Bản án về tội trộm cắp tài sản số 59/2023/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KINH MÔN, TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 59/2023/HS-ST NGÀY 28/06/2023 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 28 tháng 6 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm tại Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương, Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 56/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Hoàng Quốc Đ, sinh năm 1988 tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Khu dân cư L, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Xuân D và bà Nguyễn Thị B; tiền án: Không.

Tiền sự: Tại Quyết định số 25/2020/QĐ-TA ngày 15/9/2020, Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Quốc Đ, thời gian chấp hành là 21 tháng; chấp hành xong ngày 09/4/2022, chưa được xóa.

Nhân thân:

Tại Bản án số 39/2007/HSST ngày 28/9/2007, Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xử phạt Hoàng Quốc Đ 48 tháng tù về tội “Cướp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2009, đã được xóa.

Tại Bản án số 49/2017/HSST ngày 09/8/2017, Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xử phạt Hoàng Quốc Đ 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2019, đã được xóa.

Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 109/QĐ-XPHC ngày 22/6/2020, Công an thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xử phạt Hoàng Quốc Đ 3.500.000 đồng về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản người khác”; chấp hành xong ngày 06/7/2020, đã được xóa.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/3/2023 đến ngày 16/3/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; có mặt tại điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương.

- Bị hại: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 2000 và anh Nguyễn Việt H, sinh năm 1990; địa chỉ: Khu dân cư S, phường A, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 08/3/2023, Hoàng Quốc Đ đi bộ từ nhà đến Khu dân cư S, phường A, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương chơi. Đến khoảng 16 giờ 20 phút cùng ngày, Đ đi qua nhà vợ chồng chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Việt H thấy cổng khép, không khóa, trong sân có dựng 01 xe đạp điện nhãn hiệu DETECH Espero 133i, chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa xe (xe của vợ chồng chị T). Đ mở cổng đi vào trong sân, dắt xe đi ra ngoài đường rồi vặn mở khóa xe điều khiển xe đi đến xã Đại Bản, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng bán xe cho một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ được số tiền 1.000.000 đồng và đã chi tiêu cá nhân hết. Ngày 09/3/2023, chị Hoàng Thị T có đơn trình báo Công an phường A. Ngày 10/3/2023, Hoàng Quốc Đ đến Công an phường A đầu thú và đã khai nhận hành vi nêu trên.

Kết luận định giá tài sản số: 06/KL-HĐĐGTS ngày 10/3/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND thị xã Kinh Môn kết luận: 01 chiếc xe đạp điện (Nhãn hiệu: DETECH Espero 133i, mua mới năm 2015, sản xuất tại: Việt Nam), giá trị còn lại tại thời điểm tháng 3 năm 2023 là: 2.916.667 đồng (hai triệu chín trăm mười sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bẩy đồng).

Cáo trạng số: 47/CT-VKS ngày 18/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Hoàng Quốc Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa: VKSND thị xã Kinh Môn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38, khoản 1 Điều 48, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS; các điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự (BLDS); điểm c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS); Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị tuyên bố bị cáo Hoàng Quốc Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Hoàng Quốc Đ từ 07 đến 10 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 10/3/2023. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 2.916.667 đồng làm tròn theo đề nghị của bị hại là 2.900.000 đồng. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo nam dài tay (dạng áo bò) màu xanh, 01 chiếc quần dài nam màu ghi đen, 01 đôi giày nam màu xanh đen sọc trắng, 01 chiếc mũ màu đen đều đã qua sử dụng. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự và phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Quá trình điều tra và tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị hại xác định bị cáo chưa bồi thường thiệt hại gì và yêu cầu bị cáo phải bồi thường giá trị tài sản đã chiếm đoạt làm tròn là 2.900.000 đồng (hai triệu chín trăm nghìn đồng).

Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, xác định quyết định truy tố và luận tội của VKSND thị xã Kinh Môn đối với bị cáo là đúng và nói lời sau cùng đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện được xác định là hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 08/3/2023, tại Khu dân cư S, phường A, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của chủ sở hữu, để tài sản không có người trông coi, Hoàng Quốc Đ đã lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu DETECH Espero 133i trị giá 2.916.667 đồng (hai triệu chín trăm mười sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bẩy đồng) của vợ chồng chị Hoàng Thị T, anh Nguyễn Việt H.

[3] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý lén lút thực hiện, giá trị tài sản chiếm đoạt là 2.916.667 đồng nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Như vậy, VKSND thị xã Kinh Môn truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bản thân bị cáo có nhân thân xấu, có một tiền sự bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đã hai lần bị kết án tuy đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tự tu dưỡng bản thân nên cần thiết phải có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội một thời gian thì mới đủ tác dụng giáo dục, trừng trị, răn đe và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã đầu thú, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã chiếm đoạt của vợ chồng chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Việt H 01 chiếc xe đạp điện có giá trị là 2.916.667 đồng, bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho bị hại giá trị tài sản như trên làm tròn là 2.900.000 đồng nên cần buộc bị cáo phải bồi thường số tiền 2.900.000 đồng (hai triệu chín trăm nghìn đồng) cho bị hại là phù hợp với khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 589 của Bộ luật Dân sự.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc áo nam dài tay (dạng áo bò) màu xanh, 01 chiếc quần dài nam màu ghi đen, 01 đôi giày nam màu xanh đen sọc trắng, 01 chiếc mũ màu đen bị cáo giao nộp ngày 10/3/2023 là tài sản của bị cáo, tuy không phải là vật chứng nhưng bị cáo xác định không còn giá trị sử dụng và đề nghị tịch thu tiêu hủy nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm c khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; 01 USB nhãn hiệu Kingston màu đen 08 GB có lưu video hình ảnh liên quan đến vụ án mà chị Hoàng Thị T giao nộp là dữ liệu điện tử để chứng minh tội phạm nên cần tiếp tục quản lý trong hồ sơ vụ án.

[9] Về án phí: Bị cáo phạm tội và phải bồi thường thiệt hại nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[10] Trong vụ án này, người đàn ông đã mua chiếc xe đạp điện nêu trên tại xã Đại Bản, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng, quá trình điều tra không xác định được người này là ai và cũng không truy tìm được chiếc xe này nên không có căn cứ xử lý.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106, các điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 586, các điều 589, 357, 468 của Bộ luật Dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 33/2021/QH15 ngày 12 tháng 11 năm 2021 của Quốc hội về tổ chức phiên tòa trực tuyến.

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Quốc Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Quốc Đ 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 10/3/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Quốc Đ phải bồi thường cho vợ chồng chị Hoàng Thị T sinh năm 2000, anh Nguyễn Việt H sinh năm 1990; địa chỉ: Khu dân cư S, phường A, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương số tiền 2.900.000 đồng (hai triệu chín trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành số tiền trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành tương ứng với thời gian chậm thi hành. Lãi suất do chậm thi hành theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc áo nam dài tay (dạng áo bò) màu xanh; 01 chiếc quần dài nam màu ghi đen; 01 đôi giày nam màu xanh đen sọc trắng; 01 chiếc mũ màu đen đều đã qua sử dụng. (Hiện các vật chứng này đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kinh Môn theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thị xã Kinh Môn và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kinh Môn ngày 22 tháng 5 năm 2023).

Tiếp tục quản lý trong hồ sơ vụ án 01 USB nhãn hiệu Kingston màu đen 08 GB có lưu video hình ảnh liên quan đến vụ án mà chị Hoàng Thị T đã giao nộp.

4. Về án phí: Bị cáo Hoàng Quốc Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

80
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội trộm cắp tài sản số 59/2023/HS-ST

Số hiệu:59/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Kinh Môn - Hải Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:28/06/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về