TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH
BẢN ÁN 62/2024/HS-ST NGÀY 23/07/2024 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Ngày 23/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh B Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2024/TLST- HS ngày 20/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST- HS ngày 09/7/2024, đối với bị cáo:
Ng Đ C, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Khu phố K, phường N, thị xã T, tỉnh B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị Hậu, sinh năm: 1975; vợ, con : Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 08/3/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B Ninh; có mặt.
* Bị hại:
1. Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1989, ĐT: 0982866X, vắng mặt;
Địa chỉ: Khu phố K, phường N, thị xã T, tỉnh B. Ninh.
2. C ty Xây dựng M Đ (TNHH);
Địa chỉ: Thôn Nghĩa Chỉ, xã M Đ, huyện Tiên Du, tỉnh B Ninh;
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn C Hải, chức vụ: Phó Giám đốc, phụ trách bộ phận kỹ thuật, ĐT: 0913054X, vắng mặt;
Địa chỉ: Khu Hoà Đ, phường Võ C, thành phố B Ninh, tỉnh B Ninh;
*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1991, ĐT: 0356900X, có mặt;
2. Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1982 (là chồng chị Q), có mặt;
Cùng địa chỉ: Thôn Điện T, xã Nguyệt Đ, thị xã Thuận Thành, tỉnh B
3. Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1975 (là bố bị cáo C), ĐT: 0378277X, có mặt;
Địa chỉ: Khu phố K, phường N, thị xã T, tỉnh B.
4. Anh Đ Văn Đ, sinh năm 1980, ĐT: 0979017398, có mặt;
Địa chỉ: Khu phố Tam A, phường Gia Đ, thị xã Thuận Thành, tỉnh B Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ng Đ C được anh Nguyễn Văn M, trú tại Khu phố K, phường N, thị xã T, tỉnh B thuê trông nom trang trại nuôi gà (trang trại sát nhà C). Do trước đây anh M kinh doanh hàng phụ kiện inox, sau đó không kinh doanh nữa nên số hàng tồn anh M xếp tại kho chứa ở trang trại nuôi gà của mình. Quá trình trông nom, C phát hiện kho chứa đồ gồm các phụ kiện inox đựng bên trong các bao tải. Vì vậy, C nảy sinh ý định trộm cắp số phụ kiện inox mang bán lấy tiền ăn tiêu. Trong khoảng thời gian từ 10/12/2023 đến ngày 02/01/2024 C đã thực hiện 02 vụ trộm cắp phụ kiện inox của anh M. Cụ thể:
Khoảng 01 giờ ngày 10/12/2023, để tránh bị anh M phát hiện, C đã ngắt cầu dao điện tại trang trại mục đích để camera an ninh dừng hoạt động. Sau đó C dùng tay kéo lê khoảng 52 bao tải đựng phụ kiện inox, mỗi bao có khối lượng khác nhau khoảng trên dưới 20 kg, tổng khối lượng 1.044 kg gồm: goong các loại, bản lề ô tô, trụ xoay 38, mặt bích, chốt chân các loại, cối 42, tai khóa, vít, chân đế, tôn huỳnh, nửa cầu ở trại gà của M chuyển đến vị trí bãi đất trống giáp ranh với nhà C để. Do hàng rào bằng tôn ngăn cách giữa nhà anh M và nhà C có khoảng trống kích thước rộng 1,7m, cao 0,5 m nên C đã vận chuyển số bao tải chứa inox qua khoảng trống và để ở bãi đất trống sau nhà C. C vận chuyển số tài sản trộm cắp đến khoảng 4 giờ cùng ngày thì xong và về nhà ngủ. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, C dùng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 34L1-9565 do C mượn của anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1988 ở cùng khu phố để làm phương tiện đi lại, sau đó chở 02 bao tải phụ kiện inox đến cửa hàng thu mua sắt vụn của chị Nguyễn Thị Q để bán. C nói với chị Q là “em có ít hàng lỗi muốn bán”. Do cửa hàng thu mua sắt vụn của chị Q ở cùng khu phố Kênh, phường Ninh Xá và trước đó 03 lần anh M đã đến bán khoảng 06 tạ phụ kiện inox bị lỗi cho chị Q với giá sắt vụn, chị Q biết C làm thuê cho anh M nên nghĩ C bán hộ anh M, chị Q đồng ý mua, trả C với giá như cũ là 9.000 đồng/01 kg. C đồng ý. Chị Q cân được 30 kg, trả công số tiền 270.000 đồng, C ăn tiêu hết. Sau đó, mỗi khi cần tiền ăn tiêu, C lại tiếp tục chở số phụ kiện trên đến bán cho chị Q. C bán khoảng 8-9 lần, tổng số 1.044 kg x 9.000 đồng/kg = 9.396.000 đồng, C đã ăn tiêu hết.
