nội dung mua bán hàng hóa theo yêu cầu của D, sau đó M ký, đóng dấu xác nhận của Công ty Hoàng Đức Nghĩa rồi giao liên 2 cho D. Các liên còn lại thì M giữ.

- Đối với 05 cuốn hóa đơn M bán trái phép nguyên cuốn cho D, M phải ký tên, đóng dấu xác nhận khống chỉ (ký tên, đóng dấu khi chưa ghi nội dung vào các số hóa đơn) vào tất cả các liên của hóa đơn, sau đó gửi nguyên cuốn cho D.

- Ngoài ra, M phải cung cấp bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Công ty Hoàng Đức Nghĩa, có trách nhiệm mở tài khoản giao dịch qua ngân hàng tại ngân hàng theo yêu cầu của Lê Thùy D, phải ký xác nhận vào một số sổ sách của Công ty D Như như: Sổ giao nhận tiền hàng, tiền thuế, phiếu nhập kho…; phải ký, đóng dấu xác nhận khống vào một số hợp đồng mua bán cà phê giữa Công ty D Như với Công ty Hoàng Đức Nghĩa.

Sau đó M cũng đã yêu cầu D trả tiền cho số hóa đơn đã mua trước đó cho M thì M mới bán hóa đơn mới cho D. Đối với những số hóa đơn M bán nguyên cuốn cho D thì M yêu cầu D vào khoảng cuối tháng hoặc đầu tháng kế tiếp D phải gửi cuốn hóa đơn này (D đã lấy liên 2, còn lại liên 1 và liên 3) cho M để M kê khai thuế cho Công ty Hoàng Đức Nghĩa.

D phải gửi tiền mua bán hóa đơn qua nhà xe Thành Bưởi cho M.

Sau khi M và D thống nhất các điều kiện nói trên, M đã bán trái phép hóa đơn cho D cụ thể như sau:

- Bán nguyên cuốn 05 cuốn hóa đơn (tương ứng 250 số hóa đơn) đều có kí hiệu DN/11P, gồm: Từ số 0000101- 0000150; từ số 0000151- 0000200; từ số 0000201- 0000250; từ số 0000251- 0000300; từ số 0000301- 0000350.

- Bán lẻ hóa đơn (không nhớ số lượng) nằm trong các cuốn hóa đơn có kí hiệu: Cuốn hóa đơn kí hiệu DN/11P từ số 0000001- 0000050; kí hiệu DN/11P từ số 0000051- 0000100; kí hiệu 03AA/11 từ số 0088650- 0088700.

Các cuốn hóa đơn GTGT sau khi sử dụng, D đã gửi qua xe khách dưới hình thức gửi hàng (bao gồm liên 1 và liên 3) cho Đồng Hiếu M.

Khoảng tháng 6, 7/2011 và khoảng đầu năm 2012, để hợp thức hóa việc mua bán hóa đơn trái phép, D yêu cầu M lên Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT Việt Nam – Chi nhánh Dâu tằm tơ Bảo Lộc (Nay là Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT Việt Nam – Chi nhánh Nam Lâm Đồng) làm thủ tục mở tài khoản cho Công ty Hoàng Đức Nghĩa và D nhờ M ký hồ sơ để mở tiếp 02 tài khoản cho Công ty Hoàng Đức Nghĩa tại 02 Ngân hàng Công thương Chi nhánh Bảo Lộc và Ngân hàng Ngoại thương Chi nhánh Đà Lạt. Theo yêu cầu của D, M mua một số cuốn Séc rút tiền, phiếu lĩnh tiền mặt của các ngân hàng nói trên (hoặc D gửi các tài liệu này qua nhà xe cho M). Sau đó M đã ký tên, đóng dấu khống chỉ Công ty Hoàng Đức Nghĩa ở mục chủ tài khoản, để trống các thông tin còn lại rồi đưa cho D tự sử dụng để làm thủ tục chuyển khoản thanh toán qua ngân hàng.

Để kê khai thuế, hợp thức hóa cho việc mua bán trái phép hóa đơn giữa M với D. M liên hệ mua trái phép khoảng10 số hóa đơn với giá tiền khoảng 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) từ đối tượng T (M không rõ địa chỉ, tên tuổi đầy đủ, không còn nhớ số điện thoại) để hợp thức hóa đầu vào cho Công ty Hoàng Đức Nghĩa. Mục đích M mua một số hóa đơn của T là để lấy thông tin của các doanh nghiệp, sau khi có thông tin rồi thì không mua hóa đơn của T nữa mà sử dụng các thông tin này để hợp thức, kê khai thuế đầu vào luôn cho khỏi tốn kém tiền mua hóa đơn. M mua hóa đơn của T bao gồm hóa đơn của 07 doanh nghiệp đều có địa chỉ tại TP.Hồ Chí M.

