Bản án về tội trộm cắp tài sản (xe máy điện) số 09/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 09/2024/HS-ST NGÀY 12/03/2024 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 12/3/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Hải Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXXST- HS, ngày 29/02/2024, đối với:

1. Bị cáo: Phạm Văn T, sinh năm 1994 tại Hải Dương; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn D và bà Phạm Th T; vợ Lê Th L; tiền sự: Ngày 31/3/2015 Công an huyện N xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Tiền án: Bản án số 14/2015/HSST ngày 28/5/2015 TAND huyện N, Hải Dương xử phạt 07 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1, điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Bản án số 40/2015/HSST ngày 16/12/2015 TAND huyện N, Hải Dương xử phạt 19 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1, điều 138 BLHS năm 1999. Ra trại ngày 19/01/2017, chưa được xóa án tích. Bản án số 38/2017/HSST ngày 29/9/2017 TAND huyện N, Hải Dương xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, quy định khoản 1 điều 138 BLHS năm 1999. Ra trại ngày 16/10/2018, chưa được xoá án tích. Bản án số 48/2019/HSST ngày 11/11/2019 TAND huyện N, Hải Dương xử phạt 36 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, quy định tại điểm g, khoản 2, điều 1 173 BLHS, với tình tiết định khung “tái phạm nguy hiểm”. Ra trại ngày 12/7/2022, chưa được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Hải Dương từ ngày 07/11/2023 đến ngày 13/11/2023 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương cho đến nay(Có mặt).

2.Bị hại: Bà Phạm Th T, sinh năm: 1970 ở thôn Đ, ứng Hòe, N, Hải Dương (Có mặt).

3.Người làm chứng: Anh Đỗ Văn T, sinh năm 1981(Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ chiều ngày 07/11/2023 Phạm Văn T đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích, đi bộ từ nhà đến xã Ứng Hòe, N, Hài Dương mục đích tìm tài sản sơ sở để trộm cắp để có tiền chi tiêu cá nhân. T đi lên đê sông Đĩnh Đào theo hướng đến thôn Đồng Hy, xã Ứng Hòe, khi gần đến khu dân cư của thôn Đồng Hy ở ven đê thì có lối rẽ trái xuống đường đất dẫn xuống cánh đồng chiều Lìm thuộc thôn Đỗ Xá, Ứng Hòe, T thấy trên đường có 02 xe máy điện được phủ bạt, đang dựng ở mép đường gần mương nước, cách đê Đĩnh Đào khoảng 280m, T quan sát thấy có người đang thu hoạch ấu gần đó. T đi đến gần vị trí của 02 xe máy điện gồm xe điện màu xanh – đen dựng ở đằng sau xe điện màu đỏ - đen, xe điện màu xanh - đen vẫn cắm chìa khóa ở ổ khóa xe, T tiếp tục tiến đến vị trí của xe điện màu đỏ - đen được dựng ờ phía trước, do xe này phủ bạt kín nên T dùng tay phải luồn vào vị trí ổ khóa thì không thấy chìa khóa cắm ở ổ khóa xe. Do lúc này người thu hoạch ấu quay mặt về hướng xe máy điện nên T đi thẳng đến cây đa phía trước - cách vị trí để xe 120 mét và quay ngược lại theo đường cũ lên trên đê Đĩnh Đào để chờ cơ hôi trộm cắp tài sản. Đến khoảng gần 14 giờ cùng ngày, khi T thấy người thu hoạch ấu (sau này xác định là chị Phạm Th T) quay lưng về phía để xe máy điện (chị T đứng cách vị trí xe khoảng 40m) thì T đi từ trên đê xuống, tiến đến vị trí xe điện màu xanh - đen. Sau đó T dùng tay phải kéo bạt phủ xe xuống đất, ngồi lên trên yên xe, đạp chân chống và vặn chìa khóa khởi động xe rồi đi thẳng về phía trước. Khi T bắt đầu điều khiển xe đi được khoảng 10m thì chị T nghe thấy tiếng kêu lọc cọc của xe (do đường xóc), nhìn thấy T đi xe thì hô “ơ thằng kia sao mày lấy xe của tao” và chạy bộ đuổi theo T. Anh Đỗ Văn Th đang thu hoạch ấu gần đó nghe thấy tiếng tri hô của chị T và nhìn thấy T nên anh Th đi xe máy đuổi theo T. Cùng lúc đó lực Công an xã 2 Ứng Hòe đang tuần tra trên địa bàn phát hiện vụ việc nên kết hợp quần chúng nhân dân truy đuổi T. Do đường sóc nên T không nghe thấy và cũng không biết có người đuổi theo nên T tiếp tục rẽ trái theo hướng Đông, đi thẳng lên vào đoạn đường đổ bê tông lối dẫn vào đường liên xã (đoạn từ Đỗ Xá đi thôn Đồng Vạn), khi đi được khoảng 300m thì T thấy có người đang đuổi theo, biết mình đã bị phát hiện hành vi trộm cắp, T rẽ trái xuống đường mương nước dẫn đến nghĩa địa thôn Đỗ Xá. Khi đến gần nghĩa địa do có hàng rào bằng tre chắn ngang trước mặt nên T để xe lại rồi bỏ chạy dọc theo bờ ruộng lên trên đường liên thôn, khi chạy vào đến gần sân kho xóm 7, thôn Đỗ Xá, xã Ứng Hòe thì bị lực lượng Công an xã ứng Hòe kết hợp quần chúng nhân dân bắt giữ, đồng thời tiến hành quản lý 01 xe máy điện màu xanh – đen trên thân xe có in dòng chữ MYYANGÔ 133i COOL, không đeo biển kiểm soát, không có số khung, số máy CY43V350W19022611115.