Sau khi bán hết số tài sản đã trộm cắp, ngày 02/01/2024, C tiếp tục trộm cắp 20 thanh lập là nặng (10 kg), cất giấu tại bãi đất trống vị trí giáp danh giữa đất nhà C và trại gà của anh M để sau đó mang đi bán, khi chưa kịp mang đi bán thì bị anh M phát hiện. Khi bị phát hiện, C đã khai nhận với anh M về việc trộm cắp ngày 10/12/2023 và đem bán cho chị Q để lấy tiền ăn tiêu.
Ngày 02/01/2024, sau khi biết số phụ kiện Inox mua của C là tài sản do C trộm cắp mà có, chị Q đã mang 1.044 kg phụ kiện inox đến trả anh M. Anh M cho rằng số tài sản mình mất giá trị khoảng 1.000.000.000 đồng nên yêu cầu các bên bồi thường. Ngày 06/01/2024, để tránh bị liên lụy từ việc C trộm cắp nên anh Nguyễn Văn B (là chồng chị Q) và ông Nguyễn Văn Th (là bố C) đã cùng C đến nhà anh M tự nguyện bồi thường số hàng còn thiếu cho M là 200.000.000 đồng trong đó của anh B 150.000.000 đồng và của ông T 50.000.000 đồng. Anh B đã tự viết bản cam kết đề nghị anh M ký với nội dung đã nhận đủ số hàng bị mất, giá trị hàng bị mất còn thiếu, sẽ không tố giác, trình báo yêu cầu xử lý hành vi của C. Sau đó, do mâu thuẫn giữa anh M và C nên ngày 20/02/2024, anh Nguyễn Văn M đã làm đơn trình báo Công an thị xã Thuận Thành về việc bị trộm cắp tài sản.
Ngày 20/2/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ 1044 kg phụ kiện inox các loại của anh M do chị Q trả lại để phục vụ điều tra.
Ngày 01/03/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận Thành ra Yêu cầu định giá tài sản số: 488 yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Thuận Thành định giá đối với số vật chứng đã thu giữ.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 17/KL – HĐĐG ngày 07/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Thuận Thành kết luận:
Tại thời điểm ngày 10/12/2023 giá trị tài sản như sau:
STT | Tên sản phẩm | Số lượng | Đơn giá (đồng) | Thành tiền (đồng) |
1 | Goong 25 | 700 chiếc | 17.000 | 11.900.000 |
2 | Goong 22 | 1200 chiếc | 14.000 | 16.800.000 |
3 | Goong 19 | 600 chiếc | 27.000 | 16.200.000 |
4 | Goong 16 | 1600 chiếc | 7.000 | 11.200.000 |
5 | Bản lề ô tô | 200 chiếc | 30.000 | 6.000.000 |
6 | Trụ xoay 38 | 173 chiếc | 50.000 | 8.650.000 |
7 | Mặt Bích | 152 chiếc | 3.000 | 456.000 |
8 | Chốt chân 25 | 47 chiếc | 70.000 | 3.290.000 |
9 | Chốt chân 16 | 55 chiếc | 30.000 | 1.650.000 |
10 | Cối 42 | 30 chiếc | 52.000 | 1.560.000 |
11 | Tai khóa | 500 chiếc | 4.000 | 2.000.000 |
12 | Vít | 12.000 chiếc | 1.500 | 18.000.000 |
13 | Chân đế | 155 chiếc | 800 | 124.000 |
14 | Tôn Huỳnh | 138,5 Kg | 40.000 | 5.540.000 |
15 | Nửa cầu | 12,5 Kg | 65.000 | 812.500 |
Tại thời điểm ngày 02/01/2024 giá trị tài sản như sau:
STT | Tên sản phẩm | Số lượng | Đơn giá (đồng) | Thành tiền (đồng) |
1 | Lập là | 10 Kg | 68.000 | 680.000 |
Giá trị tài sản bị chiếm đoạt ngày 10/12/2023 là: 104.182.500 đồng. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt ngày 02/01/2024 là: 680.000 đồng. Tổng giá trị tài sản cần định giá là: 104.862.500 đồng.
