TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH ĐỒNG NAI
BẢN ÁN 408/2023/HS-ST NGÀY 17/08/2023 VỀ TỘI TRỐN THUẾ
Ngày 17 tháng 08 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 251/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 05 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 246/2023/QĐXXST-HS ngày 16/05/2023; Quyết định hoãn phiên Tòa số 324/2023/QĐST-HS ngày 01/06/2023; Quyết định hoãn phiên Tòa số 387/2023/QĐST-HS ngày 30/06/2023; Thông báo báo định thời gian xét xử số 401/2023/TB-TA ngày 28/07/2023 đối với bị cáo:
1. Nguyễn Thị Ph; Tên gọi khác: không; Sinh năm: 1992; Tại: Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT: 02H, tổ 53, khu phố 4C, phường Tr, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Chổ ở hiện nay: Hẻm 12, Ng, tổ 8, khu phố 4A, phường Tr, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn X, sinh năm: 1965 và bà Nguyễn Thị Hằng Ng, sinh năm: 1965; Có chồng là Nguyễn Thế M, sinh năm: 1992; Có 03 con lớn, sinh năm: 2017, nhỏ nhất sinh năm: 2022 Tiền án: không. Tiền sự: không Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 545/LCĐKNCT ngày 05/07/2023 của Tòa án nhân dân thành phố B
Nguyên đơn dân sự: Chi cục thuế khu vực B- Do bà Lê Thị L là đại diện hợp pháp (Bị cáo, bà Lan có mặt ).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 08/01/2021, Đội Cảnh sát kinh tế Công an thành phố Bên Hòa kiểm tra hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Truyền thông “M”, có địa chỉ tại số 02H, tổ 53, khu phố 4C, phường Tr, thành phố B do Nguyễn Thị Ph làm giám đốc thì phát hiện có dấu hiệu tội phạm “Trốn thuế” nên đã lập hồ sơ để điều tra, xác minh. Kết quả điều tra xác định trước khi thành lập Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Truyền thông “M” thì Nguyễn Thị Ph hoạt động kinh doanh các mặt hàng quần áo, mắt kính bảo hộ, vòng đeo tay, tai nghe điện thoại dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và được Phòng Tài chính - Kế hoạch thành phố B cấp giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 47A8058388 ngày 23/4/2018. Quá trình kinh doanh, Ph sử dụng mạng xã hội để giới thiệu sản phẩm cho khách hàng và khi khách hàng đặt mua sản phẩm thì Phương không trực tiếp giao hàng cho khách mà sử dụng dịch vụ chuyển phát hàng hóa để giao hàng và thu hộ tiền của khách hàng thanh toán. Ph ký kết hợp đồng dịch vụ chuyển phát hàng hóa với Bưu điện thành phố B và Công ty TNHH Một thành viên chuyển phát nhanh “Th” để hai đơn vị này trong quá trình giao hàng cho khách sẽ thực hiện việc thu hộ tiền mà khách hàng thanh toán và sau khi trừ chi phí giao hàng thì số tiền còn lại sẽ được Bưu điện thành phố B và Công ty TNHH Một thành viên Chuyển phát nhanh “Th” chuyển trả cho Ph. Từ ngày 01/4/2020 đến ngày 01/7/2020, Bưu điện thành phố B đã nhận từ Ph tổng cộng 85.807 (Tám mươi lăm nghìn tám trăm lẻ bảy) đơn hàng, trong đó đã chuyển phát thành công 28.855 (Hai mươi tám nghìn tám trăm năm mươi lăm) đơn hàng cho người đặt mua sản phẩm và thu hộ số tiền là 13.906.200.000đ (Mười ba tỷ chín trăm lẻ sáu triệu hai trăm nghìn đồng) (đã trừ chi phí chuyển phát). Toàn bộ số tiền này đã được Bưu điện thành phố B chuyển trả hết cho Ph. Đối với Công ty TNHH Một thành viên chuyển phát nhanh “Th”, từ ngày 30/6/2020 đến ngày 07/01/2021 đã nhận từ Ph tổng cộng 34.348 (Ba mươi bốn nghìn ba trăm bốn mươi tám) đơn hàng, trong đó đã chuyển phát thành công 13.234 (Mười ba nghìn hai trăm ba mươi bốn) đơn hàng cho người đặt mua sản phẩm và thu hộ số tiền là 5.709.554.600đ (Năm tỷ bảy trăm lẻ chín triệu năm trăm năm mươi bốn nghìn sáu trăm đồng) (đã trừ chi phí vận chuyển). Toàn bộ số tiền này đã được Công ty TNHH Một thành viên chuyển phát nhanh “Th” chuyển trả hết cho Ph. Trong thời gian hoạt động kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể, từ năm 2019 đến nay Ph không nộp hồ sơ đăng ký thuế, không nộp hồ sơ khai thuế và không nộp bất cứ số tiền thuế nào cho Nhà nước, gây thiệt hại về thuế cho Ngân sách Nhà nước thì bị phát hiện.
