Bản án về tội trộm cắp tài sản số 63/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI LỘC, TỈNH QUẢNG NAM

BẢN ÁN 63/2024/HS-ST NGÀY 10/11/2024 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 10 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 59/HSST ngày 16 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Thị Ngọc Tr; giới tính: Nữ; Sinh ngày: 17/8/1988, tại: thành phố Đà Nẵng; Nơi cư trú: khu Phước M, thị trấn Ái Ng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không;Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên cha: Phạm H (sinh năm 1958); họ và tên mẹ: Võ Thị Y (sinh năm 1963). Cùng trú tại: thôn Bồ B, xã Hòa P, huyện Hòa V, thành phố Đà Nẵng; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là còn thứ ba; Chồng: Nguyễn Đắc D, sinh năm 1987; có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2019. Tiền sự, tiền án: không; Biện pháp ngăn chặn: bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

-Người bị hại: Chị Nguyễn Thị Kim L, sinh năm: 2002, có mặt tại phiên toà.

Trú tại: Thôn Ô G, xã Đại C, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam

- Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Quang C, sinh năm: 2003, vắng. Bà Phan Thị T, sinh năm: 1966, vắng.

Chị Đỗ Đoàn Thanh K, sinh năm: 2003, có mặt tại phiên toà.

Cùng trú tại: Thôn Ô G, xã Đại C, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ ngày 23/6/2024, Phạm Thị Ngọc Tr đi dự tiệc cưới của một người bạn tại Nhà văn hóa thuộc thôn Ô G, xã Đại C, huyện Đại Lộc. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, khi còn lại một số khách cùng với gia đình, bạn bè hai bên nên mọi người ghép bàn lại để tiếp tục ngồi chơi. Tr ngồi chơi một lúc thì đứng dậy đi vệ sinh rồi quay lại bàn tiệc. Lúc này, Tr nhìn bên phải chỗ ngồi của mình có 01 túi xách nữ của chị Nguyễn Thị Kim L để trên ghế để lên sân khấu hát. Thấy vậy, Tr dùng tay mở túi xách ra, thấy bên trong túi xách có 01 ví nhỏ, Tr liền mở ví nhỏ ra phát hiện bên trong có số tiền 1.600.000 đồng và vàng gồm: 01 đôi bông tai bằng kim loại vàng tây 16K và 01 sợi dây chuyền bằng kim loại vàng tây 16K đựng trong túi nilon màu trắng đục nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Tr quan sát xung quanh không có ai để ý nên lén lút lấy tiền bỏ vào ốp lưng điện thoại của mình, còn túi nilon đựng vàng Tr cầm trên tay, dùng điện thoại di động che lại. Tr hỏi túi xách này của ai thì Nguyễn Quang C nói là của bạn em nên Tr cầm túi xách đưa cho C. Sau đó, Tr đứng dậy đi đến nhà của bà Phan Thị Tường đối diện cổng tiệc cưới để xin đi vệ sinh nhằm thay đồ và cất giấu túi nilon đựng vàng trong nhà vệ sinh. Khi Tr quay trở lại đến cổng tiệc cưới thì nghe mọi người nói có người bị mất tiền, vàng. Tr vẫn tiếp tục đi vào bên trong khu vực tiệc cưới nhưng đứng ở bàn khác. Lúc này, Tr biết sự việc liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản của mình nên Tr đi trở lại nhà bà T để xin đi vệ sinh. Khi vào nhà vệ sinh, Tr lấy số vàng trong túi nilon vừa cất giấu lúc nãy bỏ vào túi áo trước ngực còn túi nilon (bên trong sót lại 01 chiếc bông tai bằng kim loại vàng tây 16K) vứt qua cửa thông gió nhà vệ sinh. Tr quay lại khu vực tiệc cưới thì gặp Công an xã Đại C đến làm việc. Lúc này, Tr hoảng sợ nên lấy số vàng trong túi áo vứt bỏ tại khu vực sân Nhà văn hóa thôn Ô G, xã Đại C, huyện Đại Lộc. Sau đó, Công an xã Đại C mời Tr về trụ sở để làm việc. Tại đây, Tr khai nhận toàn bộ sự việc phạm tội như nêu trên.