Tổng số tiền M thu được từ việc bán trái phép hóa đơn GTGT cho D là 465.000.000 đồng (bốn trăm sáu mươi lăm triệu đồng). Trong đó, D đã gửi qua nhà xe Thành Bưởi cho M số tiền 445.000.000 đồng, M là người trực tiếp nhận số tiền này. Còn 20.000.000 đồng, M trực tiếp nhận từ D vào khoảng tháng 5/2011 tại trụ sở Công ty D Như (địa chỉ: Số 36, thôn TP, xã ĐL, huyện Di Linh).

Trong 212 số hóa đơn nói trên, theo yêu cầu của D, M đã viết 35 số hóa đơn; M nhờ em của M (là Đồng Hiếu Nam) viết 32 số hóa đơn; còn lại 145 số hóa đơn là do người của Công ty D Như viết.

Đối chiếu sổ sách Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ tại Công ty TNHH TMDV D Như trong quá trình điều tra, xác định:

Công ty D Như đã sử dụng hóa đơn GTGT của Công ty Hoàng Đức Nghĩa trong thời gian từ tháng 3/2011 đến tháng 05/2012.

Công ty Hoàng Đức Nghĩa đã ký 62 hợp đồng kinh tế, qua đó xuất bán cà phê cho Công ty D Như thể hiện qua 212 hóa đơn GTGT với số lượng cà phê là: 7.315.686 kg, với tổng giá trị tiền hàng là: 308.617.416.575 đồng, thuế GTGT là 15.430.870.829 đồng, tổng cộng tiền thanh toán là: 324.048.287.404 đồng.

Tất cả 212 số hóa đơn GTGT thể hiện mua hàng hóa của Công ty Hoàng Đức Nghĩa nói trên đã được Công ty D Như kê khai để khấu trừ thuế GTGT đầu vào tại Chi cục Thuế Di Linh và Bảo Lộc.

Tại kết luận giám định số 780/GĐ - PC54 ngày 19/09/2013 và Kết luận giám định số 803/GĐ - PC54 ngày 10/10/2013 xác định:

- Có tổng số 197 chữ ký mang tên Đồng Hiếu M trong cuốn sổ màu đen (sổ nhập hàng theo hóa đơn đầu vào), trong đó có 192 chữ ký do M ký, có 05 chữ ký không phải do M ký.

- Có tổng số 213 chữ ký mang tên Đồng Hiếu M trong 09 cuốn phiếu nhập kho, trong đó có 98 chữ ký do M ký, có 115 chữ ký không phải do M ký.

Ngoài ra, Đồng Hiếu M còn xác định chữ ký trong 03 bảng kê chi tiền mặt, 20 hóa đơn GTGT – Phiếu thu dịch vụ tại Ngân hàng Công thương Bảo Lộc đã giả chữ ký của M.

Ngày 29/02/2016, Cơ quan cảnh sát điều tra ra quyết định trưng cầu giám định số 29/CSĐT (PC46) đề nghị Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng giám định số tiền thuế Công ty D Như đã không nộp vào ngân sách Nhà nước trong quá trình kinh doanh.

Ngày 09/3/2016, Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng có công văn số 642/CT - HĐGĐ V/v kết quả giám định về thuế đối với Công ty D Như, kết luận: Công ty D Như sử dụng 212 số hóa đơn của Công ty Hoàng Đức Nghĩa là hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp, qua đó trốn thuế GTGT là: 15.430.870.829 đồng.

Ngày 06/9/2016, Giám định viên tư pháp Ngô Trọng Nghĩa báo cáo kết quả giám định tư pháp, kết luận: Công ty D Như sử dụng 212 số hóa đơn của Công ty Hoàng Đức Nghĩa là hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp. Tổng số tiền trốn thuế của Công ty D Như qua việc sử dụng bất hợp pháp 212 số hóa đơn GTGT do Công ty Hoàng Đức Nghĩa lập khống để kê khai thuế GTGT hàng hóa mua vào để trốn thuế GTGT phải nộp là: 15.430.870.829 đồng (mười lăm tỷ, bốn trăm ba mươi triệu, tám trăm bảy mươi ngàn, tám trăm hai mươi chín đồng).

Như vậy: Đồng Hiếu M đã bán trái phép cho Lê Thùy D hơn 250 số hóa đơn GTGT. Số tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội là 465.000.000 đồng. Lê Thùy D đã mua trái phép hơn 250 số hóa đơn GTGT sau đó đã sử dụng hóa đơn bất hợp pháp vớitổng số 212 số hóa đơn khống để kê khai khấu trừ thuế GTGT cho Công ty D Như do Lê Thùy D làm giám đốc nhằm mục đích trốn thuế GTGT phải nộp, qua đó trốn thuế GTGT với số tiền là: 15.430.870.829 đồng.