Ngoài ra trong quá trình điều tra, ngày 07/3/2024, anh Nguyễn C Hải, Chức vụ: Phó Giám đốc C ty Xây dựng M Đ (TNHH) phụ trách quản lý, điều hành dự án xây dựng trường THCS Vũ Kiệt, phường Hồ, thị xã Thuận Thành trình báo về việc ngày 07/3/2024, tại tầng thượng của trường bị trộm cắp nhiều dây ống đồng điện lạnh điều hòa.
Kết quả điều tra xác định: C được thuê làm sơn tường tại trường. Ngày 07/3/2024 đoàn thợ sơn nghỉ thi công, công trường không có ai làm việc nên C nảy sinh ý định trộm cắp dây đồng lắp tại hệ thống điều hòa trên tầng thượng của trường. Khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, C mang theo 02 bao tải, trèo lên tầng thượng, dùng tay bẻ 98 đoạn dây ống đồng điện lạnh (dài ngắn khác nhau) của một số chiếc điều hòa cho vào 02 bao tải, xách đi bán. Khi đến cổng phụ của trường Vũ Kiệt, C bị ông Nguyễn C Th, sinh năm 1964 là bảo vệ của trường phát hiện. Quá trình bắt quả tang ông Th yêu cầu C mang 02 bao tải chứa dây đồng trên vào trong trường trả lại nhưng C không mang trả mà phóng xe đi. C mang số tài sản trên đến cửa hàng thu mua phế liệu của anh Đ Văn Đ bán. Anh Đ không biết về nguồn gốc số dây ống đồng trên nên đồng ý mua giá sắt vụn 170.000 đồng/01 kg. Anh Đ cân được 24,5 kg và trả cho C số tiền 4.160.000 đồng, sau đó C đã ăn tiêu hết.
Ngày 07/3/2024, sau khi biết được tài sản do C trộm cắp mà có, anh Đ đã giao nộp 02 bao tải đựng các thanh ống đồng có kích thước dài ngắn khác. Quá trình kiểm đếm xác định tài sản gồm: 98 đoạn ống dây đồng điện lạnh loại to ɸ 16 chu vi 05 cm tổng độ dài 66,8 m; 95 đoạn ống dây đồng điện lạnh loại nhỏ ɸ 6 chu vi 02 cm tổng độ dài 58,7 m có tổng khối lượng 24,5 kg cho Cơ quan Cảnh sát điều tra.
Ngày 10/4/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận Thành đã ban hành yêu cầu định giá số: 1168 đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Thuận Thành định giá đối với số vật chứng nêu trên.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 18/KL - HĐĐG ngày 11/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Thuận Thành, kết luận:
“66,8 m ống dây đồng điện lạnh loại ɸ 16 có giá là: 80.000 đồng/01 m = 3.420.160 đồng; 58,7 m ống dây đồng điện lạnh loại ɸ 6 có giá là: 25.000 đồng/01 m = 939.200 đồng; Tổng giá trị là 4.359.360 đồng”.
Ngày 08/3/2024, Ng Đ C bị bắt tạm giam. Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, C đã thành khẩn khai nhận các hành vi mình đã thực hiện.
*. Tại cáo trạng số: 65/CT-VKS-TT ngày 20/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành đã truy tố Ng Đ C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
*. Tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Trong quá trình điều tra, các bị hại là anh Nguyễn Văn M và C ty Xây dựng M Đ (TNHH) xác định tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt và đã nhận lại cũng như không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì;
Tại phiên toà, chị Nguyễn Thị Q xác định ông Nguyễn Văn Th là bố bị cáo đã bồi thường cho chị số tiền 10.000.000 đồng đã bỏ ra để mua số phụ kiện Inox, nay chị không yêu cầu bồi thường gì thêm;
Ông Nguyễn Văn Th là bố bị cáo là người đã bồi thường thay cho bị cáo, nay không yêu cầu các bị cáo phải bồi hoàn lại;
Ngoài ra, ông T không yêu cầu bị hại là anh Nguyễn Văn M phải trả lại số tiền 50.000.000 đồng và anh B cũng không yêu cầu anh M phải trả lại số tiền 150.000.000 đồng (là số tiền anh M nhận của ông T và anh B bồi thường thiệt hại số hàng còn thiếu cho anh M theo bản cam kết ngày 06/01/2024) cũng như không đề nghị xem xét về hành vi cưỡng đoạt tài sản (số tiền 200.000.000 đồng trên) của anh M.
Còn anh Đ Văn Đ yêu cầu bị cáo C phải trả số tiền 4.160.000 đồng đã bỏ ra mua số dây đồng.
*. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Luận tội và đề nghị như sau:
- Tuyên bố bị cáo Ng Đ C phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b và s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo C từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, được tính từ ngày 08/3/2024.
