TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
BẢN ÁN 65/2024/HS-ST NGÀY 10/09/2024 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Ngày 10/9/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xét xử vụ án hình sự thụ lý số 60/2024/TLST-HS ngày 12/8/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/QĐXXST-HS ngày 26/8/2024 đối với:
Bị cáo Nguyễn Văn D, sinh ngày 03/01/1981 tại Bình Phước; Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: ấp 3, xã Lộc Điền, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Hùng và bà Đỗ Thị Kim Cúc. Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: không; Tiền sự: không Nhân thân: Ngày 27/8/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh tuyên phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “trộm cắp tài sản” tại bản án số 60/2008/HSST.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/5/2024 cho đến nay có mặt tại phảiiên tòa.
*Bị hại: Nguyễn Thế D, sinh năm 1983 (vắng mặt) Địa chỉ: Ấp 1, xã Lộc Điền, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Lê Tấn Minh Tr, sinh năm 1991 (vắng mặt) Địa chỉ: Ấp 11B, xã Lộc Thiện, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
2. Lê Quốc T, sinh năm 1990 (vắng mặt) Địa chỉ: ấp Thanh Kiều, xã Thanh Lương, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phảiiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10h00 ngày 09/5/2024, sau khi ăn cơm tại Bếp tình thương của Trung tâm y tế huyện Lộc Ninh, D nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài, D bắt đầu đi bộ xung quanh khu vực bệnh viện để tìm kiếm tài sản trộm cắp. Khi đến Khoa cấp cứu (đang sửa chữa), D phát hiện 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu bạc – đen, biển kiểm soát: 93F1-150.xx do anh Nguyễn Thế D là chủ sở hữu dựng sát tường bên tay phải, chìa khóa cắm trên ổ khóa xe nên D tiến đến bật chìa khóa, đề nổ máy xe và chạy đi.
Sau đó, D điều khiển xe mô tô trên chạy đến nhà ông Thân Đức H và hỏi mượn cờ lê số 10 để tháo biển kiểm soát xe mô tô trên. Ông H chỉ chỗ cho D tự lấy cờ lê ở thùng sơn trước hiên nhà. D dùng cờ lê tháo biển số xe xong vứt ra bãi đất trống trước nhà ông H, rồi trả cờ lê về vị trí cũ. Xong việc D tiếp tục điều khiển xe mô tô trên đến tiệm sửa xe của anh Lê Tấn Minh Tr trú tại ấp 11B, xã Lộc Thiện, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước để bán xe. Tại đây, D hỏi anh Tr: "Có mua xe không?", Tr hỏi: "Xe của ai?", D trả lời: "Xe tao mua giờ tao bán", Tr hỏi D: "Xe bán bao nhiêu", D trả lời: "Xe bán 1.000.000đ (Một triệu đồng)", Tr tiếp tục hỏi: "Xe có giấy tờ gì không?", D trả lời: "Xe không có giấy tờ". Do xe không có giấy tờ nên Trkhông mua mà tiếp tục sửa xe, D ngồi tại tiệm của Tr được khoảng 30 phút thì D hỏi Tr: "Mày có mua không để tao đi về?", Tr trả lời: "Ngồi chơi xíu đi từ từ rồi về". Tr tiếp tục hỏi D: "Anh bán xe 1.000.000đ đúng không? Em kê giá lên được bao nhiêu em lấy nha", D đồng ý. Lúc này, có anh Lê Quốc T điều khiển xe ba gác đến tiệm của anh Trđể sửa chữa. Tại đây, Trhỏi T: "Anh có mua xe không?", T trả lời: "Xe đâu?", Trchỉ vào xe mô tô D trộm cắp được và nói "xe đó”. T đi đến xem xe mô tô và hỏi: "Xe có giấy tờ gì không? Sao không có biển số?, D trả lời: "Xe không có giấy tờ, biển số". Sau đó, T hỏi: "Có phải xe anh không?" D trả lời: "Xe của tôi", Tr nói: "Xe bán 2.000.000đ", Anh T đồng ý mua với giá trên. Anh T đưa cho Tr số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) gồm 04 tờ tiền mệnh giá 500.000đ và lấy xe mô tô vừa mua được chạy đi, còn xe ba gác thì để lại cho Tr sửa. Sau khi T đi, Tr đưa cho D số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), còn Tr lấy 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). D cầm tiền rồi bộ đến thị trấn Lộc Ninh tiêu xài cá nhân hết.
Đến khoảng 12 giờ 50 phảiút cùng ngày, anh Nguyễn Thế D phát hiện mình bị mất xe, anh Duy tự tìm kiếm đến ngày 16/5/2024 vẫn không tìm được nên anh Tr báo sự việc đến Cơ quan công an. Sau khi tiếp nhận tin báo, Công an thị trấn Lộc Ninh đã phải phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Ninh tiến hành làm việc với Nguyễn Văn D và người liên quan. Tại cơ quan Công an, Nguyễn Văn D thừa nhận hành vi phảiạm tội như đã nêu trên.
Tại kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐDGTSTTHS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện Lộc Ninh đã kết luận xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu bạc - đen, biển kiểm soát: 93F1-150.xx, số khung:
5C630DY767678; số máy: 5C63-767746 tại thời điểm bị chiếm đoạt trị giá 4.000.000đ (bốn triệu đồng).