Đối với hành vi này, sau khi Lê Thùy D bị bắt buộc chữa bệnh, Cơ quan điều tra đã tách vụ án hình sự, đến ngày 12/10/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng đã có bản kết luận điều tra số 74/CSĐT (PC46) đề nghị truy tố Đồng Hiếu M ra trước pháp luật. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 114/2017/HSST ngày 27/12/2017 của Tòa án nhân dân TP. Bảo Lộc và bản hình sự phúc thẩm số 18/2018/HS-PT ngày 20/3/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã tuyên án và xử phạt đối với Đồng Hiếu M, Bản án đã có hiệu lực pháp luật.

2.2. Hành vi mua bán trái phép hóa đơn chứng từ nộp ngân sách Nhà nước và trốn thuế liên quan đến Công ty Bảo Gia An và Cao H Phát:

Với thủ đoạn tương tự thủ đoạn mua trái phép hóa đơn với bị cáo Đồng Hiếu M như đã nêu trên, sau đó Lê Thùy D đã tiếp tục móc nối mua hóa đơn trái phép của Trần Văn T, Hồ Xuân H, cụ thể như sau:

Khoảng tháng 08/2012, Trần Văn T thông qua dịch vụ thành lập 02 công ty (Công ty TNHH Thương mại Cao H Phát và Công ty TNHH một thành viên Bảo Gia An) nhằm mục đích để bán trái phép hóa đơn GTGT. Sau khi thành lập 02 công ty nói trên, Trần Văn T đã cùng Hồ Xuân H từ TP.Hồ Chí M lên TP. Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng và đã móc nối được với Lê Thùy D – Giám đốc Công ty D Như có địa chỉ tại 710, T, TP. Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng để thỏa thuận việc bán hóa đơn GTGT. Trần Văn T đã trực tiếp bàn bạc, thỏa thuận với Lê Thùy D và đi đến thống nhất mức giá bán hóa đơn GTGT là 1,6% trên 01 tỷ đồng và sẽ thành lập từ 02 đến 03 Công ty để in hóa đơn GTGT bán cho Lê Thùy D, với số lượng hóa đơn GTGT sẽ bán là 10 cuốn/01 công ty. Căn cứ vào số lượng hóa đơn đã sử dụng thì khoảng ngày 30 hàng tháng, Lê Thùy D có trách nhiệm thanh toán tiền mua hóa đơn cho T qua nhà xe Thành Bưởi hoặc nhà xe P Trang.

Sau khi thống nhất với D, Trần Văn T đã chỉ đạo Hồ Xuân H đi in hóa đơn GTGT của Công ty Bảo Gia An và Cao H Phát. Hồ Xuân H đã trực tiếp đến tại Công ty in Sáng Tạo Trẻ để liên hệ và đặt in hóa đơn, với số lượng tổng cộng là 10 cuốn (01 cuốn gồm 50 số hóa đơn, 01 hóa đơn gồm 03 liên), tương ứng 500 số hóa đơn GTGT, trong đó Công ty Bảo Gia An 05 cuốn, Công ty Cao H Phát 05 cuốn.

Để hóa đơn GTGT có giá trị lưu hành, Trần Văn T đã chỉ đạo cho Hồ Xuân H và Nguyễn Đình Quang (Quang ở tại địa chỉ: 28 Võ Văn Bích, tổ 5, ấp 4B, xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi, TP.Hồ Chí M) làm thủ tục thông báo phát hành hóa đơn GTGT tại Chi cục thuế quận Tân Bình, TP. Hồ Chí M.

Trần Văn T đã chỉ đạo cho Hồ Xuân H và Nguyễn Đình Quang ký giả chữ ký của người đại diện theo pháp luật của Công ty Bảo Gia An và Cao H Phát lần lượt là Lưu Thị Ngà và Lăng Chí Đồng tại mục người bán hàng của tất cả các hóa đơn GTGT (tại liên 2). Hồ Xuân H đã ký giả chữ ký Lưu Thị Ngà vào 250 số hóa đơn (05 cuốn) của Công ty Bảo Gia An; Nguyễn Đình Quang đã ký giả chữ ký của Lăng Chí Đồng vào 250 số hóa đơn (05 cuốn) của Công ty Cao H Phát.

Đến cuối tháng 11/2012, Trần Văn T đã cùng Hồ Xuân H, Nguyễn Đình Quang trực tiếp giao hóa đơn và hồ sơ cho Lê Thùy D và em trai là Tài ở tại địa chỉ 14/1/7 Văn Chung, Phường 13, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí M 10 cuốn hóa đơn GTGT của Công ty Bảo Gia An và Cao H Phát và một số tài liệu, giấy tờ liên quan đến pháp nhân của 02 công ty này.