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ vào Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự; Điều 48 của Bộ luật Hình sự .
Buộc bị cáo Ng Đ C phải bồi thường thiệt hại cho anh Đ Văn Đ số tiền 4.160.000 đồng.
*. Sau khi nghe bản luận tội của Kiểm sát viên, các bị cáo không có ý kiến tranh luận và bào chữa, mà thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là đúng như bản luận tội đã nêu.
Lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Nhận thấy, tại phiên toà hôm nay bị cáo Ng Đ C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với nội dung bản cáo trạng, lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng đã được thu hồi và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở để xác định: Trong khoảng thời gian từ 10/12/2023 đến ngày 07/3/2024, Ng Đ C đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản. Cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Ngày 10/12/2023, tại trang trại nuôi gà của anh Nguyễn Văn M tại Khu phố K, phường N, thị xã T, tỉnh B, C đã trộm cắp 1044 kg phụ kiện Inox gồm: Goong 25: 700 chiếc; Goong 22: 1200 chiếc; Goong 19: 600 chiếc; Goong 16:
1600 chiếc; Bản lề ô tô: 200 chiếc; Trụ xoay 38: 173 chiếc; Mặt Bích: 152 chiếc; Chốt chân 25: 47 chiếc; Chốt chân 16: 55 chiếc; Cối 42: 30 chiếc; Tai khóa: 500 chiếc; Vít: 12.000 chiếc; Chân đế: 155 chiếc; Tôn Huỳnh: 138,5 Kg; Nửa cầu: 12,5 Kg. Tổng trị giá tài sản C chiếm đoạt của anh M là 104.182.500 đồng. Sau khi trộm cắp, C đã cất giấu tại khu đất trống sau nhà của mình rồi mang bán dần cho chị Nguyễn Thị Q ở cùng khu phố khoảng 10 lần được tổng số tiền 9.396.000 đồng và ăn tiêu hết.
Vụ thứ 2: Ngày 07/3/2024, tại công trường xây dựng trường THCS Vũ Kiệt, phường H, thị xã Thuận Thành, tỉnh B Ninh, C đã thực hiện hành vi trộm cắp 66,8 m dây đồng điện lạnh loại ɸ 16 trị giá 3.420.160 đồng; 58,7 m dây đồng điện lạnh loại ɸ 6 trị giá: 939.200 đồng; Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 4.359.360 đồng của C ty Xây dựng M Đ (TNHH). Sau khi trộm cắp, C đã mang đến bán cho anh Đ Văn Đ được số tiền 4.160.000 đồng và ăn tiêu hết.
Tổng giá trị tài sản C chiếm đoạt của những bị hại là: 108.342.500 đồng.
Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, với mục đích là mong muốn chiếm đoạt được tài sản để lấy tiền ăn tiêu. Khi thực hiện tội phạm, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo luật định. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành đã truy tố.
[3]. Về nhân thân, tính chất, mức độ của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Nhận thấy, bị cáo đã thực hiện 02 hành vi trộm cắp tài sản nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, tính chất và mức độ tội phạm của bị cáo gây ra là nguy hại lớn cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, gây bức xúc, phẫn nộ và hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần phải có mức hình phạt thật nghiêm tương ứng, cho bị cáo cách ly xã hội một thời gian, để có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng, răn đe phòng ngừa chung, không tạo ra tiền lệ xấu, ngăn chặn sự gia tăng tội phạm và góp phần làm trong sạch, lành mạnh đời sống xã hội và niềm tin vào pháp luật của nhân dân.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (chị Q); ngoài ra, bị cáo tham gia nghĩa vụ quân sự nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b và s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì còn có thể phạt tiền đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[5]. Về việc bồi thường thiệt hại:
Xét thấy, anh Đ Văn Đ yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 4.160.000 đồng đã bỏ ra mua số dây đồng là phù hợp nên cần chấp nhận.
Còn đối với các trường hợp:
Do chị Nguyễn Thị Q xác định ông Nguyễn Văn Th là bố bị cáo đã bồi thường cho chị số tiền 10.000.000 đồng đã bỏ ra để mua số phụ kiện Inox, nay chị không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập xem xét.
Do ông Nguyễn Văn Th là bố bị cáo là người đã bồi thường thay cho bị cáo, nay không yêu cầu bị cáo phải bồi hoàn lại nên không đề cập xem xét.
Do ông T không yêu cầu bị hại là anh Nguyễn Văn M phải trả lại số tiền 50.000.000 đồng và anh B cũng không yêu cầu anh M phải trả lại số tiền 150.000.000 đồng (là số tiền anh M nhận của ông T và anh B bồi thường thiệt hại số hàng còn thiếu cho anh M theo bản cam kết ngày 06/01/2024) nên không đề cập xem xét.
