Bản án về tội trộm cắp tài sản (trộm xe) số 14/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 14/2024/HS-ST NGÀY 01/02/2024 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 01 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành S, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 107/2023/HSST ngày 25 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 01 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian, địa điểm mở phiên tòa số 02/2024/TB-TA ngày 29/01/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn T, sinh ngày 04/8/1999 tại Đà Nẵng; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ xx, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở: Không có chỗ ở ổn định; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn S và bà Ngô Thị T;

Tiền án: Ngày 16/3/2022 bị Tòa án nhân dân quận S Trà, thành phố Đà Nẵng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tiền sự: Ngày 25/01/2019 bị Công an quận Ngũ Hành S, thành phố Đà Nẵng xử phạt hành chính 1.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Nhân thân:

- Ngày 25/11/2015 bị UBND phường Điện Ngọc, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam xử phạt hành chính 750.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 27/4/2017 bị Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành S, thành phố Đà Nẵng xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.

- Ngày 25/01/2019 bị Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành S áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng.

- Ngày 16/8/2023 bị Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành S áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 18/01/2024. Có mặt.

* Người bị hại: Ông Phạm Công T, sinh năm 1973; Trú tại: đường P, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 29/7/2023, trên đường đi bộ từ quán Internet K số XX đường C đến nhà sinh hoạt cộng đồng tại địa chỉ XX đường V, phường M, quận Ngũ Hành S, thành phố Đà Nẵng thì Nguyễn T phát hiện có xe mô tô hiệu Honda Wave, màu xám, BKS 92N5-27XX của ông Phạm Công T để phía trước, không khóa cổ xe, không có ai trông coi nên Tuấn đi vào trộm cắp rồi dắt bộ xe đến tiệm sửa xe trên đường Ngũ Hành S (không rõ địa chỉ). Tại đây T mượn đồ nghề để tháo mặt nạ, khởi động xe, sau đó điều khiển xe quay lại quán Internet King để tiếp tục chơi game thì bị lực lượng tuần tra Công an phường Mỹ An, quận Ngũ Hành S phát hiện và đưa về trụ sở làm việc.

Tang vật thu giữ : 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, màu xám, BKS 92N5-xxxx.

* Theo Kết luận định giá tài sản số 54/KL-HĐĐGTS ngày 16/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND quận Ngũ Hành S kết luận: xe mô tô BKS 92N5-xxxx trị giá 5.800.000đ.

Về dân sự: ông Phạm Công T đã nhận lại tài sản bị mất và không có yêu cầu gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số 01/CT -VKS - NHS ngày 22 tháng 12 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành S, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Nguyễn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52;

điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Về dân sự đã giải quyết xong nên không đề cập.

Bị cáo Nguyễn T khai nhận vào lúc 13 giờ ngày 29/7/2023 khi đi ngang qua nhà sinh hoạt cộng đồng địa chỉ số xx đường V, phường Mỹ An, quận Ngũ Hành S, thành phố Đà Nẵng, phát hiện xe mô tô Honda Wave, màu xám, BKS 92N5-27xx không khóa cổ, không có người trông giữ nên bị cáo đã lén lút dắt trộm xe đến một tiệm sửa xe không xác định để tháo mặt nạ, khởi động xe rồi chạy về quán Internet K tại số xx đường C, phường Mỹ An thì bị phát hiện, bắt giữ. Giá trị xe mô tô qua định giá là 5.800.000đ. Do đó Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là phù hợp. Bị cáo cũng không có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo cũng như người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định Cáo trạng số 01/CT-VKS-NHS ngày 22 tháng 12 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành S, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Nguyễn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[3] Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Mặt khác xét bị cáo là người có nhân thân xấu, đã 02 lần bị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở bắt buộc, 1 lần bị xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 02 lần bị xử phạt hành chính và 01 lần bị xét xử về hành vi “Trộm cắp tài sản” trong đó có 01 tiền án chưa được xóa án tích và 01 Quyết định xử phạt hành chính chưa chấp hành. Phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm. Do đó đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm, cách ly ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đồng thời làm gương cho người khác.

[4] Về các tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, giảm cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng là 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, màu xám, BKS 92N5-27xx là tài sản bị cáo trộm cắp, Cơ quan Điều tra đã xử lý trả lại cho người bị hại là phù hợp, người bị hại Phạm Công T đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn T 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tình từ ngày bắt tạm giam 18/01/2024.

2. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Buộc bị cáo Nguyễn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Riêng người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản sao bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

124
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội trộm cắp tài sản (trộm xe) số 14/2024/HS-ST

Số hiệu:14/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Ngũ Hành Sơn - Đà Nẵng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 01/02/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về