Vật chứng của vụ án: số tiền 296.236.319đ (Hai trăm chín mươi sáu triệu hai trăm ba mươi sáu nghìn ba trăm mười chín đồng) do bị cáo Nguyễn Thị Ph giao nộp để khắc phục hậu quả.
- Tại bản kết luận giám định tư pháp số 9269/KL-CTDON ngày 11/7/2022 của Cục thuế tỉnh Đồng Nai kết luận: “hành vi vi phạm pháp luật của hộ kinh doanh cá thể, người đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn Thị Ph gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước số tiền thuế giá trị gia tăng là 57.095.546đ (Năm mươi bảy triệu không trăm chín mươi lăm nghìn năm trăm bốn mươi sáu đồng) và thuế thu nhập cá nhân là 28.547.773đ (Hai mươi tám triệu năm trăm bốn mươi bảy nghìn bảy trăm bảy mươi ba đồng).” - Tại bản kết luận giám định tư pháp số 11326/KL-CTDON ngày 26/9/2022 của Cục thuế tỉnh Đồng Nai kết luận: “hành vi vi phạm pháp luật của hộ kinh doanh cá thể, người đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn Thị Ph gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước số tiền thuế giá trị gia tăng là 139.062.000đ (Một trăm ba mươi chín triệu không trăm sáu mươi hai nghìn đồng) và thuế thu nhập cá nhân là 69.531.000đ (Sáu mươi chín triệu năm trăm ba mươi mốt nghìn đồng).” Ngoài ra, do Nguyễn Thị Ph không kê khai doanh số trong quá trình kinh doanh nên chưa phát sinh lệ phí môn bài phải nộp. Sau khi xác định doanh số phát sinh từ ngày 01/4/2020 đến ngày 07/01/2021, Nguyễn Thị Ph phải thực hiện nghĩa vụ nộp lệ phí môn bài trong năm 2020 và 2021 cho Nhà nước với tổng số tiền là 2.000.000đ (Hai triệu đồng).
Tổng thiệt hại cho ngân sách Nhà nước là 296.236.319đ (Hai trăm chín mươi sáu triệu hai trăm ba mươi sáu nghìn ba trăm mười chín đồng).
Về dân sự: bà Lê Thị L - Đội trưởng Chi cục thuế khu vực B, là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự (là Nhà nước) yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Ph phải bồi thường số tiền 296.236.319đ (Hai trăm chín mươi sáu triệu hai trăm ba mươi sáu nghìn ba trăm mười chín đồng) để nộp Ngân sách Nhà nước.
