Bản án về tội trộm cắp tài sản số 90/2023/HS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 90/2023/HS-ST NGÀY 14/11/2023 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 14 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 78/2023/HSST ngày 09/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2023/QĐXXST- HS ngày 30/10/2023 đối với:

Bị cáo: Lang Văn H, sinh năm 2001. HKTT: Thôn T, xã Châu H, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Tạm trú tại: Khu phố Tam A, phường Gia Đ, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lang Văn S và bà Lữ Thị N; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/7/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Ông Nguyễn Phú T, sinh năm 1968. HKTT: Khu phố Tam A, phường Gia Đ, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Phú C, sinh năm 1994. HKTT: Khu phố Tam A, phường Gia Đ, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt).

Người bào chữa cho bị cáo H: Bà Nguyễn Thị C1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 00 phút, ngày 04/7/2023, tại nhà trọ của ông Phạm Đình H1, sinh năm 1966 ở khu phố Tam Á, phường Gia Đ, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Lực lượng Công an phường Gia Đ, thị xã Thuận Thành bắt quả tang Lang Văn H có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại túi quần phía sau H đang mặc 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng (H khai mà ma túy); Tại túi quần phía trước H đang mặc 01 xi lanh nhựa chưa qua sử dụng, đầu xi lanh có gắn kim tiêm. Lực lượng Công an phường Gia Đ đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thuận Thành để giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra, H đã đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản ngày 30/6/2023 như sau: Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 30/6/2023, H đi bộ từ nhà trọ H thuê của ông Phạm Đình H1 ở khu phố Tam Á đến khu Công nghiệp Khai S thuộc phường Gia Đ, thị xã Thuận Thành. Khi đi qua nhà ông Nguyễn Phú H2 ở cùng khu phố, H phát hiện thấy 01 chiếc xe Honda Wave, màu trắng đen, Biển kiểm soát 99F1-X dựng ở sân, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa điện. Thấy không thấy có người trông coi nên H đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe trên vì vậy H đi đến vị trí dựng chiếc xe, mở khóa xe rồi dắt lùi xe ra ngoài cổng và nổ máy bỏ đi. Sau khi trộm cắp được chiếc xe, H liên hệ với anh Nguyễn Phú C, sinh năm 1994 ở khu phố Tam Á, phường Gia Đ, thị xã Thuận Thành để hỏi vay số tiền 1.500.000 đồng và để lại chiếc xe môtô trên để làm tin, anh C đồng ý nhưng lúc này anh C nói "không có nhà" và bảo H cứ để xe môtô ở nhà anh C. H mang chiếc xe đến nhà anh C thì gặp bố anh C đang ở nhà nhưng H không biết tên tuổi là gì. H nói với bố anh C "Cháu vừa gọi cho anh C, anh C bảo cháu cứ mang xe xuống đây" bố anh C không nói gì và không hỏi gì, H dắt xe môtô vào dựng ở sân nhà anh C. Sau đó H liên hệ với anh C và bảo đã mang xe môtô đến nhà anh C. Anh C đã chuyển tiền 1.500.000 đồng vào số tài khoản 1025393X (tài khoản ngân hàng Vietcombank) của H. Sau khi có được số tiền trên, H đi đến cây ATM rút toàn bộ số tiền anh C đã chuyển và tiêu xài cá nhân hết.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 21/KLĐG-HĐĐG ngày 05/07/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Thuận Thành kết luận: “Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại xe Wave, màu trắng đen, biển số 99F1- X, số máy: HC12E5143584; số khung: 1212DY143450 đã qua sử dụng tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 9.000.000 đồng”.

Tại kết luận giám định số 1441/KL - KTHS ngày 06/7/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 mẩu giấy bạc bên ngoài màu trắng có khối lượng 0,1106 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine” Về nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ Lang Văn H khai nhận: Bản thân H có sử dụng ma túy nên khoảng 16 giờ ngày 01/7/2023, H đi đến khu vực Trường Đại học Công nghiệp dệt may Hà N ở Lệ Chi, Gia Lâm, Hà N với mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến nơi, H gặp một người thanh niên này tự giới thiệu tên là T (tuy nhiên H không biết rõ họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của T). Nhìn T có biểu hiện giống người nghiện ma túy nên H hỏi mua của T 200.000 đồng ma túy loại Heroine, T đồng ý. Sau đó H đưa cho T 200.000 đồng, T nhận tiền và đưa cho H 01 gói nhỏ bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng, H biết đó là ma túy nên cầm và đi về nhà trọ của H. Trên đường về H rẽ vào hiệu thuốc mua 01 xi lanh nhựa, đầu có gắn kim tiêm để làm dụng cụ sử dụng ma túy. Khi về đến nhà trọ, H cất gói ma túy vừa mua được vào trong ví da màu đen sau đó đút vào túi quần phía sau bên phải và cất xi lanh nhựa vào túi quần phía trước bên trái đang mặc. Đến khoảng 01 giờ ngày 04/7/2023, trong lúc H đang ở nhà trọ thi bị lực lượng Công an bắt quả tang.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 81/CT-VKS, ngày 06/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành truy tố Lang Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay:

Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố là đúng.