Sau khi giao hóa đơn GTGT xong, để hợp thức hóa việc chuyển tiền qua ngân hàng, T đã cùng H và Nguyễn Đình Quang đến tại TP.Bảo Lộc và TP.Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng gặp D để mở tài khoản giao dịch qua ngân hàng theo yêu cầu của D. Sau khi mở tài khoản xong, H đã ký giả chữ ký của Lưu Thị Ngà vào các séc và các phiếu lĩnh tiền mặt của Công ty Bảo Gia An; Nguyễn Đình Quang đã ký giả chữ ký của Lăng Chí Đồng vào các séc và các phiếu lĩnh tiền mặt của Công ty Cao H Phát và giao cho D sử dụng.

Để tiến hành việc kê khai thuế đối với các hóa đơn GTGT mà Công ty D Như đã sử dụng, T đã đưa cho H 3.000.000đ để H thuê dịch vụ làm thủ tục đăng ký kê khai thuế qua mạng Internet tại chi cục thuế quận Tân Bình. Sau khi có phương pháp và cách thức kê khai thuế qua mạng, H đã hướng dẫn Trần Thị Hoa thực hiện việc kê khai thuế qua mạng.

Các hóa đơn GTGT sau khi sử dụng, D đã gửi các số liệu thể hiện trong các hóa đơn bằng thư điện tử cho T, T đã khai thác số liệu và ghi chép ra giấy sau đó đưa cho Hoa kê khai báo cáo thuế qua mạng Internet với Chi cục Thuế quận Tân Bình.

Tổng số tiền thu được từ việc bán hóa đơn GTGT là 368.000.000đ. Lê Thùy D đã gửi qua nhà xe Thành Bưởi cho Hồ Xuân H, H là người trực tiếp nhận tiền, nhận xong H giao cho T. T trả công cho H, Quang và sử dụng cá nhân.

Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành giám định chữ ký do Hồ Xuân H ký giả chữ ký Lưu Thị Ngà. Qua giám định đã xác định chữ ký của Lưu Thị Ngà trong 118 hóa đơn GTGT (Liên 2: Liên giao cho người mua), 107 hợp đồng thương mại và 56 biên bản thanh lý hợp đồng giữa Công ty D Như với Công ty Bảo Gia An là do Hồ Xuân Hoà giả chữ ký của Lưu Thị Ngà để ký xác nhận. Hoà đã giả chữ ký của Lưu Thị Ngà để ký xác nhận khống vào 17 tờ Séc của Công ty Bảo Gia An tại Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Đà Lạt và Hoà đã giả chữ ký của Lưu Thị Ngà và Trần Huỳnh Nhã Trân để ký xác nhận khống 32 phiếu lĩnh tiền mặt của Công ty Bảo Gia An tại Ngân hàng Vietinbank chi nhánh Bảo Lộc, Lâm Đồng.

Quá trình điều tra đã xác định: Công ty D Như đã sử dụng 110 hóa đơn GTGT của Công ty Cao H Phát trong thời gian từ tháng 11/2012 đến tháng 02/2013. Công ty Cao H Phát đã ký 102 hợp đồng kinh tế, qua đó thể hiện đã xuất bán cà phê cho Công ty D Như với tổng số lượng cà phê: 3.822.940 kg cà phê, thành tiền: 152.691.056.773 đồng; thuế GTGT: 7.634.552.839 đồng, tổng giá trị thanh toán: 160.325.609.612 đồng.

Toàn bộ hóa đơn, chứng từ nói trên đã được Công ty D Như kê khai để khấu trừ thuế GTGT đầu vào trong hồ sơ kê khai thuế GTGT từ tháng 11/2012 đến tháng 02/2013 gửi đến Chi cục Thuế Bảo Lộc.

Công ty D Như đã sử dụng 118 hóa đơn GTGT của Công ty Bảo Gia An trong thời gian từ tháng 11/2012 đến tháng 03/2013. Công ty Bảo Gia An đã ký 107 hợp đồng kinh tế, qua đó thể hiện đã xuất bán cà phê cho Công ty D Như với tổng số lượng cà phê: 3.924.346 kg cà phê, thành tiền: 156.977.848.628 đồng; thuế GTGT: 7.848.892.431 đồng, tổng giá trị thanh toán: 164.826.741.059 đồng.

Toàn bộ hóa đơn, chứng từ nói trên đã được Công ty D Như kê khai để khấu trừ thuế GTGT đầu vào trong hồ sơ kê khai thuế GTGT từ tháng 11/2012 đến tháng 03/2013 gửi đến Chi cục Thuế Bảo Lộc.