Do các bị hại là anh Nguyễn Văn M và C ty Xây dựng M Đ (TNHH) xác định đã nhận lại tài sản mà bị cáo chiếm đoạt cũng như không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên không đề cập xem xét.
[6]. Về việc xử lý vật chứng:
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 34L1-9565. Quá trình điều tra xác định chiếc xe thuộc quyền sở hữu của ông Phạm Văn K, sinh năm 1964 trú tại thôn Nhân K, xã Hùng T, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Ông K không biết việc anh Q cho C mượn xe để đi lại. Vì vậy CQĐT không tạm giữ chiếc xe trên là phù hợp. Do đó, không đề cập xem xét.
Ngày 10/5/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh M 1044 kg phụ kiện Inox các loại; trả cho anh Nguyễn C Hải, đại diện C ty Xây dựng M Đ (TNHH) toàn bộ số dây đồng bị cáo đã trộm cắp. Do đó, không đề cập xem xét.
[7]. Về các vấn đề khác:
Đối với anh Nguyễn Văn Q là người cho C mượn xe, anh Q không biết C mượn xe chở tài sản trộm cắp đi tiêu thụ nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp. Do đó, không đề cập xem xét.
Đối với chị Q và anh Đ khi mua tài sản không biết nguồn gốc tài sản là do C trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận Thành không xem xét xử lý là phù hợp. Do đó, không đề cập xem xét.
Đối với tố giác của ông T và anh B về hành vi cưỡng đoạt tài sản của anh M: Xét thấy, tại bản cam kết thể hiện nội dung số tiền 200.000.000 đồng là tiền ông T và anh B tự nguyện bồi thường số hàng do C trộm cắp còn thiếu do chưa thu hồi được cho anh M, đây là sự tự nguyện thỏa thuận giữa hai bên. Ông T trình bày việc bị anh M đe dọa trước sự chứng kiến của anh Nguyễn Văn B, anh Nguyễn Văn Đ. Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã ghi lời khai của anh Đ, anh B nhưng chưa có căn cứ để xác định anh M đã cưỡng ép, đe dọa ông T. Cơ quan điều tra đã tách ra để tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ sẽ xem xét xử lý sau. Ngoài ra, tại phiên toà thì ông T và anh B không đề nghị xem xét về hành vi cưỡng đoạt tài sản (số tiền 200.000.000 đồng trên) của anh M. Do đó, không đề cập xem xét.
Đối với yêu cầu của anh M về số tài sản bị chiếm đoạt lớn hơn số tài sản đã được thu giữ: Xét thấy, quá trình điều tra, anh M không trình bày được đặc điểm, số lượng, các giấy tờ, nguồn gốc liên quan đến việc nhập hàng, xuất hàng, không có cơ sở xác định số lượng hàng tồn, không có căn cứ xác định C đã trộm cắp số tài sản trên nên chưa có căn cứ để xem xét xử lý. CQĐT đã tách ra để tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ sẽ xem xét xử lý sau. Do đó, không đề cập xem xét.
Đối với số hàng khoảng 30 – 40 kg phụ kiện chị Q khai đã bán cho 01 khách hàng không quen biết, không thu hồi được thì do chị Q, bị cáo C, anh M đều không trình bày được đặc điểm, số lượng, giá trị tài sản nên không có căn cứ xem xét, xử lý. Do đó, không đề cập xem xét.
Đối với hành vi trộm cắp tài sản ngày 02/01/2024 của Ng Đ C, do tài sản trộm cắp giá trị dưới 2.000.000 đồng nên Công an thị xã Thuận Thành đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với C là phù hợp. Do đó, không đề cập xem xét.
[8]. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b và s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Điều 329 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
1.1. Tuyên bố bị cáo Ng Đ C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1.2. Xử phạt bị cáo Ng Đ C 03 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, được tính từ ngày 08/3/2024.
Tiếp tục tạm giam bị cáo với thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, để đảm bảo việc thi hành án.
2. Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ vào Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự; Điều 48 của Bộ luật Hình sự .
Buộc bị cáo Ng Đ C phải bồi thường thiệt hại cho anh Đ Văn Đ số tiền 4.160.000 đồng.
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm; tổng cộng buộc bị cáo phải chịu 500.000 đồng tiền án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./
Bản án về tội trộm cắp tài sản số 62/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 62/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Thuận Thành - Bắc Ninh |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 23/07/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về