Bản án về tội trốn khỏi nơi giam số 45/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO L, TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 45/2024/HSST NGÀY 04/07/2024 VỀ TỘI TRỐN KHỎI NƠI GIAM

Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường trại giam Đại Bình (thôn 11, xã Lộc Thành, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng), xét xử sơ công khai vụ án hình sự thụ lý số 43/2024/TLST-HS ngày 12/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-HS ngày 21/6/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Chung T; Sinh năm: 1995 tại tỉnh Đắk Lắk. NKTT: thôn 4A Bình Hòa, xã Bình Thuận, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk; hiện đang Chấp hành án tại trại giam Đại Bình thuộc xã Lộc Thành, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Giới tính: Nam. Con ông: Nguyễn Hải, sinh năm 1960, con bà Nguyễn Thị Phụng, sinh năm 1968; hiện trú tại xã Bình Thuận, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.

Tiền án: Tại bản án số 04/2019/HSST ngày 08/01/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt bị cáo Nguyễn Chung T 10 năm tù về tội “Cướp tài sản” và “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 và khoản 1 điều 171 Bộ luật hình sự.

Tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Trại giam Đại Bình thuộc Cục C10 Bộ Công an đóng tại xã Lộc Thành, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.

( Bị cáo có mặt ).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trại giam Đại Bình Đại diện: Ông Trần Xuân B, sinh năm 1973, chức vụ: Phó giám thị Trại giam Đại Bình.

Địa chỉ: Thôn 11, xã Lộc Thành, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng. ( Có mặt ).

* Người làm chứng:

1. Anh Phạm Văn Đẹp, sinh năm: 1990 Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Đại Bình. (Có mặt ).

2. Anh Nguyễn Hữu Hoàng, sinh năm: 1993. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Đại Bình (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Chung T là phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam Đại Bình thuộc Cục C10 Bộ Công an đóng tại xã Lộc Thành, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng theo Bản án số 04/2019/HSST ngày 08/01/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, T lao động tại đội phạm nhân số 6 thuộc phân trại số 2. Sáng ngày 22/02/2024, T cùng một số phạm nhân khác của đội 6 lao động tại xưởng gia công cá bò. Đến khoảng 10 giờ 00 cùng ngày, trong lúc ngồi nghỉ T nghĩ đến việc sẽ không được xét giảm án do trong thời gian chấp hành án T vi phạm nội quy nên T nảy sinh ý định bỏ trốn khỏi trại giam nhằm trốn tránh việc thi hành án. Ngay sau đó, T nhặt lấy 01 túi ny lon màu trắng gần vị trí T ngồi rồi lấy hết đồ dùng cá nhân của mình bỏ vào túi ny lon. Khi quan sát thấy cán bộ quản giáo đang ở khu vực sân trước cổng ra vào của đội thì T cầm túi đồ cá nhân đi nhanh đến cột sắt ở tường ngăn cách khu lao động của đội 6 và đội 4, trèo lên cột sắt đến vị trí có khe thông gió bằng tôn, leo qua khe thông gió và chạy trên mái tôn của khu xưởng lao động, sau đó T nhảy từ mái tôn này qua bờ tường có gắn thép gai của Trại giam Đại Bình rồi chạy vào vườn cà phê của người dân để bỏ trốn. Phát hiện T bỏ trốn, cán bộ trại giam Đại Bình đã bắn 03 phát súng chỉ thiên để báo động và tổ chức truy bắt. Đến khoảng 10 giờ 05 phút cùng ngày, cán bộ Trại giam Đại Bình đã bắt được T ở khu vực gần suối trong vườn cà phê của gia đình ông Trần Văn Hoàn thuộc thôn 11, xã Lộc Thành cách Trại giam Đại Bình khoảng 300 mét.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng.

Cáo trạng số 47/CTr-VKSBL ngày 12/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Nguyễn Chung T về tội “Trốn khỏi nơi giam ” theo quy định tại khoản 1 Điều 386 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 386; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Chung T từ 18 đến 24 tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy:

01 lưỡi dao bằng kim loại không có cán dài 10cm.