Bị hại là ông Nguyễn Phú T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Phú C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Ông T xác nhận đã nhận lại chiếc xe môtô biển kiểm soát 99F1-X nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì khác. Anh C yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 1.500.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành duy trì công tố tại phiên toà hôm nay sau khi phân tích đánh giá tính chất của vụ án, các chứng cứ, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên tội danh như Cáo trạng đã truy tố. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 13 đến 19 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của 02 tội từ 22 đến 31 tháng tù.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu huỷ khối lượng ma túy còn lại sau giám định, 01 xi lanh nhựa, đầu có gắn kim tiêm, 01 ví da màu đen đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo phải trả lại anh Nguyễn Phú C số tiền 1.500.000 đồng. Miễn hình phạt bổ sung, tiền án phí hình sự và dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bà Nguyễn Thị C1 là người bào chữa cho bị cáo H xác định việc điều tra, truy tố và xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên do bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật còn hạn chế do vậy bà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến tính chất, mức độ, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để cho bị cáo hưởng mức án dưới mức thấp nhất nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản đầu thú, phù hợp lời khai của bị hại, người liên quan, phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở khẳng định:

Khoảng 11 giờ ngày 30/6/2023, tại nhà ông Nguyễn Phú H2 ở khu phố Tam Á, phường Gia Đ, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, Lang Văn H đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu trắng đen, biển kiểm soát 99F1-X trị giá 9.000.000 đồng của ông Nguyễn Phú T ở cùng khu phố. Sau đó H mang chiếc xe trên đến đặt làm tin để vay của anh Nguyễn Phú C ở cùng khu phố số tiền 1.500.000 đồng. Số tiền này H đã sử dụng để tiêu xài cá nhân hết.

Khoảng 01 giờ 00 phút, ngày 04/7/2023, tại nhà trọ H thuê của ông Phạm Đình H1 ở khu phố Tam Á, phường Gia Đ, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. H có hành vi tàng trữ trái phép 0,1106 gam ma túy, loại ma túy: Heroin mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.

Do vậy hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội đồng thời xâm phạm đến sở hữu riêng được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[2] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

Bị cáo tuổi đời còn trẻ, xuất thân từ gia đình lao động, bản thân chưa có tiền án, tiền sự nhưng không chịu làm ăn chân chính mà ham chơi đua đòi sử dụng ma túy dẫn đến phạm vào tội nghiêm trọng nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo. Tuy nhiên tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng miền núi đặc biệt khóa khăn (Theo Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng chính phủ) nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy khi lượng hình cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự để phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền sung công quỹ Nhà nước tuy nhiên do bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, là người dân tộc thiểu số sống ở xã đặc biệt khó khăn nên cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ.

[3] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại là ông Nguyễn Phú T đã nhận lại chiếc xe môtô biển kiểm soát 99F1- X. Đến nay ông T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì khác do vậy HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.

Đối với số tiền 1.500.000 đồng mà anh Nguyễn Phú C đã cho bị cáo vay, nay anh C yêu cầu bị cáo phải trả lại. Xét thấy yêu cầu của anh C là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

[4] Liên quan trong vụ án này còn có anh Nguyễn Phú C là người nhận đặt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu trắng đen, biển kiểm soát 99F1-X làm tin để cho H vay số tiền 1.500.000 đồng. Quá trình điều tra xác định anh C không biết chiếc xe H đặt là do trộm cắp được mà có. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với anh C là phù hợp.

Đối với người đàn ông tên T theo bị cáo khai là người bán ma túy cho bị cáo tại khu vực trường Đại học công nghiệp dệt may Hà N. Do bị cáo không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể của người đàn ông trên nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ nên không xem xét, xử lý là phù hợp.

[5] Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự để xử lý số vật chứng của vụ án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà hôm nay là có căn cứ. Cụ thể: Tịch thu tiêu hủy: Số lượng ma túy còn lại sau giám định, 01 xi lanh nhựa, đầu có gắn kim tiêm, 01 ví da màu đen đã qua sử dụng.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên do bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên căn cứ vào quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 của UBTVQH miễn cho bị cáo toàn bộ số tiền án phí này.

[7] Về hành vi tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lang Văn H phạm “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Lang Văn H 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội là 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 04/7/2023.

Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo phải trả lại anh Nguyễn Phú C số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: Số lượng ma túy còn lại sau giám định, 01 xi lanh nhựa đầu có gắn kim tiêm, 01 ví da màu đen đã qua sử dụng.

(Theo Biên bản giao nhận tài sản vật chứng ngày 12/10/2023 giữa Cơ quan CSĐT công an thị xã Thuận Thành với Chi cục thi hành dân sự thị xã Thuận Thành).

Về án phí: Áp dụng điểm Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ, khoản 1, điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH: Miễn cho bị cáo 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

38
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội trộm cắp tài sản số 90/2023/HS-ST

Số hiệu:90/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuận Thành - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 14/11/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về