Ngày 24/03/2014, Hội đồng giám định đã có kết luận giám định số 624/CT- GĐ xác định: Công ty D Như đã sử dụng hóa đơn khống để kê khai khấu trừ thuế GTGT nhằm chiếm đoạt 15.483.445.270đ tiền thuế của NSNN.

Ngày 15/6//2017, Cơ quan cảnh sát điều tra ra quyết định trưng cầu giám định lại số 04/CSĐT (PC46) đề nghị Giám định viên tư pháp Ngô Trọng Nghĩa (Sở Tài chính tỉnh Lâm Đồng) giám định số tiền thuế Công ty D Như đã không nộp vào ngân sách Nhà nước trong quá trình kinh doanh mặt hàng cà phê tại tỉnh Lâm Đồng.

Ngày 10/7/2017, Giám định viên tư pháp Ngô Trọng Nghĩa báo cáo kết quả giám định tư pháp, kết luận: Công ty D Như sử dụng 110 số hóa đơn của Công ty Cao H Phát và 118 số hóa đơn của Công ty Bảo Gia An là hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp. Tổng số tiền trốn thuế của Công ty D Như qua việc sử dụng bất hợp pháp 110 số hóa đơn của Công ty Cao H Phát và 118 số hóa đơn của Công ty Bảo Gia An để kê khai thuế GTGT hàng hóa mua vào để trốn thuế GTGT phải nộp là: 15.483.445.270 đồng (mười lăm tỷ, bốn trăm tám mươi ba triệu, bốn trăm bốn muơi lăm ngàn, hai trăm bảy mươi đồng).

Như vậy, Hồ Xuân H, Trần Văn T đã bán trái phép cho Lê Thùy D 228 số hóa đơn GTGT, số tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội là 368.000.000 đồng.

Lê Thùy D đã mua trái phép 228 số hóa đơn GTGT sau đó đã sử dụng hóa đơn bất hợp pháp này để kê khai khấu trừ thuế GTGT cho Công ty D Như do Lê Thùy D làm giám đốc.

Đối với nội dung này, trước đây Cơ quan điều tra đã khởi tố Hồ Xuân H, Trần Văn T, Lê Thùy D về tội “Mua, bán trái phép hóa đơn chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước” và kết luận điều tra, đề nghị truy tố, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã ra cáo trạng. Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc đã có Bản án số 60/2014/HSST ngày 30/6/2014 tuyên án và xử phạt đối với Hồ Xuân H, Trần Văn T, Lê Thùy D về tội danh trên, Bản án này đã có hiệu lực pháp luật.

Đồ vật, tài liệu tạm giữ gồm: Các vật chứng thu giữ cùa bị cáo Lê Thùy D gồm: 01 (một) điện thoại NOKIA màu đen không có thẻ sim bên trong máy; 01 (một) điện thoại nhãn Q-MOBILE màu xám đen (không có thẻ sim bên trong máy);

01 (một) két sắt màu đen xám cao 1,2m ngang 0,74m; 01 (một) chìa khóa dẹt hình chữ “I” màu bạc không có nhãn hiệu; 01 (một) chìa khóa hình trụ chữ "L" màu bạc trên chìa khóa có khắc số 27. Căn cứ Quyết định chuyển vật chứng số 58/VKS ngày 03/10/2016 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, ngày 05/10/2016, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng đã bàn giao các vật chứng trên cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc.

Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế: Trong quá trình thi hành Bản án phúc thẩm số 120/2015/HSPT ngày 12/11/2015 của TAND tỉnh Lâm Đồng. Ngày 14/01/2016, Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc đã kê biên, xử lý quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 349900 do UBND thành phố Bảo Lộc cấp ngày 18/5/2012, thửa 997 tờ bản đồ số F.135.II.D, tại Phường 1, thành phố Bảo Lộc (nguồn gốc Lê Thùy D nhận chuyển nhượng theo hợp đồng số 4762 quyển số 05TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng công chứng Phú Sơn chứng ngày 31/8/2012 Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Bảo Lộc đăng ký biên động ngày 25/9/2012).

Trong thời gian điều tra lại, qua xác minh tài sản của Lê Thùy D tại Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Lâm Đồng, các ngân hàng đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng và Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Lâm Đồng, Cơ quan cảnh sát điều tra xác định Lê Thùy D không có tiền, tài sản, phương tiện đứng tên chủ sở hữu.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2014/HSST ngày 30/6/2014, Toà án nhân dân thành phố Bảo Lộc đã áp dụng điểm d khoản 2 Điều 164a, Điều 60 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Lê Thuỳ D 24 tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Mua bán trái phép hoá đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước”.