Theo Kết luận định giá tài sản số 40/KL-HĐĐGTS ngày 01/8/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đại Lộc xác định: 02 chiếc bông tai bằng kim loại vàng tây 16K, trọng lượng mỗi chiếc bông tai là 01 phân 03 ly có giá trị 1.420.000 đồng; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại vàng tây 16K, 09 phân 09 ly có giá trị 4.853.000 đồng. Tổng giá trị là 6.273.000 đồng.

Về tạm giữ và xử lý tang vật: Cơ quan CSĐT Công an huyện Đại Lộc đã tạm giữ: 01 chiếc bông tai bằng kim loại màu vàng tây 16K, 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng tây 16K và số tiền 1.600.000 đồng. Đối với 01 chiếc bông tai mà Tr vứt tại khu vực Nhà văn hóa thôn Ô G, xã Đại C, huyện Đại Lộc thì Cơ quan CSĐT Công an huyện Đại Lộc đã tổ chức truy tìm nhưng không tìm thấy. Ngày 22/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đại lộc đã ra quyết định xử vật chứng số 611A/QĐ trả lại cho chị Nguyễn Thị Kim L toàn bộ tài sản trên.

Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên đủ cơ sở kết luận hành vi trên đây của Phạm Thị Ngọc Tr đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại bản cáo trạng số 56/CT-VKSĐL ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc truy tố bị cáo Phạm Thị Ngọc Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo, phân tích tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội về hành vi phạm tội của bị cáo và nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b; h; i; s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 tuyên phạt bị cáo Phạm Thị Ngọc Tr từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12(mười hai) tháng đến 18(mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và đã được bồi thường thiệt hại nên không có yêu cầu gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không bị ép cung, mớm cung, dùng nhục hình mà đã được Điều tra viên, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử(sau đây viết tắt là HĐXX) phổ biến về quyền, nghĩa vụ của mình trong từng giai đoạn tố tụng và tự khai báo về hành vi phạm tội của mình. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về tội danh và khung hình phạt: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm Thị Ngọc Tr đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên Tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 23/6/2024, tại Nhà văn hóa thôn Ô G, xã Đại C, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, Phạm Thị Ngọc Tr đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản gồm: số tiền 1.600.000 đồng, 02 chiếc bông tai bằng kim loại vàng tây 16K và 01 sợi dây chuyền bằng kim loại vàng tây 16K của chị Nguyễn Thị Kim L gây thiệt hại tổng giá trị là 7.873.000 đồng, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như cáo trạng của VKSND huyện Đại Lộc truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét về năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi thì thấy: Bị cáo Tr là người trưởng thành có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người bị hại nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương. Do đó, cần áp dụng xử lý nghiêm để có tác dụng giáo dục, phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã tự nguyện sữa chữa, bồi thường thiệt hại; phạm tội chưa gây thiệt hại hoặc tiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Người bị hại bãi nại, xin giải nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bi cáo còn nuôi con nhỏ. Vì vậy, HĐXX thống nhất áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b; h; i; s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS là phù hợp. HĐXX xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, việc không áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Do vậy, HĐXX cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo Phạm Thị Ngọc Tr là phù hợp với quy định pháp luật.

* Xử lý vật chứng: Vật chứng đã trả lại cho người bị hại và người bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị Ngọc Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b; h; i; s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.

+ Xử phạt: bị cáo Phạm Thị Ngọc Tr 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Thị Ngọc Tr cho UBND thị trấn Ái N, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

-Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo Phạm Thị Ngọc Tr phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

-Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo, người bị hại, người liên quan có mặt tại phiên tòa và trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, người liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

75
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội trộm cắp tài sản số 63/2024/HS-ST

Số hiệu:63/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đại Lộc - Quảng Nam
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:10/11/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về