02 gói mỳ ăn liền chưa sử dụng, nhãn hiệu Hảo Hảo.

02 gói mỳ ăn liền chưa sử dụng, nhãn hiệu KOKOMI.

07 cái bánh ChocoPie, chưa sử dụng.

12 cái bánh Custas, chưa sử dụng.

12 gói cà phê hòa tan Sài Gòn, chưa sử dụng.

01 quần đùi vải màu đen, mặt trước ống quần bên trái có chữ PHẠM NHÂN màu đỏ.

01 áo thun ngắn tay màu đen, trên áo có chữ adidas, mặt sau có chữ PHẠM NHÂN màu đỏ.

01 khăn vải đã qua sử dụng màu đỏ, kích thước (40x65)cm.

01 khăn vải đã qua sử dụng màu xanh, kích thước (20x30)cm.

01 mũ lưỡi trai đã qua sử dụng, màu xanh có sọc đỏ.

01 chai nhựa không nhãn mác, bên trong chứa chất lỏng màu trong suốt.

06 gói tăm bông kích thước mỗi gói (5x9)cm.

01 gói tăm nhọn, bao bì có chữ MAI ANH màu đỏ, kích thước (6x6,5)cm.

01 tuýp kem đánh răng đã qua sử dụng nhãn hiệu P/S.

01 tuýp kem đánh răng đã qua sử dụng nhãn hiệu Hynos.

01 chai nhựa màu xanh, không rõ nhãn mác, kích thước (19,5x7x3)cm, bên trong chứa chất lỏng không xác định.

-Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Bảo L; Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bảo L trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Bị cáo T là phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam Đại Bình thuộc Cục C10 Bộ Công an đóng tại xã Lộc Thành, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng theo Bản án số 04/2019/HSST ngày 08/01/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Sáng ngày 22/02/2024, bị cáo T đã có hành vi trốn khỏi nơi giam nhằm trốn tránh việc thi hành án bằng cách chạy trên mái tôn của khu xưởng lao động, sau đó nhảy từ mái tôn qua bờ tường có gắn thép gai của Trại giam Đại Bình rồi chạy vào vườn cà phê của người dân để bỏ trốn.

Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Chung T đã cấu thành tội “Trốn khỏi nơi giam ” theo quy định tại khoản 1 Điều 386 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bảo L truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bản thân bị cáo là đối tượng chấp hành án phạt tù nhưng không chịu cải tạo lao động để được sớm hoà nhập cộng đồng trái lại bị cáo trốn tránh việc thi hành án bằng cách trốn khỏi nơi lao động nơi chấp hành án phạt tù, chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật nên cần xử lý nghiêm và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nên cần áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự để tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[6] Về việc chấp hành án phạt tù và giảm thời hạn chấp hành ánphạt tù : Tại bản án số 04/2019/HSST ngày 08/01/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt bị cáo Nguyễn Chung T 10 năm tù về tội “ Cướp tài sản” và “Cướp giật tài sản”, theo điểm d khoản 2 Điều 168 và khoản 1 điều 171 Bộ luật hình sự; thời hạn tù tính từ ngày 04/8/2018 tính đến ngày 04/7/2024 bị cáo đã chấp hành được 05 năm 11 tháng tù. Trong thời gian chấp hành án bị cáo được xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 02 lần, một lần 03 tháng và một lần 06 tháng. Tổng cộng bị cáo T chấp hành án và được xét giảm là 06 năm 08 tháng tù, do vậy thời hạn tù còn lại là 03 năm 04 tháng tù.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Trại giam Đại Bình không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[8] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự do vật chứng không có giá trị đồng thời bị cáo không yêu cầu được nhận lại nên tịch thu tiêu hủy:

01 lưỡi dao bằng kim loại không có cán dài 10cm.