Tại Kháng nghị số 05/QĐ-VKSLĐ-P3 ngày 09/12/2014, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã kháng nghị Bản án số 60/2014/HSST ngày 30/6/2014 của Toà án nhân dân thành phố Bảo Lộc.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 01/2015/HSST-GĐT ngày 24/3/2015, Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng quyết định huỷ phần trách nhiệm dân sự của Bản án số 60/2014/HSST ngày 30/6/2014 của Toà án nhân dân thành phố Bảo Lộc để xét xử lại.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2015/HSST ngày 31/7/2015, Toà án nhân dân thành phố Bảo Lộc buộc Lê Thuỳ D nộp 15.483.445.270 đồng tiền thuế vào Ngân sách Nhà nước.

Ngày 13/8/2015, bị cáo Lê Thuỳ D kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Ngày 07/9/2015, Cục thuế tỉnh Lâm Đồng kháng cáo đề nghị buộc bị cáo D phải nộp số tiền thuế GTGT 15.483.445.270 đồng vào Ngân sách Nhà nước và phạt tiền gấp 02 lần số tiền trốn thuế này.

Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 120/2015/HSPT ngày 12/11/2015, Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thuỳ D và Cục thuế tỉnh Lâm Đồng, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tại Kháng nghị số 14/KN-HS ngày 20/9/2016, Chánh án Toà án nhân dân tối cao đã quyết định: Kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm đối với Bản án hình sự phúc thẩm số 120/2015/HSPT ngày 12/11/2015 của Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; Đề nghị Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí M xét xử giám đốc thẩm theo hướng huỷ bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và Bản án số 61/2015/HSST ngày 31/7/2015, Toà án nhân dân thành phố Bảo Lộc để điều tra lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại quyết định giám đốc thẩm số 24/2017/HS-GĐT ngày 13/02/2017 của Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí M quyết định hủy bản án hình sự phúc thẩm số 120/2015/HSPT ngày 12/11/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng và bản án hình sự sơ thẩm số 61/2015/HSPT ngày 31/7/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc tỉnh Lâm Đồng đối với bị cáo Lê Thùy D (các bản án 120/2015/HSPT, 61/2015/HSPT trên không đề cập đến Hồ Xuân H, Trần Văn T).

Quá trình điều tra lại vụ án, bị cáo Lê Thùy D thiếu hợp tác với Cơ quan cảnh sát điều tra, khai báo không thành khẩn, không khắc phục được hậu quả thiệt hại đối với tổng số tiền đã trốn thuế là 30.914.316.099 đồng (Ba mươi tỷ chín trăm mười bốn triệu ba trăm mười sáu ngàn không trăm chín mươi chín đồng). Bị cáo không nhận tội về hành vi “Trốn thuế” và hành vi “Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước”.

Bản Cáo trạng số 06/CT-VKSLĐ ngày 24 tháng 01 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Lê Thùy D về tội “Trốn thuế” theo khoản 3 Điều 161 Bộ luật Hình sự năm 1999 và tội “Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước” theo khoản 2 Điều 164a Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 180/2022/HS-ST ngày 18/11/2022 của Toà án nhân dân thành phố Bảo Lộc đã xử;

1. Tuyên bố bị cáo Lê Thùy D phạm tội “Trốn thuế” và tội “Mua bán trái phép hóa đơn chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước”.

Áp dụng khoản 3, khoản 4 Điều 161; khoản 2, khoản 3 Điều 164a; Điều 33; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 1999: Xử phạt bị cáo Lê Thùy D 05 (năm) năm tù về tội “Trốn thuế”; 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép hóa đơn chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 07 (Bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 23/7/2013 đến ngày 08/4/2014 và từ ngày 06/5/2016 đến ngày 03/10/2016; trừ thời gian bắt buộc chữa bệnh từ ngày 10/10/2017 đến ngày 23/11/2021.

Phạt bổ sung bị cáo 61.928.632.018 đ (Sáu mươi mốt tỷ chín trăm hai mươi tám triệu sáu trăm ba mươi hai ngàn không trăm mươi tám đồng).

2. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự 2015 buộc bị cáo D phải nộp số tiền 30.822.128.599đ (Ba mươi tỷ tám trăm hai mươi hai triệu một trăm hai mươi tám ngàn năm trăm chín mươi chín đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra, bản án còn xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 01/12/2022, bị cáo Lê Thuỳ D kháng cáo toàn bộ bản án.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không đồng ý với nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo, bị cáo kháng cáo và khai tại phiên tòa phúc thẩm rằng; về tội “Mua bán trái phép hóa đơn chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước”, thì bị cáo không mua hóa đơn của Đồng Hiếu M như bản án sơ thẩm đã quy kết bị cáo mua nguyên cuốn nhưng có 11 hóa đơn bị cáo M đã bán cho cơ sở M Khôi, bị cáo thanh toán cho Đồng Hiếu M thì bị cáo thanh toán bằng tài khoản ngân hàng Agribank, bị cáo đã thanh toán hơn 40 tỷ đồng, chứ không đúng như bản án sơ thẩm quy kết khi dựa vào lời khai của Đồng Hiếu M.