Tại cáo trạng số 230/CT-VKSBH ngày 24/04/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai đã truy tố Nguyễn Thị Ph về tội “ Trốn thuế” theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 200 Bộ hình hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm Tại phiên Tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Thị Ph 08 ( Tám) tháng- 10 ( Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Phạt bổ sung 20.000.000đ ( Hai mươi triệu)
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Biên Hòa, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2] Về pháp luật áp dụng và xác định tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với chứng cứ có tại hồ sơ. Từ đó có đủ cơ sở để kết luận: Nguyễn Thị Phương hoạt động kinh doanh các mặt hàng quần áo, mắt kính bảo hộ, vòng đeo tay, tai nghe điện thoại và có đăng ký kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể. Từ ngày 01/4/2020 đến ngày 08/01/2021, Ph đã có hành vi bán quần áo, mắt kính bảo hộ, vòng đeo tay, tai nghe điện thoại nhưng không nộp hồ sơ đăng ký thuế, không nộp hồ sơ khai thuế tổng doanh thu 19.615.754.600đ (Mười chín tỷ sáu trăm mười lăm triệu bảy trăm năm mươi bốn nghìn sáu trăm đồng) gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước số tiền thuế giá trị gia tăng là 196.157.546đ (Một trăm chín mươi sáu triệu một trăm năm mươi bảy nghìn năm trăm bốn mươi sáu đồng), số tiền thuế thu nhập cá nhân là 98.078.773 đ (Chín mươi tám triệu không trăm bảy mươi tám nghìn bảy trăm bảy mươi ba đồng) và lệ phí môn bài là 2.000.000đ (Hai triệu đồng) thì bị khởi tố để điều tra, xử lý.
Tổng số tiền Nguyễn Thị Ph đã trốn thuế là 294.236.319đ (Hai trăm chín mươi bốn triệu hai trăm ba mươi sáu nghìn ba trăm mười chín đồng) và tiền lệ phí môn bài phải nộp là 2.000.000đ (Hai triệu đồng).
Căn cứ điểm a khoản 1 điều 200 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 hành vi của Nguyễn Thị Ph đã cấu thành tội “ Trốn thuế”.
Đối với ông Nguyễn Việt Thanh S được Nguyễn Thị Ph ủy quyền ký hợp đồng dịch vụ chuyển phát hàng hóa với Công ty TNHH Một thành viên chuyển phát nhanh “Th” nhưng hiện nay ông S đã bỏ đi khỏi nơi cư trú nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa chưa làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau là phù hợp.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến việc quản lý nên kinh tế của nhà nước, gây thất thu cho ngân sách quốc gia nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm để có tác dụng giáo dục và răng đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có 03 con còn nhỏ, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2022; có nơi cư trú rõ ràng , chưa có tiền án tiền sự, số tiền thuế mà bị cáo không nộp đã được bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả giao nộp lại nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần xử phạt tù đối với bị cáo mà căn cứ điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 cho bị cáo được áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo tạo điều kiện cho bị cáo được ổn định cuộc sống để có điều kiện nuôi 03 con còn nhỏ , thể hiện tính nhân đạo của pháp luật mà cũng đủ có tác dụng giáo dục rằng đe và phòng ngừa chung
[4] Về biện pháp tư pháp:
Số tiền 296.236.319đ (Hai trăm chín mươi sáu triệu hai trăm ba mươi sáu nghìn ba trăm mười chín đồng) là tiền bị cáo Ph trốn thuế nên buộc bị cáo Ph phải nộp lại cho nhà nước là phù hợp.
[5] Về án phí HSST: bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm a khoản 1 điều 200 điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ph phạm tội “ Trốn thuế”.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Ph 12 ( Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 ( Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Ph cho ủy ban nhân dân phường Tr , thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát trong thời gian thử thách Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02( hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Buộc Nguyễn Thị Ph phải nộp số tiền thu lợi bất chính là 296.236.319đ ( Hai trăm chín mươi sáu triệu hai trăm ba mươi sáu triệu ba trăm mươi chín nghìn đồng ) được trừ vào biên lai thu tiền số 0002583 ngày 17/05/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố B .
3. Về án phí HSST: bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Bản án về tội trốn thuế số 408/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 408/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 17/08/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về