Tại Bản cáo trạng số 54/CT-VKSLN ngày 12/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phảiiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản” Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h,s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.
Xử lý vật chứng:
- 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu bạc - đen, biển kiểm soát: 93F1-150.xx, số khung: 5C630DY767678; số máy: 5C63-767746, 01 (một) biển số xe mô tô số: 93F1 – 150.xx. Cơ quan CSĐT Công an huyện Lộc Ninh đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Nguyễn Thế D là chủ sở hữu hợp phảiáp nên đề nghị HĐXX không xem xét.
- 01 (một) cờ lê số 10 bằng kim loại, màu bạc, trên thân cờ lê có chữ: “YETL USA Standart”. Cơ quan CSĐT Công an huyện Lộc Ninh đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Thân Đức H nên đề nghị HĐXX không xem xét.
- Đối với số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) do anh Lê Tấn Minh Tr giao nộp. Đây là số tiền anh Tr giữ lại sau khi nhận tiền bán xe cho anh Lê Quốc T. Cơ quan CSĐT Công an huyện Lộc Ninh đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh T là chủ sở hữu hợp phảiáp nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại đã nhận lại xe nên không có yêu cầu gì.
- Đối với số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) trong số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) mà anh Lê Quốc T đã trả cho Lê Tấn Minh Tr để mua xe mô tô trên, anh Tr đã đưa cho bị cáo Nguyễn Văn D tiêu xài cá nhân nên không thu hồi được. Anh T không có yêu cầu bị cáo trả lại số tiền trên.
Bị cáo không tranh luận, không kêu oan.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo không có gì để nói..
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phảiiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh và Kiểm sát viên trong quá Trđiều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, Trtự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo quyền, lợi ích hợp phảiáp của bị cáo và những người tham gia tố tụng.
[2] Tại phảiiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phảiạm tội của mình, lời khai của bị cáo phảiù hợp với lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:
Vào khoảng 10h00 ngày 09/5/2024, tại Khoa cấp cứu thuộc Trung tâm y tế huyện Lộc Ninh Nguyễn Văn D đã lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu bạc – đen, biển kiểm soát: 93F1-150.xx trị giá 4.000.000 đồng của anh Nguyễn Thế D.
Lợi dụng khi không thấy người trông coi, xe mô tô có chía khóa cắm sẵn trên ổ khóa bị cáo đã nổ máy chạy đi bán, tội phảiạm đã hoàn thành từ thời điểm bị cáo nổ máy xe và chạy đi.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
- Đối với ông Thân Đức H là người cho D mượn cờ lê để gỡ biển số xe mô tô, tuy nhiên ông H không biết sự việc D trộm cắp xe mô tô trên nên không xử lý.
- Đối với ông Lê Tấn Minh Tr và Lê Quốc T: Quá Trmua bán xe mô tô trên cả hai đều không biết là tài sản do D phảiạm tội mà có nên không xử lý.
[3] Tại thời điểm thực hiện hành vi phảiạm tội cũng như tại phảiiên tòa công khai, bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên bị cáo chịu trách nhiệm bởi hành vi của mình.
[4]Hành vi của bị cáo xâm phảiạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được phảiáp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phảiương, bị cáo thực hiện hành vi phảiạm tội của mình với lỗi cố ý. Do đó, cần có một hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả bị cáo gây ra nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội và phảiòng ngừa chung.
[5] Mục đích phảiạm tội của bị cáo trộm tài sản để bán lấy tiền tiêu xài.
[6]Xét về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, vào năm 2008 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh tuyên phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “trộm cắp tài sản”. Bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phảiạm tội cho thấy ý thức chấp hành phảiáp luật của bị cáo rất kém. Bị cáo đã chấp hành án xong, tính đến lần phảiạm tội này thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và phảiạm tội thuộc trường hợp ít nghiệm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng cần có hình phạt nghiêm là tù có thời hạn một thời gian để tiếp tục cải tạo bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phảiiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tài sản chiếm đoạt có giá trị không lớn và đã được thu hồi trả lại cho bị hại do vậy bị cáo được Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Không có Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo như trong bản luận tội là phảiù hợp hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về vật chứng vụ án:
-Tài sản đã thu hồi trả lại cho ông Nguyễn Thế D và ông Thân Đức H nên HĐXX không xem xét.
- Đối với số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) do anh Lê Tấn Minh Tr giao nộp. Cơ quan CSĐT Công an huyện Lộc Ninh đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh T là chủ sở hữu hợp phảiáp nên HĐXX không xem xét.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất nên không có yêu cầu bồi thường. Ông Lê Quốc T cũng không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 1.000.000đ nên HĐXX không xem xét
[9] Về án phảií: Bị cáo phảiải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phảiạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h,s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 01(một) năm tù. Thời gian tính tù từ ngày 18/5/2024.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày tính từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phảií:
Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phảií và lệ phảií Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phảií hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phảiúc thẩm.
Đối với bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan do vắng mặt tại phảiiên tòa, thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định.
Bản án về tội trộm cắp tài sản số 65/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 65/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Lộc Ninh - Bình Phước |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 10/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về