02 gói mỳ ăn liền chưa sử dụng, nhãn hiệu Hảo Hảo.

02 gói mỳ ăn liền chưa sử dụng, nhãn hiệu KOKOMI.

07 cái bánh ChocoPie, chưa sử dụng.

12 cái bánh Custas, chưa sử dụng.

12 gói cà phê hòa tan Sài Gòn, chưa sử dụng.

01 quần đùi vải màu đen, mặt trước ống quần bên trái có chữ PHẠM NHÂN màu đỏ.

01 áo thun ngắn tay màu đen, trên áo có chữ adidas, mặt sau có chữ PHẠM NHÂN màu đỏ.

01 khăn vải đã qua sử dụng màu đỏ, kích thước (40x65)cm.

01 khăn vải đã qua sử dụng màu xanh, kích thước (20x30)cm.

01 mũ lưỡi trai đã qua sử dụng, màu xanh có sọc đỏ.

01 chai nhựa không nhãn mác, bên trong chứa chất lỏng màu trong suốt.

06 gói tăm bông kích thước mỗi gói (5x9)cm.

01 gói tăm nhọn, bao bì có chữ MAI ANH màu đỏ, kích thước (6x6,5)cm.

01 tuýp kem đánh răng đã qua sử dụng nhãn hiệu P/S.

01 tuýp kem đánh răng đã qua sử dụng nhãn hiệu Hynos.

01 chai nhựa màu xanh, không rõ nhãn mác, kích thước (19,5x7x3)cm, bên trong chứa chất lỏng không xác định.

[9] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L thấy rằng: Mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với nhân thân và tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra đủ răn đe, phòng ngừa riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[10] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Chung T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chung T phạm tội “Trốn khỏi nơi giam”.

Áp dụng khoản 1 Điều 386; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Chung T 18 (mười tám) tháng tù.

Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt chưa chấp hành là 03 năm 04 tháng tù của bản án số 04/2019/HSST ngày 08/01/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Buộc bị cáo Nguyễn Chung T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 04 ( bốn ) năm 10 ( mười )tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/7/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy:

01 lưỡi dao bằng kim loại không có cán dài 10cm.

02 gói mỳ ăn liền chưa sử dụng, nhãn hiệu Hảo Hảo.

02 gói mỳ ăn liền chưa sử dụng, nhãn hiệu KOKOMI.

07 cái bánh ChocoPie, chưa sử dụng.

12 cái bánh Custas, chưa sử dụng.

12 gói cà phê hòa tan Sài Gòn, chưa sử dụng.

01 quần đùi vải màu đen, mặt trước ống quần bên trái có chữ PHẠM N màu đỏ.

01 áo thun ngắn tay màu đen, trên áo có chữ adidas, mặt sau có chữ PHẠM N màu đỏ.

01 khăn vải đã qua sử dụng màu đỏ, kích thước (40x65)cm.

01 khăn vải đã qua sử dụng màu xanh, kích thước (20x30)cm.

01 mũ lưỡi trai đã qua sử dụng, màu xanh có sọc đỏ.

01 chai nhựa không nhãn mác, bên trong chứa chất lỏng màu trong suốt.

06 gói tăm bông kích thước mỗi gói (5x9)cm.

01 gói tăm nhọn, bao bì có chữ MAI A màu đỏ, kích thước (6x6,5)cm.

01 tuýp kem đánh răng đã qua sử dụng nhãn hiệu P/S.

01 tuýp kem đánh răng đã qua sử dụng nhãn hiệu Hynos.

01 chai nhựa màu xanh, không rõ nhãn mác, kích thước (19,5x7x3)cm, bên trong chứa chất lỏng không xác định.

( Các vật chứng trên theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 24/6/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo L với Công an huyện Bảo L ).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Chung T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày 04/7/2024 để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

(Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo phần có liên quan ).

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

110
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội trốn khỏi nơi giam số 45/2024/HS-ST

Số hiệu:45/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bảo Lâm - Lâm Đồng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:04/07/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về