Về tội “Trốn thuế”, thì bị cáo không mua hóa đơn của Công ty Cao H Phát và Công ty Bảo Gia An, hai đối tượng Trần Văn T và Hồ Xuân H bị cáo không hề quen biết và chưa từng liên hệ với 02 người này, quy kết bị cáo dựa vào lời khai của Hồ Xuân H khai bán hóa đơn cho Công ty D Như qua thư điện tử, nhưng qua thu giữ, kiểm tra, điều tra Hồ Xuân H không có dấu hiệu liên quan đến Công ty D Như. Bị cáo Lê Thùy D thừa nhận lời khai và kháng cáo của bị cáo là đúng nhưng không có chứng cứ gì mới.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm d khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo, áp dụng các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo và giữ nguyên mức hình phạt như bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo; sửa bản án sơ thẩm về hình phạt bổ sung; áp dụng khoản 4 Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015, phạt bổ sung bị cáo D từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Buộc bị cáo nộp lại số tiền trốn thuế còn lại là 30.822.128.599đ (Ba mươi tỷ tám trăm hai mươi hai triệu một trăm hai mươi tám ngàn năm trăm chín mươi chín đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

Luật sư bào chữa cho bị cáo nêu nhiều vấn đề nhưng chủ yếu đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm vì vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự, căn cứ buộc tội chưa vững chắc, bỏ lọt hành vi phạm tội của Đồng Hiếu M, xử lý điều tra viên Ngô Quang Trường có hành vi làm sai lệch hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, ngoài luật sư Phạm Văn Thanh có mặt thì các luật sư bào chữa khác và những người làm chứng vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, căn cứ Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Đơn kháng cáo của bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong hạn luật định nên kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, nên đủ cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm quy kết. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận giám định phù hợp với tất cả các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Từ năm 2011-2012, Lê Thùy D là giám đốc Công ty D Như đã có hành vi mua trôi nổi trên thị trường số lượng cà phê 7.315.686 kg không có hóa đơn chứng từ nên D đã hợp thức hóa đầu vào bằng cách mua trái phép 250 hóa đơn GTGT của Đồng Hiếu M, 228 hóa đơn GTGT của Trần Văn T, Hồ Xuân H; đối với 228 hóa đơn bị cáo Lê Thùy D mua của T và H đã được xét xử về tội “Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2014/HSST ngày 30/6/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, Lâm Đồng đã có hiệu lực pháp luật nên không đề cập xem xét về hành vi mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ trong vụ án này.

Bị cáo D sử dụng 440 hóa đơn nhằm hợp thức hóa hàng hóa cà phê đầu vào không có hóa đơn chứng từ để kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng với số tiền thuế giá trị gia tăng đã trốn không nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 30.914.316.099 đồng (Ba mươi tỷ, chín trăm mười bốn triệu, ba trăm mười sáu ngàn không trăm chín mươi chín đồng). Lời bào chữa của Luật sư và bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội nhưng không xuất trình chứng cứ nào mới, các bản án đã xét xử về hành vi phạm tội của nhiều đồng phạm đối với bị cáo Lê Thùy D đã có hiệu lực pháp luật, đối với 228 hóa đơn bị cáo mua của T và H đã được xét xử tại bản án số 60/2014/HSST ngày 30/6/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến, thắc mắc ở các bản án trước nên Hội đồng xét xử không chấp nhận lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm; tại giai đoạn sơ thẩm, cũng đã điều tra, truy tố, xét xử đối với các đề nghị của Luật sư và bị cáo Lê Thùy D, các vi phạm tố tụng không ảnh hưởng đến điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Lê Thùy D. Đối chiếu lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận giám định, biên bản đối chất và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm có đủ căn cứ khẳng định hành vi của bị cáo Lê Thùy D đã phạm vào tội “Trốn thuế” và tội “Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 3 Điều 161 và khoản 2 Điều 164a Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009 (nay là khoản 3 Điều 200 và khoản 2 Điều 203 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ.

