Bản án về tội trộm cắp tài sản số 99/2023/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 99/2023/HS-ST NGÀY 16/08/2023 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 16 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 80/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2023/HSST-QĐ ngày 04 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Thị Hồng T, sinh năm 1975 tại Hà Tĩnh; nơi đăng ký thường trú: không đăng ký; nơi cư trú: không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Xuân B (chết) và bà Trần Thị T; có chồng: Phan Trọng T và 02 con: lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2005; nhân thân: Bản án số 211/HSST ngày 11/11/2004 Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”, Bản án số 375/2011/HSST ngày 29/12/2011 Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tiền án: Bản án số 64/2017/HSST ngày 20/4/2017 Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, Bản án số 310/2019/HSST ngày 18/11/2019 Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, Bản án số 35/2021/HSST ngày 26/01/2001 Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/5/2022; tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: 07/3/2023. Có mặt.

- Bị hại: Chị Trịnh Thị Bích H, sinh năm 1976, Nơi cư trú: tổ 25, khu phố 4 đường A, thành phố B, tỉnh Bình Định. Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 07/3/2023, Trần Thị Hồng T đến khu vực chợ X, Phường E, quận F với mục đích tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi đi đến sạp Y, số 3/1 khu 2A, chợ X thì T nhìn thấy chị Trịnh Thị Bích Hạnh đang đứng trước cửa sạp để lựa quần áo, trên thắt lưng bên trái của chị H có đeo 01 túi xách nhưng không có khóa dây kéo. T nhìn thấy bên trong túi xách có tiền nên di chuyển áp sát chị H, dùng tay trái cầm lấy 01 cái áo của cửa hàng che túi xách để chị H không nhìn thấy rồi dùng tay phải lấy 01 xấp tiền trong túi xách của chị H. Sau đó, T nhanh chóng bỏ đi. Khi T đi được khoảng 10 mét thì bị quần chúng nhìn thấy đuổi theo bắt giữ được giao Công an Phường 8, quận Tân Bình xử lý.

Tại cơ quan công an, Trần Thị Hồng T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên, kiểm tra số tiền trên tay T chiếm đoạt của chị Hạnh là 4.600.000 đồng. Lời khai của T là phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng cùng các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng vụ án:

- số tiền 4.600.000 đồng là tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại chị Trịnh Thị Bích Hạnh.

- 01 USB ghi lại hình ảnh hiện trường vụ án (lưu cùng hồ sơ vụ án).

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A23 màu xanh, 01 bộ quần áo, 01 áo khoác và 01 nón che nắng bằng vải thu giữ của T.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Trịnh Thị Bích H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 83/CT-VKSTB ngày 30 tháng 6 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Trần Thị Hồng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 04 năm tù.

Về vật chứng và trách nhiệm dân sự thì đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không có tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Trần Thị Hồng T, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, bị hại, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của bị hại cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Thị Hồng T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 4.600.000 đồng của chị Trịnh Thị Bích H, bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, lần phạm tội này của bị cáo được xác định là “Tái phạm nguy hiểm”, là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội. Nó vừa trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác bị pháp luật ngăn cấm và bị trừng trị nhưng do động cơ tham lam nên bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Xét nhân thân bị cáo là xấu, bị cáo đã bị kết án nhưng không lấy làm bài học cho bản thân mà lại cố tình tiếp tục phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Về T tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét tình tiết: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi và trả lại cho bị hại, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Trịnh Thị Bích H đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về vật chứng vụ án:

- 01 USB ghi lại hình ảnh hiện trường vụ án (lưu cùng hồ sơ vụ án) là chứng cứ của vụ án và có thể lưu vào hồ sơ vụ án nên cần tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án.

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A23 màu xanh, 01 bộ quần áo, 01 áo khoác và 01 nón che nắng bằng vải thu giữ của bị cáo; xét thấy điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A23 màu xanh là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo; đối với 01 bộ quần áo, 01 áo khoác và 01 nón che nắng bằng vải là vật không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự;

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

[1] Tuyên bố bị cáo Trần Thị Hồng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Trần Thị Hồng T 03 (ba) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 07 tháng 3 năm 2023.

[2] Tịch thu và tiêu hủy: 01 quần jean dài màu xanh, 01 áo hoa màu đen, 01 áo khoác màu đen và 01 nón che nắng bằng vải.

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A23 màu xanh, số imei 1: 353220821922215, số imei 2: 353319901922218.

(T trạng vật chứng theo Biên bản bàn giao vật chứng số 72/BB/2023 ngày 02/8/2023 của giữa Cơ quan thi hành án hình sự Công an quận Tân Bình và Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình).

[4] Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

[5] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

141
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội trộm cắp tài sản số 99/2023/HS-ST

Số hiệu:99/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Tân Bình - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 16/08/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về