Tại Kết luận định giá tài sản số 35/KLĐG ngày 09/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N, Hải Dương kết luận: Tại thời điểm ngày 07/11/2023 chiếc xe máy điện màu xanh - đen, trên thân xe có in dòng chữ MYYANGÔ 133i COOL không đeo biển kiểm soát, tình trạng đã qua sử dụng, hiện đang sử dụng được bình thường, có giá trị 3.100.000 (ba triệu một trăm nghìn đồng) Cáo trạng số 09/CT-VKSNG ngày 31/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, công nhận Cáo trạng truy tố là đúng; bị hại đề nghị được nhận lại xe máy điện do bị cáo chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N trình bày quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm g khoản 2 điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị hại 01 xe máy điện màu xanh –đen, trên thân xe có in dòng chữ MYYANGÔ 133i COOL, không đeo biển kiểm soát. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

3 [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên toà và trong quá trình điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 07/11/2023 tại cánh đồng chiều Lìm thôn Đỗ Xá, xã Ứng Hòe, huyện N, tỉnh Hải Dương, Phạm Văn T có tiền án về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xoá án tích, có hành vi trộm cắp của chị Phạm Th T, sinh năm 1970 ở thôn Đồng Hy, xã Ứng Hòe, huyện N, tỉnh Hải Dương 01 xe máy điện màu xanh –đen trên thân xe có in dòng chữ MYYANGÔ 133i COOL không đeo biển kiểm soát, trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 3.100.000 đồng. Lực lượng Công an xã Ứng Hòe kết hợp quần chúng nhân dân đã bắt giữ T và thu giữ tang vật.

[3] Bị cáo Phạm Văn T đã tái phạm, nay lại tiếp tục phạm tội nên thuộc T hợp tái phạm nguy hiểm; đây cũng là lần thứ năm bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và bị truy tố, xét xử, tuy nhiên không có căn cứ xác định bị cáo lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính, do vậy không có căn cứ đánh giá bị cáo phạm tội có tính chất chuyên nghiệp. Hành vi của bị cáo nêu trên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự. VKSND huyện N truy tố bị cáo ra trước toà để xét xử với tội danh trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, do vậy cần phải xem xét áp dụng hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi của bị cáo đã gây ra.

[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân xấu, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải 4 về hành vi phạm tội của mình; bị cáo chiếm đoạt tài sản có giá trị quy định tại khoản 1 nhưng do tái phạm nguy hiểm nên bị truy tố tại khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ “phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn”; tại phiên tòa bị hại đề nghị HĐXX giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo - đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về việc quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ, xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục, đồng thời phục vụ công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung.

[8] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Chiếc xe máy điện do bị cáo chiếm đoạt qua điều tra xác định thuộc quyền sở hữu của bị hại chị Phạm Th T, cần trả lại cho bị hại sử dụng, ngoài ra bị hại không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm bồi thường dân sự, HĐXX không đặt ra giải quyết.

[9] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm g khoản 2 điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 03 (Ba) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (07/11/2023).

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị hại chị Phạm Th T 01 xe máy điện màu xanh –đen, trên thân xe có in dòng chữ MYYANGÔ 133i COOL, không đeo biển kiểm soát, không có số khung, số máy CY48V350W19022611115, tình trạng đã qua sử dụng.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

60
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án về tội trộm cắp tài sản (xe máy điện) số 09/2024/HS-ST

Số hiệu:09/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ninh Giang - Hải Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 12/03/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về