[4] Về tính chất mức độ, hậu quả hành của vi phạm tội: Hành vi của Lê Thùy D là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực thuế của Nhà nước đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh, làm giảm sút nguồn thu ngân sách của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần áp dụng cho bị cáo một hình phạt nghiêm khắc để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân bị cáo, tính chất, mức độ thực hiện hành vi tội phạm, xử phạt bị cáo Lê Thùy D 05 (Năm) năm tù về tội “Trốn thuế”; 02 (Hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép hóa đơn chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước” là thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, bị cáo kháng cáo nhưng không xuất trình chứng cứ nào mới nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3 Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về hành vi trốn thuế từ 01 tỷ đồng trở lên thì khởi điểm của khung hình phạt là phạt tiền và theo quy định tại khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về hành vi mua bán trái phép hóa đơn chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước thì khởi điểm của khung hình phạt là phạt tiền. Như vậy, khoản 3 Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhẹ hơn khung hình phạt khoản khoản 3 Điều 161 và khoản 2 Điều 164a Bộ luật Hình sự năm 1999 nhưng cấp sơ thẩm không áp dụng theo nguyên tắc có lợi là thiếu sót. Do vậy, căn cứ khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội áp dụng quy định có lợi cho người phạm tội, Hội đồng xét xử áp dụng các điều, khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xét xử đối với bị cáo là đúng quy định của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định khoản 4 Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015 tội “Trốn thuế” quy định có thể phạt bổ sung từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng và khoản 3 Điều 203 Bộ luật Hình sự năm 2015 tội “Mua bán trái phép hóa đơn chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước” quy định có thể phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Như vậy, cần sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt bổ sung cho bị cáo Lê Thùy D là phù hợp với quy định pháp luật hiện hành.

[6] Biện pháp tư pháp: Đối với số tiền trốn thuế 1.637.930.000 (Một tỷ sáu trăm ba mươi bảy triệu, chín trăm ba mươi ngàn đồng), Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ điều tra bị can và miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo D, do vậy không xem xét truy thu số tiền này.

Đối với số tiền thuế đã trốn là 30.914.316.099 đồng (Ba mươi tỷ, chín trăm mười bốn triệu, ba trăm mười sáu ngàn không trăm chín mươi chín đồng) cần buộc bị cáo phải nộp lại đề sung vào ngân sách Nhà nước.

Thi hành bản án số 120//2015/HSPT ngày 12/11/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc đã tiến hành kê biên, bán đấu giá quyền sử dụng đất số BK 349900 do UBND thành phố Bảo Lộc cấp ngày 18/5/2012, thửa 977, tờ bản đồ số F.135.II.D, nguồn gốc bị cáo D nhận chuyển nhượng, đăng ký biến động ngày 25/9/2012. Sau khi bán đã nộp ngân sách nhà nước số tiền 92.187.500đ. Số tiền này được trừ vào số tiền bị cáo phải nộp lại, cụ thể: 30.914.316.099đ - 92.187.500đ = 30.822.128.599đ (Ba mươi tỷ tám trăm hai mươi hai triệu một trăm hai mươi tám ngàn năm trăm chín mươi chín đồng).

[7] Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Lê Thùy D các tài sản không liên quan đến việc phạm tội: 01 (một) két sắt màu đen xám cao 1,2m, ngang 0,74m; 01 (một) chìa khóa dẹt hình chữ “I” màu bạc không có nhãn hiệu; 01 (một) chìa khóa hình trụ chữ "L" màu bạc trên chìa khóa có khắc số 27, (đều có các tờ giấy niêm phong có chữ ký của Đồng Hiếu M và Lê Thùy D).

[8] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 và điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 về áp dụng quy định có lợi cho người phạm tội.

1. Không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Lê Thùy D; sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt bổ sung.

Tuyên bố bị cáo Lê Thùy D phạm tội “Trốn thuế” và tội “Mua bán trái phép hóa đơn chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước”.;

Áp dụng khoản 3, khoản 4 Điều 200; khoản 2 Điều 203; Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Lê Thùy D 05 (năm) năm tù về tội “Trốn thuế”; 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép hóa đơn chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 23/7/2013 đến ngày 08/4/2014 và từ ngày 06/5/2016 đến ngày 03/10/2016; trừ thời gian bắt buộc chữa bệnh từ ngày 10/10/2017 đến ngày 23/11/2021 vào thời gian chấp hành án.

Phạt bổ sung bị cáo Lê Thùy D số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

2. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự 2015 buộc bị cáo D phải nộp số tiền 30.822.128.599đ (Ba mươi tỷ tám trăm hai mươi hai triệu một trăm hai mươi tám ngàn năm trăm chín mươi chín đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo D 01 (một) két sắt màu đen xám cao 1,2m, ngang 0,74m; 01 (một) chìa khóa dẹt hình chữ “I” màu bạc không có nhãn hiệu; 01 (một) chìa khóa hình trụ chữ "L" màu bạc trên chìa khóa có khắc số 27, (đều có các tờ giấy niêm phong có chữ ký của Đồng Hiếu M và Lê Thùy D).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/10/2016 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Lê Thùy D phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

302
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội trốn thuế số 98/2023/HS-PT

Số hiệu:98/2023/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Lâm Đồng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:20/06/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về